|
--------------------------------
Tựa
Hiệp Khắc Ba Bộ Kinh Niệm Phật Viên Ðốn
Lời Nói Ðầu
Tôi vừa in xong ba bộ kinh tịnh
độ đã đặt thế giới Cực lạc làm nơi gia hương, nhưng có người y
cứ theo các kinh đại thừa thuần nói thật tướng: tức tâm tức Phật,
đâu phải hạn cuộc đông tây mới cho là pháp môn niệm Phật nầy là
giả thi thiết Phật dùng để dẫn dắt kẻ tri thức thông thường,
hạng bình dân kém hiểu, thật không liên quan gì đến bực đại trí
thiên tài. Họ nghĩ như vậy thật là giữa hư không bỗng dưng vạch
chia thành ranh giới, trên đầu mảy lông lại tự ngăn rào, oan
chịu luân hồi không ai cứu vớt, hà không đau xót sao! Vì vậy tôi
lại in thêm các kinh đại thừa dạy về pháp môn niệm Phật tức là
hướng thượng chỉ quy, để cho các hàng học giả đi sâu vào một cửa
chẳng rời nơi đương xứ tận mặt thấy đấng Pháp vương, đâu có chờ
đời khác hằng dạo chơi nơi cõi tịnh đây quả là phương pháp vượt
trần chơn chánh lời dạy diệu mầu vô thượng.
Bộ kinh thứ nhứt nằm trong phạm vi Bát nhã, ngài Văn Thù dạy về
tam muội Nhứt Hạnh chú tâm nơi một Phật chuyên xưng danh hiệu
ngài do đó trong niệm thấy được chư Phật quá khứ, vị lai, hiện
tại. Thế gian có kẻ chấp trí huệ, lại bài báng niệm Phật xin hãy
xem đây để tự răn mình.
Kinh thứ hai thuộc vào bộ loại Hoa Nghiêm. Ngài Phổ Hiền nhơn
đức Như Lai thể nhập tam muội bất tư nghị cảnh giới mới dạy kẻ
phát tâm cầu chứng tam muội nầy điều kiện trước tiên hết nên
quán tượng Phật, chuyên niệm không quên trải qua ba tuần nhật
(21 ngày) sẽ chứng nhập duy Tâm đắc nhẫn tùy thuận. Ở đời có kẻ
tôn sùng Hoa Nghiêm lại phỉ báng niệm Phật cần nghĩ đến việc nầy
mà tự cảnh giác.
Kinh thứ ba nằm vào hệ thống Phương Đẳng. Phật vì Hiền Hộ dạy về
môn tam muội Niệm chư Phật hiện tiền, pháp quán tượng có phần
đồng như kinh trước, nhưng khác chăng là chuyên tưởng Tây phương
Cực lạc không rời chỗ ngồi chứng KHÔNG tam muội thấy hết mười
phương vô lượng chư Phật nhờ đó mới thấu rõ các pháp thật tướng....
cho đến không có một pháp nào có thể được. Thế gian có kẻ chê
niệm Phật là trước tướng bồ đề nên cần cảnh tỉnh.
Hành giả thật như đủ khả năng đối với ba bộ kinh nầy quyết định
tin nhận thực hành như lời dạy: một câu hồng danh trùm hết mười
phương, vô biên hào tướng khắp cả hư không, liền đó rổng rang
không còn nghi hoặc gì nữa. Hoa nở thấy Phật bồ đề bất thối,
giống như lên núi mà đặng liên thành, xuống bể để thâu trăng
sáng lại còn bồi hồi quyến luyến khóc chỉ tơ mà xót ngả rẽ hay
sao?
Đời Thanh, vua Càn Long năm thứ 57 tháng mạnh thu
Bồ tát giới cư sĩ Bành Tế Thanh cẩn tự
Kinh nầy thuần trình bày các pháp thật tướng. Sao gọi là thật
tướng? Không sanh, không diệt, không hữu, không vô, không đoạn,
không thường, không phải cấu không phải tịnh, không phải thật,
không phải chúng sanh.... cho đến không có như Lai xuất thế và
nhập Niết bàn. Tại sao? Thật tướng là vô tướng, vô tướng vì vô
tướng, quán thân như thế quán Phật cũng vậy, tác quán như vậy ai
là năng quán? Ai là sở quán? Năng sở đều vong, sự quán cũng
không lập, rổng rang siêu việt thế, xuất thế gian, đây là cứu
cánh bát nhã. Dù như thế, nhưng với kẻ sơ cơ phải nương phương
tiện mới đi vào được, do đó Phật mới khai mở một phương pháp nhờ
duyên không nắm giữ tướng chuyên xưng danh tự, thông đạt danh tự
không phải danh tự, vì danh tự tức là thật tướng thông đạt thật
tướng không phải thật tướng vì thật tướng là danh tự. Dứt hết
các sự suy lường các pháp bình đẳng. Niệm Phật như vậy tức niệm
vô niệm, vô niệm mà niệm, bỗng nhiên thể nhập tâm và Phật đều
tan, vượt ngoài số lượng đây là một vị giải thoát, liền đó đầy
đủ sáu môn ba la mật mau đắc vô thượng bồ đề. Thế nên vào đời
Đường vị tăng Pháp Chiếu đi hành hương núi Ngũ Đài được gặp ngài
Văn Thù bồ tát, ngài Văn Thù dạy: Ta trong kiếp quá khứ nhờ niệm
Phật nên đắc nhứt thiết chủng trí, tất cả pháp bát nhã ba la mật
thiền định sâu xa thậm chí chư Phật cũng xuất sanh từ môn niệm
Phật.
Xem kỹ trong kinh càng thêm tin lời.
Môn niệm Phật tam muội trong ba
pháp quán từ giả quán thể nhập, theo kinh Viên Giác gọi là tam
ma đề Như Huyển. Muốn thành tựu tam muội này trước tiên nên phát
tâm vô thượng bồ đề tu các công đức, tùy theo phương hướng đức
Phật đang ngự nhứt tâm chuyên niệm, không rời chỗ ngồi thấy Phật
nghe pháp chứng không tam muội, vì biết tất cả pháp đều không
thật hữu nên không chi ngăn ngại, mười phương chư Phật từ tâm
hiển hiện không có phân ly chia cách, nên trong văn kinh dạy:
Lúc quán phương đông thấy nhiều ức trăm ngàn na do tha Phật, nam,
tây, bắc, bốn góc, phương trên phương dưới cũng vậy. Tức giả tức
không, không phải không không phải giả. Kinh lại dạy: Tâm ta làm
Phật, tâm ta là Phật tâm không biết tâm, tâm không thấy tâm. Lại
dạy: Thường xả ly các tưởng về tướng mà suy gẫm thấy chư Phật
kia, tâm thanh tịnh đây là chánh quán trung đạo, cũng gọi là
quán thật tướng Phật, hể quán được thật tướng sẽ chóng tương ưng
với pháp thân chư Phật. Như kinh Phật Tạng dạy: Niệm Phật cũng
gọi là phương pháp giác quán phá tất cả thiện bất thiện, không
giác không quán, lặng nhiên không tướng gọi là niệm Phật. Tại
sao? Vì không nên dụng giác quán nhớ niệm chư Phật, không giác
không quán mới là thanh tịnh niệm Phật. Trong niệm như thế không
tham, không đắm, không thuận, không nghịch, không danh, không
tướng, không tưởng, không lời, mới gọi là niệm Phật. Thật cùng
với kinh nầy đồng trình bày rõ về niệm Phật. Nhưng với người học
Phật sơ cơ chắc chắn phải nhờ nơi tướng mới đạt được vô tướng,
do từ niệm mới đi đến vô niệm. Văn Thù bát nhã kinh: Như kẻ học
bắn tập mãi chắc giỏi, sau dù vô tâm tên bắn ra mủi mủi đều
trúng. Nếu không do tập lâu thành thói quen chỉ nói khan vô tâm
thật việc ấy không có bao giờ! Do một môn tam muội nầy làm chỗ
tổng trì các pháp, các đại bồ tát nhờ tam muội nầy chứng đại bồ
đề. Trong kinh thuyết minh rõ công đức thọ trì và công đức cúng
dường Pháp sư. Bởi pháp môn niệm Phật nầy là phương tiện tối
thẳng trong đời mạt pháp mà pháp sư nầy là sứ giả của Như Lai là
bậc lãnh đạo cho tất cả chúng sanh có năng lực làm cho dòng Phật
không diệt chánh pháp tồn tại lâu bền.
Ngài Đại Thế Chí luận về niệm Phật: con nếu nhớ mẹ như mẹ nhớ
con mẹ con dù trải qua nhiều đời nhưng không xa cách, tự tha
không cách năng sở đều vong. Nên ngài Văn Thù có kệ dạy:
Các hành là vô thường
Tánh niệm vốn sanh diệt
Nhơn quả nay cảm khác
Thế nào chứng viên thông?
Nếu như theo kinh này dạy: Lấy dầu, nước, thủy tinh, gương soi
để soi mặt mình, bóng dáng hiện rõ ra vẻ đẹp xấu lành dữ... nên
biết bóng nầy không từ đâu lại cũng không đi về đâu, không sanh
không diệt, không chỗ nơi trụ, niệm Phật cũng vậy không phải ta
không phải hắn, như mộng như ảo, không ly đương niệm nhơn quả
viên thành nhưng cũng không hoại tướng tự tha bởi duyên khởi vô
sanh, nhị biên không thể được vậy.
Kinh nầy còn mang một tên nữa là Bát chu tam muội, bát chu nghĩa
là chư Phật hiện tiền. Các vị bên giáo thường y theo văn trong
kinh có dạy: "Ba tháng kinh hành" nên thường lấy đó làm phương
pháp thường hành, thật ra kinh hành để đối trị ngủ nghỉ là một
pháp trong các pháp trợ duyên. Văn trước có nói: Đầu hôm sớm mai
giữa đêm bớt ngủ nghỉ. Lạy dạy: "ngồi ngay ngắn chuyên niệm một
ngày một đêm hoặc bảy ngày bảy đêm", thế nên thực hành tam muội
ban sơ đâu có định thường hành không ngủ nghỉ làm khóa trình.
Bởi vì pháp hệ niệm cần nơi thần tinh mà sáng mới được nhứt tâm
liên tục, muốn được thần tinh mà sáng cũng cần điều hòa bốn đại,
nếu bốn đại không hòa, khi gấp động chí hôn mê biếng trễ thừa
theo thế là tính ở trước lại nghịch ở sau. Dù có bậc quá lượng
mặc giáp hoằng nguyện kiệt tủy khô xương siêng năng thực hành
không lui sụt trải qua ba tháng dài coi như khoảng khảy móng tay
quyết định thành tựu tam muội, đây là bậc vì pháp quên thân mười
phương chư Phật đều che chở đâu có thể lấy thường tình để suy
xét được.
Do tam muội nầy không lâu sẽ chứng nhứt thiết chủng trí như chư
Phật Như lai, vì thế nên nói thêm mười tám pháp bất cộng, mười
thứ năng lực v.v...Nhưng chứng tam muội nầy đắc vô sanh nhẫn
hiện tiền được thọ ký đã lên bậc viên giáo sơ trụ, biệt giáo sơ
địa, bọn phàm phu há dễ đến địa vị đó sao? Kẻ phát tâm cần phải
do tùy hỉ mới thể nhập, vì vậy trong kinh cực lực ca ngợi công
đức tùy hỉ, như phẩm thứ Năm trong kinh Pháp Hoa tùy hỷ là nền
tảng, mười nguyện Phổ hiền tùy hỷ đứng vào hàng thứ nhứt, lúc
phát tâm tùy hỷ tín căn thành tựu nên kinh dạy: Lúc quá khứ, khi
ta thực hành đạo Bồ tát đều nhờ tùy hỉ nên đắc công đức nầy, từ
đó gia công một niệm tương ưng mười phương chư Phật nào xa cách
mảy lông, thành tựu trang nghiêm, lìa hẳn thai ngục đó chẳng
phải là cơ hội khó gặp trong muôn đời muôn kiếp sao? Quán sát
hai vua quá khứ bỏ nước xuất gia làm tỳ kheo chỉ vì tha thiết
môn tam muội nầy, trong vòng tám ngàn năm thậm chí ba muôn sáu
ngàn năm hoặc chỉ được nghe một lần hay hoàn toàn không được
nghe gì cả, nên kinh còn dạy thêm: Ức Na do tha kiếp tinh chuyên
mong cầu tam muội vi diệu này mãi về sau mới được dịp nghe. Như
bọn ta đây hiện giờ hết sức may mắn gặp gở được kinh này sao
đành chịu cảnh lên núi báu rồi về tay không nhiều kiếp cam đắm
chìm trong bể khổ, thật lấy không làm đau xót sao!
Kinh này được dịch lần đầu tiên hết vào khoảng đời nhà Hán do
ngài Chi lâu ca Sám đề là Bát Chu Tam muội. Kế tiếp một nhà dịch
khác dịch đề là Bạt Bì bồ tát, tiếc thay tên người dịch này đã
lạc mất. Văn của hai bộ kinh trên còn lắm sơ sót lại vấp váp
nhiều nên đọc hiểu được thật không phải là chuyện dễ, bổn nầy so
ra có phần sáng sủa hơn nghĩa cũng đầy đủ, chỉ câu văn từ ngữ
đôi khi sai hoặc có lúc lập đi lập lại, có phần đáng tiếc nhơn
đó tôi mới gắng công sửa chữa được phần nào toàn hảo, kinh chia
ra phẩm mục và phân quyển cũng chưa được thỏa mãn lắm.
Mong nhờ từ quang của chư Phật kinh được truyền bá vô tận, kẻ có
duyên gặp được tin nhận thọ trì đem ra phổ biến đều là kẻ trong
nhóm năm trăm người tham dự pháp hội khi xưa, xin gác tay lên
trán chờ trông. |