|
Quyển Thứ Nhất
Phẩm Thứ
Hai - Tư Duy
------------------------------------
Khi đó đức Thế Tôn
lại bảo Bồ tát Hiền Hộ:
Nầy Hiền Hộ! Hãy lắng tai nghe cho kỹ và ghi nhớ cho
rành rẽ ta phân tích giải thích rõ ràng đối với
những lời như ông vừa hỏi:
Hiền Hộ thưa:
Bạch Thế Tôn! Như vậy hay lắm! Con hết sức ưa thích
lời dạy bảo của Như Lai.
Phật dạy:
Thế nào lại đặt tên là tam muội Bồ tát niệm tất cả
chư Phật hiện tiền? Nầy Hiền Hộ! Nếu có vị Bồ tát
nào cầu trí giác vô thượng siêng năng dõng mãnh mang
trọng trách cứu độ chúng sanh, hầu hạ cung cấp những
nhu yếu cho bậc thiện tri thức, thường tu tập hạnh
hướng nội suy gẫm diệt sạch phiền não, xa lìa bạn ác
dứt trừ các lời lẽ thế tục thu thúc sáu giác quan.
Đầu hôm giữa đêm sớm mai đều giảm bớt sự ngủ nghỉ,
không tham đắm nơi y phục món ăn uống thuốc thang
nhà cửa phòng xá địa vị, luôn ưa thích ở a lan nhã
nơi thanh vắng. Không tiếc rẻ tự thân, không trọng
tánh mạng không trau chuốc hình dáng bên ngoài,
không buông lung tâm thu thúc lại bằng tình thương
cao cả hằng mong đem lại an vui cho chúng sanh, đối
với chúng sanh lúc nào cũng vui vẻ xả bỏ xí xóa, phá
vỡ phiền não thành tựu thiền định. Không đắm say vị
suy tư, quán sát sắc tưởng nhưng tâm lại rỗng rang
không loạn động chánh niệm, không chấp giữ các ấm,
không đam mê nơi các giác quan (căn), không nghĩ
tưởng các giới. Không đam mê chỗ sanh, chế phục mình
không tự cao ngã mạn. Không ganh tỵ tài sản của kẻ
khác, hằng đem lại nhiều sự lợi ích cho thế gian.
Đối với các chúng sanh tâm luôn luôn bình đẳng kính
xem họ như cha mẹ hoặc thương xót coi như đứa con
độc nhứt. Với tất cả pháp không có tư tưởng đối
nghịch. Dù có trì giới nhưng không chấp trước. Luôn
an trụ trong thiền định nhưng lại không đam mê. Ưa
thích học rộng nghe nhiều lại không sanh khởi sự
phân biệt. Không thiếu xót giới hạnh, thiền định
không bị xao động, trí không còn hư vọng. Không còn
mối hoài nghi nào đối với các pháp. Không đối nghịch
với các đức Phật, không hủy báng chánh pháp, không
phá hoại chư Tăng. Tu tập thấm nhuần năm pháp giải
thoát diệt trừ được mười việc ác, nghĩ nhớ đến mười
điều thiện. Dứt sạch được chín món não hại của chúng
sanh, trong tâm không xả ly môn quán cửu tưởng, nghĩ
cách xả bỏ tám thứ giải đãi, chuyên tâm tu tập tám
điều giác ngộ của bực đại nhân. Không nghĩ mình học
rộng nên ngã mạn đã trừ. Quán sát dục vọng như đờm
mũi, hết sức thích hạnh xuất gia thuận theo lời Phật
dạy, khuyên nhũ chúng sanh nên thực hành công đức. Ở
trong ba cõi nhưng không ô nhiễm. Thấy tất cả Phật
đều hiện ra trước mắt. Thọ tất cả thân đều xem như
ảo mộng, suy gẫm sự vận hành lại không thấy quá khứ,
vị lai hiện tại. Bình đẵng đối với tất cả pháp không
đối nghịch với tất cả thế gian, hành động cần thi
hành không có mâu thuẫn. Thông đạt pháp mười hai
nhơn duyên sâu xa, đi hết con đường của tất cả Như
Lai trải qua, đắc sức nhẫn tối thượng, thể nhập chơn
pháp giới, nhìn chúng sanh giới bản tánh không sanh
không diệt thấy Niết Bàn giới bổn lai hiện tiền Huệ
nhãn thanh tịnh thấy pháp không có hai tướng, tâm Bồ
đề không có chặng giữa không có bờ mé tất cả các đức
Phật thể tánh vốn không sai biệt. Thể nhập cửa trí
huệ thanh tịnh vô ngại thấu rõ trí giác bồ đề tự
nhiên, tập họp các Phật công đức không bao giờ cùng
tận.
Nầy Hiền Hộ! Nếu có Bồ tát nào muốn thành tựu tam
muội Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền trước tiên hết
cần nên hoàn mãn các công đức như trên. Hiền Hộ! Ông
nên biết lại còn có vô lượng công đức cũng do từ tam
muội nầy sanh ra. Nếu như có ai hỏi do tam muội gì
lại sanh công đức như thế? Ông có thể trả lời đó
chính là tam muội Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền
sanh ra công đức như vậy.
Lại nầy Hiền Hộ! Thế nào gọi là tam muội Bồ tát niệm
chư Phật hiện tiền?
Nầy Hiền Hộ! Nếu có tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư
sĩ nữ giữ giới trong sạch các công hạnh đã hoàn mãn,
ở một mình tại chỗ vắng vẻ suy tưởng như thế này: Ở
khắp mọi chỗ bất cứ phương nào chẳng hạn như phương
tây có đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng
Giác. Người nầy vừa nghe được danh hiệu lập tức
tưởng nghĩ như vậy: Như ta vừa nghe danh hiệu đức A
Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẵng Giác hiện nay
ngài ngự ở thế giới chư Phật. Thế giới của ngài tên
là Cực Lạc ngài thường ngự vào các pháp hội của các
Bồ tát để nói pháp và giáo hóa. Rồi người nghe y
theo chỗ nghe được chuyên tinh tưởng nhớ quán sát
không ngừng nghỉ cho đến khi hình ảnh trên hiện rõ
ràng trong trí sau cùng được thấy Đức A Di Đà Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẵng Giác.
Lại nầy Hiền Hộ! Thí dụ như trong thế gian có kẻ
trai hay gái lúc nằm chiêm bao thấy các vật báu như
vàng bạc của cải, kho lúa hoặc thấy bạn bè hạng
người quen biết hay đang lúc mơ cảm thấy tâm không
ưa thích. Người nằm mộng nầy đối với cảnh được thấy
hoặc chống đối hay xuôi theo, hoặc buồn lo hay vui
thích. Sau khi người nầy tỉnh dậy nhớ lại cảnh vừa
thấy trong giấc mộng bèn hồi tưởng để kể cho người
khác nghe và cảm thấy trong lòng có phần vui thích.
Cũng như thế, nầy Hiền Hộ! Thiện nam thiện nữ ngồi
ngay ngắn tinh thành chuyên chú tưởng nhớ đức Phật A
Di Đà tướng tốt vẻ đẹp, oai nghi của ngài như thế,
pháp hội như thế, ngài thuyết pháp như thế.... tùy
theo sự kiện nghe được hết lòng tưởng nhớ nhứt tâm
liên tục có thứ lớp không tạp loạn trải qua một ngày
hay một đêm như thế hoặc đến bảy ngày đêm tưởng nhớ
liên tục theo như lời diễn tả về đức Phật ấy. Người
nầy chắc chắn sẽ được thấy đức A Di Đà Như Lai, Ứng
Cúng, Chánh Đẳng Giác, nếu như không thấy được ngài
giữa ban ngày thì cũng được thấy trong đêm hay trong
giấc mộng đức Phật A Di Đà hiện ra rõ ràng trước mắt.
Nầy Hiền Hộ! Như người trai hay gái trong thế gian
nầy mắc phải công việc gì đó phải đi sang xứ khác,
trong đêm mơ thấy quê nhà. Đang lúc mơ thật không
biết đó là đêm hay ngày hoặc trong hay ngoài hình
ảnh chốn quê nhà hiện ra rõ ràng trước mắt không
ngăn sông cách núi và cũng không bị trở ngại bởi tối
tăm hôn ám.
Hiền Hộ! Tâm của đại Bồ tát không bị chướng ngại
cũng giống như thế. Đương lúc chánh niệm dù ngay
trước mắt bị thế giới Phật án ở khoảng giữa, tất cả
núi tu di, núi thiết vi, núi đại thiết vi và các dãy
hắc sơn ngăn chận nhưng tất cả đều không thể che lấp
được tâm nầy, không ngăn trở sự thấy của nhãn quan.
Người nầy thật ra chưa đắc thiên nhãn nhưng có thể
thấy được Phật, chưa có thiên nhĩ lại nghe được lời
Phật nói pháp, không có thần thông để bay qua thế
giới Cực Lạc lại cũng không ẩn mất tại thế giới nầy
rồi sanh qua trước mặt Phật ở thế giới kia, nhưng
thật ra chỉ ở tại thế giới này do sức tu tập tưởng
nhớ đã lâu nên hình ảnh đức Phật A Di Đà và thế giới
phương tây hiển hiện rõ ràng trong trí, vì thế rốt
ráo thấy được đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Đẳng Giác và Tăng chúng cùng các vị Bồ tát ngồi vây
quanh ngài, hoặc thấy tự thân ở pháp hội đó nghe
Phật nói pháp, nghe chi nhớ nấy rồi thể theo lời dạy
thực tập thọ trì. Hoặc có lúc được thân cận cung
kính lễ bái cúng dường đức Phật A Di Đà, sau đó xuất
ra khỏi tam muội nầy, lần lượt nhớ lại hết những gì
vừa nghe đem ra dạy cho kẻ khác.
Nầy Hiền Hộ! Như trong nước Ma Kiệt Đà có ba gả hào
hoa, chàng thứ nhất nghe ở thành Tỳ Da Ly có nàng
dâm nữ tên là Tu Ma Na. Chàng thứ hai nghe được một
dâm nữ khác tên Yểm La Ba Ly, còn chàng thứ ba lại
nghe tên nàng Liên Hoa Sắc cũng là một dâm nữ. Cả ba
chàng nghe được như vậy lòng luôn khát khao tìm đủ
mọi cách để gặp các nàng cho được, tâm lúc nào cũng
tưởng nhớ không phút nào thôi. Nhưng cả ba chưa từng
gặp các nàng kia chỉ nghe lóm thôi, tâm nổi dục vọng
mơ tưởng liên tục, sau đó nằm mộng mơ thấy gặp được
các nàng cùng hành dục sự tại thành Vương Xá. Dục sự
đã xong tâm mong cầu dứt hy vọng cũng hết liền bừng
tỉnh dậy. Sau khi tỉnh, nhớ lại các việc đã xảy ra
trong giấc mộng liền qua đến chỗ ông thuật lại các
việc đã nghe, kinh nghiệm, ghi nhớ như thế. Ông nên
đem phương pháp khéo léo tùy thuận giáo hóa nói pháp
làm cho họ được trụ địa vị bất thối chuyển, cuối
cùng thành tựu trí giác vô thượng. Cả ba chàng đó
trong tương lai sẽ thành Phật hiệu là Thiện Giác Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cả ba chàng nầy đã
trụ được bực bất thối chuyển nhớ lại chuyện xưa rõ
ràng phân minh.
Nầy Hiền Hộ! Thiện nam thiện nữ nào muốn thành tựu
được tam muội Đại Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền,
thân người nầy thường ở thế giới đây vừa nghe danh
hiệu đức Phật A Di Đà lại có khả năng nhiếp tâm
tưởng nhớ liên tục rành rẽ không hề tạp loạn được
thấy đức Phật A Di Đà rõ ràng đó là Bồ tát tưởng nhớ
hoàn mãn thành tựu tam muội nầy thấy được Phật A Di
Đà nên liền thưa thỉnh với Phật:
Bạch Thế Tôn! Các hàng Bồ tát thành tựu pháp gì để
được sanh về thế giới Cực Lạc đây?
Phật A Di Đà đáp lời vị Bồ tát:
Nếu có người nào phát tâm cầu sanh về thế giới Cực
Lạc nầy nên luôn luôn nhiếp tâm tưởng nhớ Phật A Di
Đà giữ gìn chánh niệm liên tục liền sẽ được vãng
sanh. Người đã được sanh về rồi, đức Thế Tôn biết rõ
tâm địa của hắn cũng nghĩ nhớ tới hắn nên hắn mới
được thấy đức Phật Thế Tôn. Nầy Hiền Hộ! Ngay lúc đó
đức Phật A Di Đà lại dạy thêm cho vị Bồ tát rằng:
Thiện nam tử! Ông nên giữ chánh niệm siêng năng tinh
chuyên tu tập, phát tâm rộng lớn nhứt quyết sẽ được
sanh về Cực Lạc.
Nầy Hiền Hộ! Khi ấy vị Bồ tát nầy lại thưa:
Bạch Thế Tôn! Như thế nào là niệm Phật siêng năng tu
tập phát tâm rộng lớn để được sanh về thế giới Cực
Lạc?
Phật A Di Đà lại dạy:
Nầy Thiện nam tử! Giờ đây ông muốn làm kẻ chơn chánh
niệm Phật nên niệm như thế nầy: Đứa A Di Đà Như Lai,
Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn đủ ba mươi hai tướng tốt,
tám mươi vẻ đẹp thân sắc sáng vàng như chất vàng
ròng tỏa ra ánh sáng vĩ đại ngự trên tòa sư tử trang
trí bằng nhiều loại châu báu nói pháp cho chúng sa
môn nghe. Ngài dạy rằng: Tất cả pháp bổn lai không
biến hoại cũng không bị hủy hoại, như các ấm sắc bất
hoại... cho đến thức cũng bất hoại, năm trần sắc bất
hoại... cho đến xúc cũng bất hoại, Phạm thiên bất
hoại, tất cả thế chủ cũng bất hoại. Như thế cho đến
mức không niệm đức Như Lai cũng không được Như Lai
niệm, kẻ nầy niệm Như Lai như thế lần lần đắc được
không tam muội. Thiện nam tử! Đó là tam muội chánh
niệm chư Phật hiện tiền.
Nầy Hiền Hộ! Sau đó Bồ tát nầy xuất ra khỏi tam muội
có đến nơi ông hỏi về tướng trạng của tam muội, khi
ấy ông nên vì vị ấy nói pháp tùy thuận giáo hóa làm
cho vị nầy được bất thối chuyển nơi trí giác vô
thượng. Nầy Hiền Hộ! Ta ngay lúc đó cũng thọ ký cho
vị nầy đương lai sẽ thành Phật hiệu là Đức Quang
Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri... Phật Thế
Tôn.
Nầy Hiền Hộ! Ai đã chứng biết tam muội nầy? Đó là
ông Ma Ha Ca Diếp, Bồ tát Đế Thích Đức, Thiên tử
Thiên Đức và vô lượng Bồ tát tu tam muội Không nầy,
đó là chứng. Làm thế nào chứng Không tam muội nầy?
Nầy Hiền Hộ! Ta nhớ lại thuở xưa có đức Phật Thế Tôn
hiệu là Tu Ba Nhật, vào thời đó có một người đi lạc
vào rừng, đói khát khốn khổ mệt lã, người nầy mới
nằm ngủ thiếp bên đường mơ thấy dự một buổi tiệc đầy
những thức ăn ngon ngọt, ăn no nê xong vừa khi đói
lại, mơ đến đây tỉnh dậy vẫn cảm thấy đói khát như
cũ, người nầy mới nghĩ rằng các pháp đều không chẳng
thật, giống như cảnh vật thấy trong giấc chiêm bao
không phải thật hữu, quán sát như thế ngộ được vô
sanh nhẫn đắc bất thối chuyển nơi Vô thượng bồ đề.
Nầy Hiền Hộ! Cũng giống như vậy, nếu có vị Bồ tát
hoặc tại gia hay xuất gia nghe tên các đức Phật theo
phương hướng ngài hiện đang ngự liền hướng về đó chí
tâm đảnh lễ trong lòng khát khao mong mỏi được thấy
Phật nên chuyên tinh tưởng nhớ đến ngài như thế. Lại
nữa cũng nên quán sát sắc tướng như thế nghĩ tưởng
là hư không, sau đó thành tựu được hư không tưởng
rồi an trụ trong chánh tư duy như vậy, kế đó sẽ được
thấy Phật với thân thể ngài sáng ngời như lưu ly
trong trắng, hình tướng đoan chánh như cây cột thuần
vàng.
Lại nữa nầy Hiền Hộ! Thí dụ như có người bỗng nhiên
phải rời quê nhà để đến xứ khác, dù ở xứ người nhưng
lòng hằng mong nhớ đến quê hương nơi chôn nhau cắt
rún. Như những gì được thấy, nghe, nghĩ nhớ, biết
được như vậy tưởng nhớ quá lâu ngày nên trong giấc
chiêm bao mơ thấy rõ ràng tự thân ở quê xưa, dạo
chơi những chỗ như đã từng thấy từng nghe in hệt như
trước không khác.
Nầy Hiền Hộ! Cũng như thế đó Bồ tát tại gia hay xuất
gia được nghe kẻ khác nói về danh hiệu đức Phật, tùy
theo nơi ngài ngự hướng về đó chí tâm đảnh lễ mong
muốn được thấy ngài, giữ chánh niệm không để xao
động. Tương ứng với niệm sẽ được thấy Phật, hình
tượng, hoặc thân như lưu ly hay thân thuần sắc vàng.
Nầy Hiền Hộ! Thí dụ như có vị tỳ kheo tu pháp quán
bất tịnh nhìn thây mới chết màu da vừa đổi hoặc hóa
ra xanh, vàng, đen, đỏ rồi tới lúc sình chương lên,
thối rả máu mủ tuôn chảy dầm dề, cầm thú chim chóc
tới rỉa thịt ăn còn trơ lại xương trắng sắc như màu
ngọc. Quán như thế mãi cho đến khi xương tan rã ra
mà xương thịt kia không từ đâu đến cũng không đi về
đâu, từ tâm hiển hiện trở lại thấy tự tâm. Cũng
không như thế, Bồ tát muốn thành tựu tam muội chư
Phật hiện tiền nên tùy theo nơi Phật ngự trước tiên
hết hướng về nơi đó tưởng nhớ mong mỏi thấy Phật,
theo hướng tưởng nhớ tức được thấy Như Lai. Tại sao
vậy? Vì có ba nhơn duyên được thấy Phật A Di Đà: một
là nhờ nơi năng lực tam muội nầy, hai là nhờ Phật
gia hộ, ba là do tự thiện căn thuần thục, Hoàn mãn
ba nhơn duyên nầy nên thấy được Phật rõ ràng phân
minh.
Nầy Hiền Hộ! Như người trai tráng vóc dạng cân đối
vẻ mặt cương nghị muốn nhìn vẻ mặt mình đẹp hay xấu
mới lấy thau đựng đầy nước hay dầu xanh hoặc lấy
thủy tinh hay gương, dùng bốn vật nầy để soi bóng
mình, vẻ mặt đẹp hay xấu ảnh hiện lên rõ ràng. Hiền
Hộ! Chuyện nầy có ý gì? Hình bóng của kẻ đó ở trong
dầu, nước, thủy tinh, gương là vốn sẳn có trước phải
không?
Hiền Hộ đáp:
Thưa không phải.
Vốn là không?
Thưa không phải.
Nó nằm ở trong?
Thưa không phải.
Vậy thì hình bóng ấy ở bên ngoài?
Thưa không, bạch Thế Tôn! Chỉ do dầu, nước thủy
tinh, gương các vật nầy trong sáng không bợn nên
hình bóng của hắn ảnh hiện lên, nhưng hình bóng nầy
không phải từ bốn vật đó sanh ra cũng không phải từ
chỗ khác đến, cũng không phải tự nhiên có không phải
do ai làm ai, nên biết hình bóng nầy không từ đâu
đến cũng không đi về đâu, vô sanh vô diệt không có
nơi căn cứ.
Phật đáp:
Đúng như thế! Đúng như thế! Đúng như lời ông vừa trả
lời do các vật thanh tịnh sáng chói nên bóng dáng tự
hiện không cần nhiều công. Bồ tát cũng vậy nhứt tâm
tưởng nhớ sẽ thấy các Như Lai thấy rồi an trụ trong
tam muội, trong khi an trụ mới hỏi các ý nghĩa với
đức Như Lai được ngài giải thích rành rẽ, lòng vui
mừng mới nghĩ: Phật nầy từ đâu đến và thân ta lại từ
đâu ra? Quán sát kỹ Như Lai không từ đâu đến cũng
không về đâu, thân ta cũng vậy vốn không xuất xứ làm
gì có trở lại. Kế đó cũng nên nghĩ: Tam giới duy tâm
nên hiện hữu tại sao theo Tâm nghĩ nhớ lại thấy Tâm?
Nay ta từ Tâm thấy Phật, Tâm ta làm Phật, Tâm ta là
Phật, Tâm không biết Tâm, Tâm không thấy Tâm, Tâm có
tưởng niệm tức thành sanh tử, Tâm không tưởng niệm
tức là Niết Bàn, các pháp không chơn thật chỉ do tư
tưởng duyên khởi, đối tượng bị nghĩ liền diệt chủ
thể năng tưởng cũng không. Hiền Hộ! Ông nên biết các
Bồ tát nhơn tam muội nầy chứng được trí giác vĩ đại. |