|
Quyển Thứ Tư
Phẩm Thứ Mười Lăm -
Công Ðức Tùy Hỷ
-----------------------------------
Khi đó Thế Tôn lại
bảo Bồ tát Hiền Hộ:
Nầy Hiền Hộ! Đại Bồ tát nào thành tựu đủ bốn môn tùy
hỷ tức sẽ đắc tam muội Hiện tiền nầy, mau hoàn mãn
trí giác vô thượng. Những gì là bốn môn tùy hỷ? Đại
Bồ tát nên nghĩ như vầy như tất cả các đấng Như lai,
Ứng cúng, Đẳng chánh giác đời quá khứ, khi xưa lúc
ngài hành đạo Bồ tát đều nhơn nơi sự tùy hỷ nên đắc
tam muội. Do đắc tam muội nên được đa văn, do đa văn
nên chóng thành tựu trí giác vô thượng. Giờ đây ta
cũng nên theo như vậy, nhơn nơi tùy hỷ đắc tam muội
để được đa văn nhờ đó mau thành tựu trí giác vô
thượng. Đó là tụ công đức tùy hỷ thứ nhứt của Bồ tát.
Nầy Hiền Hộ! Đại bồ tát lại nghĩ như tất cả đấng Như
lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác đời vị lai lúc hành
đạo Bồ tát đều nhơn tùy hỷ đắc tam muội. Do đắc tam
muội nên được đa văn, do đa văn nên chóng thành tựu
trí giác vô thượng. Giờ đây ta cũng nên hành động
như thế sẽ nhơn sự tùy hỷ nầy đắc tam muội được đa
văn nhờ đó mau thành tựu trí giác vô thượng bồ đề.
Đây là tụ công đức tùy hỷ thứ hai của đại Bồ tát.
Nầy Hiền Hộ! Đại Bồ tát nên nghĩ hiện tại trong vô
lượng vô biên vô số thế giới tất cả các đức Như lai,
Ứng Cúng, Chánh đẳng giác lúc xưa hành đạo Bồ tát
cũng nhờ tùy hỷ đắc tam muội, do đắc tam muội nên
được đa văn, do đa văn nên hiện đều thành tựu trí
giác vô thượng bồ đề. Như ta ngày nay cũng nên tùy
hỷ vì để mau chứng bồ đề. Đây là tụ công đức tùy hỷ
thứ ba của đại Bồ tát.
Nầy Hiền Hộ! Đại Bồ tát nên nghĩ ta đã ngưỡng học
theo tất cả ba đời các đức Như lai, các ngài trong
thuở xa xưa lúc hành đạo Bồ tát đều nhơn tùy hỷ đắc
tam muội, đều nhơn tam muội đắc đa văn, đều nhơn đa
văn mà được thành Phật. Giờ đây ta đem công đức tùy
hỷ nầy nguyện hướng về tất cả chúng sanh đồng sanh
tùy hỷ, đồng đắc tam muội, đồng được đa văn, đồng
thành chánh giác. Đây là tụ công đức tùy hỷ thứ tư
của đại Bồ tát.
Nầy Hiền Hộ! Lại nữa Bồ tát đã thành tựu tùy hỷ, tam
muội, đa văn chóng thành chánh giác như thế, đem cả
công đức nầy đều ban cho chúng sanh đồng hồi hướng
về vô thượng bồ đề. Công đức như thế thật khó mà đo
lường nổi. Giờ đây ta nói, một phần ít cho các ông
nghe, ông nên nghe kỹ và khéo nhớ.
Nầy Hiền Hộ! Thí dụ như có kẻ nghĩ mình sống được
trăm tuổi, thân hắn nhẹ nhàng khí lực mạnh mẽ đi
thon thót khác gì chim bay, kẻ nầy có đủ khả năng đi
cùng khắp hết cả một thế giới. Trước tiên hắn đi hết
phương Đông, kế đến Nam, Tây, Bắc, bốn gốc, phương
trên phương dưới hết cả mười phương không sót nơi
nào. Hiền Hộ! Ông nghĩ sao? Giả sử có kẻ hết sức
thông minh ra đời giỏi toán số có thể tính được kẻ
nầy đi qua những đường xá đất đai xa gần dài ngắn
không?
Thưa không thể được!
Có thể so sánh được không?
Thưa không!
Có thể quán sát không?
Thưa không!
Có thể suy nghĩ được không?
Thưa không!
Chỉ mới vừa đi mà đã thế rồi, nếu như kẻ nầy đi trọn
trăm năm nhanh chân qua lại khắp cả vô tận thế giới
ở mười phương, thì kẻ thông minh có thể dùng toán số
để tính ra được không?
Thưa Thế Tôn! Lại còn không thể được vì rằng mới đi
một thế giới đã tính không ra đường xá đi qua vắn
dài thế nào, thì làm sao tính được kẻ kia đã tận lực
đi khắp mười phương vô số thế giới! Những đường sá
do tuần trải qua số đó nhiều ít nếu biết được họa
may chỉ có một mình Thế Tôn và đại đệ tử Xá Lợi Phất
cùng các bậc bất thối đại Bồ tát.
Đúng như thế! Đúng như thế! Hôm nay ta nói cho ông
nghe: Nếu có thiện nam thiện nữ nào kính tin đem của
cải châu báu chất đầy cả thế giới mà kẻ kia đã đi
qua để dùng hiến dâng lên mười phương chư Phật họ sẽ
được phước nhiều hay ít?
Hết sức nhiều.
Nhưng thật cũng không bằng một phần ít công đức tùy
hỷ tam muội. Tại sao? Nầy Hiền Hộ! Là vì đại Bồ tát
tu tập tam muội nầy đã đủ bốn môn tùy hỷ như trên,
hồi hướng trí giác vô thượng chỉ vì đa văn thành
chánh giác. Do nhơn duyên nầy nên công đức bố thí to
tát kia sánh với công đức tùy hỷ trên thật không
bằng một phần trăm một phần ngàn, một phần trăm ngàn
muôn, một phần ức trăm ngàn cho đến dùng toán số thí
dụ cũng không thể được.
Hiền Hộ! Ta nhớ thuở xưa cách đây vô lượng vô biên
vô số kiếp về quá khứ, lúc đó có Phật hiệu là Sư Tử
Ý Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hành túc,
Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự
trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn hiện ra ở
đời. Nầy Hiền Hộ! Vào khi ấy thế giới Diêm phù đề
nầy nhân dân đông đúc giàu có sung sướng an ổn thật
đáng thích ưa. Diện tích Diêm phù đề rất rộng được
một muôn tám ngàn do tuần trong đó số thành phố đô
thị làng xóm cũng được một muôn tám ngàn đều làm
bằng bảy món báu, chiều ngang chiều dài của thành
đều mười hai do tuần. Trong mỗi thành đều có chín
mươi ức nóc gia. Tên của thành lớn là Hiền Tác.
Trong thành dân số được sáu mươi ức, đây vốn là nơi
đức Sư Tử Ý Như Lai sanh ra. Đức Sư Tử Ý Như Lai
thuyết pháp trong pháp hội đầu tiên độ được chín
mươi ức người chứng quả A la hán. Chín ngày sau lại
mở pháp hội thứ hai độ được chín mươi ức người nữa
cũng chứng A la hán. Mãn pháp hội thứ hai kế đến
pháp hội thứ ba lại độ được chín mươi ức người đắc
quả A la hán nữa. Qua ba pháp hội nầy lại có chín
mươi ức người đều từ phương khác đến tập hợp hạng
người nầy đều là các Bồ tát thanh tịnh. Từ đây về
sau đức Phật nầy luôn luôn có vô lượng vô số chúng
Thinh văn.
Nầy Hiền Hộ! Khi ấy nhân dân đều thực hành mười
nghiệp lành không khác gì đời vị lai đức Phật Di Lặc
giáng thế độ cho chúng sanh thành tựu được mười
thiện nghiệp. Nhân dân lúc đó đều sống lâu tám muôn
bốn ngàn tuổi không khác gì tuổi thọ của nhân dân
trong thời Phật Di Lặc. Trong đại thành có một vị
Chuyển luân thánh vương tên là Thắng Du trị dân như
pháp, ngài có bảy món báu: Báu xe vàng, voi báu,
ngựa báu, ngọc ma ni, nữ báu, trưởng giả báu, chúa
binh báu. Ngài có đến một ngàn người con thân tướng
trang nghiêm oai phong hùng dũng đủ năng lực hàng
phục kẻ oán địch. Vua cai trị cả thế giới không dùng
đao binh cũng không oai vũ không thu thuế, vật phẩm
tự nhiên đầy đủ dồi dào. Vào lúc vua Thắng Du vừa
đến chỗ Sư Tử Ý Như lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác
ngự làm lễ đầu sát chân ngài rồi lui qua ngồi một
bên. Phật Sư Tử Ý biết tấm lòng khát ngưỡng chánh
pháp của vua Thắng Du nên lập tức giảng rộng về tam
muội Hiện tiền. Vua vừa nghe môn tam muội hết sức
vui mừng sanh tâm tùy hỷ đem một nắm ngọc báu cung
kính dâng lên Phật. Do nhơn duyên thiện căn tùy hỷ,
sau khi vua mất được sanh trở lại cõi Diêm phù đề
nầy làm vị vương tử tên là Phạm Đức nối ngôi vua cai
tri theo chánh pháp. Sau khi Phật nhập diệt, trong
thời chánh pháp có vị tỳ kheo tên là Bảo, vừa thông
minh lại siêng năng lúc nào cũng nói kinh điển như
thế cho bổn chúng nghe. Vua Phạm Đức được nghe về
môn tam muội từ vị tỳ kheo nầy được đức tin sâu dầy
sanh lòng tùy hỷ đem chiếc áo cực quý giá trị trăm
ngàn trùm lên vị tỳ kheo. Hiền Hộ! Lại nữa vua Phạm
Đức nghe vị tỳ kheo nói về tam muội liền phát tâm vô
thượng bồ đề, vì quá mến yêu chánh pháp nên lìa bỏ
gia đình xuất gia cạo bỏ hết râu tóc mặc áo cà sa.
Khi đó cũng có trăm ngàn người đức tin kiên cố theo
vua mặc áo pháp để xuất gia, họ cũng chỉ vì kinh tam
muội nầy. Tỳ kheo Phạm Đức và trăm ngàn chúng tỳ
kheo Bảo, không bao giờ mệt mỏi nhưng không bao giờ
đắc được tam muội như thế chỉ trừ nghe được một lần,
nghe rồi tùy hỷ, đủ cả bốn công đức tùy hỷ mới hồi
hướng về vô thượng bồ đề giống tấm lòng tùy hỷ ban
sơ thực hành rộng rãi như thế. Tỳ kheo Phạm Đức và
chúng tỳ kheo trăm ngàn người nhờ công đức thiện căn
nầy liền được gặp hơn sáu muôn tám ngàn đức Phật,
sanh ra chỗ nào cũng được thừa năng lực vì chúng
sanh giảng nói tam muội nầy. Lại nhơn thiện căn trên
Phạm Đức tỳ kheo gắp thêm sáu muôn tám ngàn đức Phật
lần lượt vun trồng các căn lành, đắc tam muội nầy,
hoàn mãn các pháp trợ đạo Bồ đề xong liền thành
chánh giác dưới danh hiệu là Kiên Cố Dõng Mãnh Như
Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện
thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng
phu. Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn mà rồi trăm ngàn
tỳ kheo đắc tam muội nầy cũng thành tựu pháp trợ đạo
sau đó chứng bồ đề hiệu là Kiên Dõng Như lai, Ứng
cúng, Đẳng chánh giác lại còn làm cho vô lượng trăm
ngàn chúng sanh an trụ nơi vô thượng Bồ đề.
Nầy Hiền Hộ! Chỉ nghe mà được công đức như thế còn
nói gì Bồ tát nghe nhận tam muội đọc tụng nhớ giữ,
nói cho kẻ khác nghe lại siêng năng suy gẫm thực
hành không đắc quả sao? Hiền Hộ! Vì lý do đó nên các
Bồ tát nghe được tam muội nầy không ai là không tùy
hỷ đọc tụng thọ trì, tu tập giảng thuyết. Tại sao?
Vì Bồ tát nghe tam muội nầy tức thành thục pháp trợ
đạo mau chứng chánh giác.
Nầy Hiền Hộ! Do nhơn duyên nầy nên ta bảo ngươi: nếu
ai có đức tin chơn chánh, tâm trong sạch mong cầu
trí giác vô thượng, trước tiên cần phải chí tâm cầu
môn tam muội nầy Bồ tát nếu được nghe trong vòng một
trăm do tuần có kinh tam muội sâu xa nầy lập tức
khép nép đích thân đi đến nghe kinh nầy, nghe rồi
phải liền đọc tụng thọ trì tu tập suy gẫm đem nói ra
cho người.
Nầy Hiền Hộ! Nào phải chỉ trong vòng trăm do tuần
mới đến nghe thôi, Bồ tát nếu nghe trong vòng hai
trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm cho đến ngàn do
tuần có kinh tam muội nầy hoặc ở trong thành phố
thôn xóm lập tức đều cung kính đến nghe, nghe rồi tu
tập, thọ trì. Tại sao? Nầy Hiền Hộ! Là vì Bồ tát nầy
đức tin trong sạch mong cầu thành tựu vô thượng bồ
đề. Thế nên Bồ tát không nên sanh tâm biếng trễ, ỷ
lại, tán loạn, nhưng phải phát tâm hăng hái tha
thiết môn tam muội nầy mau nhanh chân qua đến nơi
cách xa ngàn do tuần dù chỉ để nghe tam muội thôi,
còn nói gì đọc tụng, thọ trì, suy gẫm, giảng giải.
Tại sao? Nầy Hiền Hộ! Là vì tam muội nầy có khả năng
hàm chứa tất cả pháp trợ đạo.
Lại nầy Hiền Hộ! Nếu có Bồ tát tâm thuần tịnh chỉ vì
Bồ đề qua đến nơi cách xa ngàn do tuần để nghe pháp
tam muội nầy. Lúc đó Bồ tát cũng nên hầu hạ cúng
dường vị pháp sư nói pháp, cung phụng đủ hết mọi vật
dụng luôn luôn nên đi theo vị pháp sư học tập trong
vòng một năm hai năm, mười, hai chục, trăm năm cho
đến trọn đời theo vị pháp sư không xa lìa người,
thậm chí chỉ vì mong cầu được nghe về môn tam muội
nầy, huống chi là đọc tụng, thọ trì, suy gẫm nghĩa
lý, đem nói cho kẻ khác. Lúc Bồ tát theo vị pháp sư
nên bỏ hết những dự định trong tự tâm, khi hành động
chỉ theo ý vị pháp sư, thận trọng hầu hạ ngài không
được trái lời, sanh tâm tôn kính và tâm mến trọng
thậm chí coi như là Phật.
Lại nầy Hiền Hộ! Giả sử Bồ tát nầy cần xa vị pháp sư,
khi xa nên phải thường thường nhớ đến ơn ngài luôn
nghĩ cách đáp trả. Tại sao? Nầy Hiền Hộ! Vì nhơn nơi
sự tuyên giảng của vị pháp sư nầy kinh điển mới được
tồn tại lâu dài không bị mất mát.
Nầy Hiền Hộ! Nếu có Bồ tát nào thiết tha đến môn tam
muội nầy còn nên phải đi qua ngàn do tuần để nghe,
nói chi khi có pháp hội giảng về tam muội ở trong
vòng đô thành, phố xá, thôn xóm, nơi thanh vắng hoặc
trong núi rừng lại không đến để nghe, thọ trì, đọc
tụng, suy gẫm nghĩa lý đem nói lại cho kẻ khác nghe
sao?
Lại nầy Hiền Hộ! Ta nay nói cho ông nghe nếu có Bồ
tát này vì mong cầu môn tam muội có thể lập tức đi
qua trăm do tuần dù không may không được nghe, nhưng
nhờ tấc lòng tha thiết cầu bồ đề trong pháp nầy vẫn
siêng năng hăng hái không có biếng trễ. Hiền Hộ! Ông
nên biết hạng người như thế chắc sẽ được không thối
chuyển nơi vô thượng bồ đề, nói chi nếu được nghe
thọ trì, đọc tụng, suy gẫm tu tập đem ra nói cho kẻ
khác.
Hiền Hộ! Ông nên quan sát hàng Bồ tát nầy nghe tam
muội rồi lại đủ sức thọ trì, suy gẫm, tu hành tức
được công đức vĩ đại như trên, thậm chí đã mong cầu
nhưng không nghe được cũng thu hoạch đầy đủ thiện
căn vĩ đại, nếu đă nghe hoặc không được nghe đều đã
trụ nơi địa vị bất thối chuyển, cuối cùng thành tựu
vô thượng bồ đề, còn nói chi đã nghe lại đọc tụng,
thọ trì suy gẫm, tu tập, nói lại cho kẻ khác, và
cũng làm cho kẻ khác nghe rồi, đọc tụng thọ trì suy
gẫm đem truyền bá rộng rãi ra.
Khi đó Thế Tôn muốn lập lại lời trên mới nói kệ rằng:
Ta nhớ thuở xưa có Như lai
Hiệu Sư Tử Ý thầy trời người
Lúc đó có vua lãnh đạo dân
Đích thân đến Phật cầu tam muội
Đức vua thông minh đã nghe rồi
Hớn hở khắp thân tả không xiết
Hai tay dâng báu cúng dường Phật
Thành kính dân lên Sư Tử Ý
Nội tâm suy gẫm cất lời rằng:
Con nay quy y vô thượng tôn
Vì cả thế gian làm việc lợi
Cúi xin ngài nói tam ma đề.
Khi vua gây tạo nghiệp lành xong
Xả thân sanh lại trong cung nầy
Được gặp tỳ kheo tên là Bảo
Đại đức tiếng vang khắp mười phương.
Khi nghe tỳ kheo khéo nói pháp
Tâm sanh vui mừng khó thể tả,
Liền đem y phục rất quý giá
Trùm lên tỳ kheo vì Bồ đề,
Rồi cùng trăm ngàn chúng xuất gia
Cúng dường hầu hạ tỳ kheo nầy
Trải qua đầy đủ tám ngàn năm
Vì cầu môn tam muộn như thế
Ngài nói một lần không lập lại,
Nghe nhận sâu xa như biển cả
Khi ấy tâm trí không mỏi mệt
Cầu mong như thật thắng tịch thiền
Cả bọn tu hành như thế rồi
Gặp được chư Phật đấng uy hùng
Số đến sáu muôn tám ngàn vị
Khoảng đó cũng nghe tam muội nầy.
Đời kế cúng dường và hầu hạ.
Cũng số sáu muôn tám ngàn Phật
Nghe định sâu xa đều vui mừng
Vì nhờ Như lai Sư Tử Ý
Vua nầy tu hành đầy đủ thế
Cuối cùng thành Phật hiệu Kiên Dõng.
Giáo hóa chúng sanh vô số lượng
Dù ở sinh tử lại ly trần.
Ngàn chúng xuất gia theo đức vua.
Cũng đồng thành Phật hiệu Kiên Dõng.
Tiếng đức vang xa cả mười phương
Nghe tên tam muội chứng chánh giác
Huống gì nói lại cho người nghe
Không còn đắm say thế giới nầy.
Lại gắng công suy gẫm kỹ lưỡng
Tam muội Phật dạy như thế nầy.
Nếu có tam muội cách trăm dặm
Mong cầu Bồ đề qua đó nghe
Ở trong ngôn giáo đừng mỏi mê.
Kẻ nghe công đức không xiết kể.
Dù đã đến nơi lại không nghe
Còn được phước đức đồng như thế
Huống gì nghe rồi nghĩ theo lời
Chỉ gấp mong cầu tam muội nầy.
Nên nhớ đến việc ngài Phạm đức
Gần gũi hầu hạ không nhàm chán
Vị tỳ kheo nào có kinh nầy
Lập tức đến nơi kính cúng dường. |