Tôi nghe như vầy vào khoảng thời gian Phật thành
chánh giác dưới gốc cầy Bồ đề thuộc nước Ma Kiệt Đề.
Cây Bồ đề đó tên là A Tiếp Ba gốc rể rắn chắc thân
cây ngay thẳng xung quanh không có mắt đốt suông
đuột như gỗ chiên đàn, trên cây chim chóc không bay
qua lại bay lánh đi nơi khác. Da cây trơn láng ảnh
hiện nhiều vân giống như mảnh lụa thêu, lá cây xanh
dờn nhánh nhóc um tùm đều trổ hoa đẹp hương thơm bay
tỏa thật đáng thích ưa, trừ cây Câu Ty La Ba Lợi
Chất Đa ra kỳ dư không có loại cây nào có thể sánh
được. Xung quanh c̣n có rất nhiều cây nhỏ khác nhưng
cây Bồ đề có thể nói thật xứng đáng là vua trong các
cây vừa sum sê lại đẹp đẽ giống như ḥn núi Tu Di
đứng đầu trong các núi, trong chu vi một do tuần
không có cây nào có thể tạm cao ngang hàng, cây bồ
đề tỏa hương thơm cùng khắp ánh sáng lấp lánh ban
đêm ở xa nh́n tưởng là đám cháy lớn. Phía dưới cây
những kỳ hoa dị thảo mọc chen chúc nhau cùng với
nhiều loại hoa đẹp thơm ngát xa trông như bộ đuôi
công, người xem nh́n măi không chán.
Đức Như Lai ngồi dưới cây đó một cách ngay ngắn, đại
chúng ngồi xung quanh như muôn vạn ngôi sao bao bọc
bên ánh trăng trong. Lúc đó có các đức Phật ở thế
giới khác số nhiều như những bụi ở khắp mười thế
giới Phật đến dự để thêm phần trang nghiêm cho đại
chúng đạo tràng Tỳ Lô Giá Na. Các vị thị hiện h́nh
dáng Bồ tát ngồi trong pháp hội, tên các ngài là
Quán Tự Tại Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Địa Tạng
Bồ tát, Hư Không Tạng Bồ tát, Kim Cang Tạng Bồ tát,
Duy Ma Cật Bồ tát, Thiện Oai Quang Bồ tát, Diệt Chư
Cái Bồ tát, Bảo Thủ Bồ tát, Đại Huệ Bồ tát, Phổ Hiền
Bồ tát, các hàng Bồ tát như thế đều là bực thượng
thủ. Lại có vô lượng ngàn ức Bồ tát thị hiện h́nh
dáng Thinh Văn cũng đến dự trong pháp hội tên các
ngài là Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, La
Hầu La, A Nhă Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Ba
Ly, A Na Luật, Ly Bà Đa, A Nan, Đề Bà Đạt Đa, Bạt
Nan Đà v.v... làm bậc thượng thủ, các vị này đều đă
từng tu tập ba la mật cận kề trí giác bồ đề, v́ để
độ chúng sanh nơi cơi nhơ tạp nầy nên thị hiện ra
h́nh dạng Thinh Văn.
Lại có vô lượng tỳ kheo ni bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề là
thượng thủ, họ đều thành tựu nghiệp nhơn đại trượng
phu chỉ v́ mong muốn chinh phục các chúng sanh nhút
nhát yếu hèn nên thị hiện ra thân đàn bà con gái.
Lại có vô lượng các vị trời Đế Thích, Phạm Vương Hộ
Thế, rồng, dạ xoa, càn thát bà, A Tu La, Ca Lầu La,
Khẩn Na La, Ma Hầu La Già hoặc người hay phi nhân
v.v... họ cũng là các bậc Bồ tát thị hiện chớ không
phải phàm phu.
Khi ấy đức Thế Tôn ngồi dưới cây Bồ đề ngay ngắn và
đẹp đẽ nầy giống như cây Ba Lợi Chất Đa có treo viên
ngọc như ư. Chánh niệm ngài không lay động khác nào
ḥn núi tu di. V́ muốn cho các Bồ tát và tất cả
chúng sanh thấu rơ được sức oai thần thiền định sâu
kín của Phật nên ngài nhập tam muội tên là "Như Lai
bất tư nghị cảnh giới" tức thời trong ba mươi hai
tướng tốt của Thế Tôn mỗi mỗi tướng đều hiển hiện
hết các thế giới Phật của chư Phật ở khắp mười
phương giống như gương trong ảnh hiện đối tượng rơ
ràng. Trong các vẻ đẹp cũng hiện lại lúc Như Lai tu
hạnh Bồ tát những hạnh khó làm khổ công lao nhọc từ
lúc là vua Quang Minh đến thân sau cùng là Thiện Thệ
ở đời Phật Nhiên Đăng, trong các đời đó đều buông xả
nào đầu mắt, thân thể, da, thịt, tay chân, vợ con
tôi tớ ngay cả nước non, ngai vàng, cung điện... Do
sức vĩ đại của tam muội nên tất cả các đức Phật lúc
ăn, lúc đi, lúc nói pháp, lúc nhập Niết Bàn đều nhập
vào định này.
Tại sao làm như thế? Là v́ tất cả các đức Như Lai y
cứ tam muội nầy thành tựu được vô lượng sức oai thần
siêu việt... cho đến chứng nhập tất cả pháp không
nên có năng lực thị hiện các sự tự tại ở khắp mười
phương thế giới Phật.
Thí như có người nằm chiêm bao thấy nhiều việc lạ
lùng, chừng tỉnh ra những ǵ đă thấy đều không cả.
Kẻ phàm phu cũng vậy v́ giấc mộng vô minh mê mờ đối
với các pháp sanh ư tưởng cho là thật thể, các Phật
đă giác ngộ rồi nên không c̣n đắm trước. V́ vậy
trong khoảng một niệm đức phật có thừa năng lực thị
hiện vô lượng Phật sự ở khắp mười phương tất cả thế
giới một cách tự tại không bị ǵ trở ngại, đem lại
sự lợi ích vĩ đại là thành tựu chúng sanh đều làm
cho họ giác ngộ thể nhập vô lượng môn giải thoát sâu
xa vi diệu.
Khi đó Bồ tát Đức Tạng v́ chưa hoàn măn bồ tát hạnh
nên thưa hỏi với đại Bồ Tát Phổ Hiền:
Bạch ngài! Hôm nay đức Như Lai nhập tam muội, tên
tam muội đó là ǵ? Làm thế nào đắc? Làm sao lại thị
hiện các thứ Phật sự ở khắp mười phương tất cả thế
giới một cách tự tại để độ thoát chúng sanh?
Bồ tát Phổ Hiền liền trả lời ngay:
Ông hăy lắng tai nghe cho kỹ! Ta nói cho ông đây.
Ngay khi ấy các Bồ tát cũng đều một ḷng chăm chú
khác tiếng nhưng đồng một lời cất lên:
Lời hỏi thật hay lắm! Hết sức sâu xa vi diệu! Thưa
ngài Phổ Hiền ngài là tri kiến của tất cả xin hăy
nói ra đi!
Đương lúc đó mặt đất chấn động sáu cách, trên trời
rải hoa xuống như mưa, tất cả phiền năo, sự khổ của
chúng sanh cũng tạm dừng được đôi chút.
Bồ tát Phổ Hiền dạy:
Nầy các Phật tử! Tam muội nầy tên là Như Lai bất tư
nghị cảnh giới tức là cây Bồ đề của tất cả các Phật,
v́ các ngài thường y cứ và an trụ nơi đó. Đức Thế
Tôn lúc vừa được Phật Nhiên Đăng thọ kư liền nhập
vào định này, thường vô công dụng lại tự nhiên ứng
hiện vô lượng Phật sự như là: giữa hư không trên đầu
sợi lông có các thế giới Phật nhiều như số bụi ở tất
cả cơi Phật, trong sự thị hiện hoặc sanh lên trời
Đâu Suất hay từ đó ẩn mất giáng sanh vào thai mẹ,
hoặc hiện ra trẻ sơ sinh đi bảy bước tự nói: "Giờ
đây ta tức là ranh giới sanh tử", hay thị hiện ở
hoàng cung rồi xuất gia tu khổ hạnh hoặc hiện tướng
hàng phục quần ma thành bực đẳng chánh giác xoay
chuyển pháp luân huyền diệu, hay hiện ở đời trải qua
vô lượng kiếp độ các chúng sanh làm cho họ xa ĺa sự
khổ, hoặc thị hiện nhập Niết Bàn. Hoặc có năng lực
làm tất cả kiếp thu lại thành một sát na, hay trong
sát na kéo dài ra tất cả kiếp, kiếp và sát na không
hơn không kém.
Cho đến tất cả chúng sanh chưa giải thoát hết, trong
sát na đồng thời hiện khắp ở các thế giới nầy làm
các phật sự như thế không có lúc nào tạm dừng nghỉ
lại vô công dụng. Như trong niệm niệm hiện các oai
nghi khuôn thức của các đức Phật ở khắp vô lượng thế
giới Phật trên đầu sợi lông giữa hư không nhưng vô
công dụng, cho đến đầy khắp cả hư không những đầu
sợi lông hiện các thế giới cũng đều làm như thế.
Lại nữa tất cả bụi ở trong các thế giới, trong mỗi
hạt bụi lại có thế giới nhiều hơn số bụi ở tất cả
cơi Phật cũng khoảng một sát na trong khắp mỗi một
thế giới đó tự nhiên hiển hiện lên đầy đủ những hành
vi đoan trang của Phật lúc ngài sanh lên cung trời
cho đến khi nhập diệt, giải thoát vô lượng chúng
sanh, niệm niệm như thế cho đến hết giới hạn thời
gian vị lai cũng thường đem lại lợi ích chúng sanh,
dù hư không kia có hết chúng sanh giới có tận cũng
không dừng nghỉ nhưng thế giới Phật không tăng hạt
bụi cũng không giảm. Tại sao? Là v́ tất cả pháp khác
nào ảo ảnh không bền chắc.
Thí như các đại Bồ tát nhiều như số bụi ở mười
phương thế giới Phật đến dự hội nầy cùng ở tại nước
Ma Kiệt Đề với diện tích độ mười hai do tuần lại
không trở ngại lẫn nhau. Trong mỗi hạt bụi các ngài
mang lại dung chứa vô số thế giới Phật hoặc h́nh thế
ngoảnh lên hay úp xuống, đối diện hoặc đâu lưng, dựa
một bên hay chồng chất nhau nhưng không trở ngại
nhau. Như người nằm mơ chỉ tại một nơi nhưng lại xảy
ra rất nhiều chuyện, v́ do không thật nên việc nầy
không trở ngại việc kia.
Các thế giới cũng đều duy Tâm hiển hiện hoặc thấy
kiếp hỏa vừa hừng cháy hay đă thiêu sạch thế giới,
hoặc do phong đại dựng thành, hoặc là tịnh hay uế
hoặc không có Phật cũng đều do theo tự tâm nghiệp
của chúng sanh nên thấy những việc không đồng nhau
như thế.
Như loài quỷ đói bị sự đói khát dày ḍ thân tâm, bọn
nó đi qua sông Hằng hoặc có hạng thấy đó là nước,
loại xem đó là tro than máu huyết tanh hôi phẩn giải
thối tha hết sức là dơ bẩn. Chúng sanh cũng vậy đều
tùy theo nghiệp lực hoặc thấy thế giới phật là thanh
tịnh hay nhơ uế, Phật ở đời hay nhập Niết Bàn, hoặc
thấy Phật ngồi ở đạo tràng nói pháp cho đại chúng
nghe mà thính chúng có kẻ nghe nói về đệ nhứt nghĩa
đế, người lại nghe khen ngợi pháp bố thí. Có người
lại thấy Phật thân ngài cao gấp đôi người thường,
hay cao hơn bảy lần hoặc cao một do tuần hay trăm do
tuần, ngàn do tuần. Có người thấy ánh sáng của Phật
như ánh nắng mặt trời vừa mọc, kẻ lại thấy như ánh
sáng trăng tṛn. Kẻ lại bị nghiệp chướng gặp lúc
Phật Thế Tôn đă nhập diệt lâu xa rồi, người th́
không được nghe danh hiệu ngài, có khác chi loài quỷ
đói khát trước ḍng sông Hằng rộng dài mênh mông lại
không thấy nước mà chỉ thấy toàn là những vật dơ
bẩn.
Có kẻ thấy các đức Phật đều từ thế giới các ngài thị
hiện ra h́nh dáng các bậc Bồ tát có oai đức đến dự
pháp hội nầy. Hoặc có thế giới ở đó chúng sanh chỉ
thấy là kiếp hỏa thiêu đốt. Cũng có thế giới chúng
sanh lại thấy ấm no phồn thịnh dân cư đều gặp Phật.
Có kẻ thấy đức Như Lai thu tất cả thế giới để vào
một cơi Phật, đem một thế giới Phật để vào tất cả
cơi.
Như các người mắc bịnh nhặm mắt dù cùng ở chung một
chỗ nhưng người thấy vầy kẻ thấy khác không ai giống
ai chỉ v́ do bịnh nhặm mắt nên không nhận được sự
thật. Chúng sanh cũng vậy sắc tánh vốn vô ngại chỉ
v́ tâm duyên theo sự sai biệt nên che lấp chánh
kiến, v́ vậy không thấu rơ được sự chơn thật.
Nầy Phật tử! Giờ đây ta lại nói sơ lược về pháp an
trụ tam muội nầy. Như các đức Phật Thế Tôn an trụ
trong tam muội Như Lai bất tư nghị cảnh giới trong
khoảng một niệm khắp vô lượng thế giới chư Phật trên
đầu sợi lông cùng khắp hư không và mỗi hạt bụi ở thế
giới Phật đều có pháp giới nhiều như bụi ở thế giới,
v́ để làm lợi ích cho chúng sanh nên mỗi sát na thị
hiện ra các phương tiện oai nghi cử chỉ của các đức
Phật nhiều như số bụi ở mười phương thế giới Phật.
Cho đến chúng sanh chưa chứng đắc trí giác vô thượng
th́ không bao giờ các ngài tạm dừng nghỉ. Một Phật
như thế, vị thứ hai, thứ ba cho đến tất cả các đức
Phật ở khắp mười phương đều hiện ra sức oai đức như
thế cả.
Khi đó Đức Tạng Bồ tát vừa nghe lời dạy xong ngay
lúc đang ngồi tại pháp toà liền đắc được tam muội
nầy, tức khắc thấy được vô lượng đức Phật, biết hết
các oai đức và sức phương tiện của các đức Phật. Nhờ
năng lực tam muội nầy cũng có thể hàng phục được
chúng sanh, các Bồ tát nhiều bằng trăm lần số cát
sông Hằng đều chứng được nhiều thứ tam muội, vô sanh
nhẫn và các địa, ngài Quán Tự Tại v.v... các đại Bồ
tát an trụ bậc thập địa đă hoàn măn công đức diệu
hạnh, đều đă từng đắc được tam muội nầy từ lâu xa
rồi có năng lực làm cho trong một sát na bao dung vô
lượng kiếp, trong một mảy bụi lại chứa vô số thế
giới, chỉ trong khoảng một niệm lại hiện khắp tất cả
thế giới vô lượng chúng sanh, v́ hằng do sức vô công
dụng nên tự nhiên thị hiện các Phật sự. Dù các Bồ
tát nầy ngồi nghe được pháp như thế nhưng cũng không
có thêm ǵ như b́nh đă đầy nước đem để ngoài mưa
cũng không chứa thêm một giọt nước, các vị ấy cũng
giống thế.
Khi đó đức Thế Tôn nhập trong định phóng ánh sáng
giữa chặng mày tên là "Đại hiển phát" bao nhiêu Bồ
tát chưa chứng thập địa công hạnh hăy c̣n nhờ sức
hữu công dụng chạm phải ánh sáng này đều thấy giữa
không trung vô lượng thế giới Phật nằm trên đầu sợi
lông và trong hạt bụi khác chi hạt cải trắng đựng
trong b́nh lưu ly người nh́n liền thấy, các vị Bồ
tát nh́n được tất cả thế giới Phật trong hạt bụi
cũng giống như thế. Các vị lại thấy tất cả các đức
Phật ở thế giới nơi đó nơi mỗi thân Phật lại thấy
thân tất cả các Phật. Mỗi một Phật có vô lượng tên,
các ngài đều v́ muốn đem lại sự lợi ích cho chúng
sanh nên niệm niệm thường thị hiện ở các thế giới
Phật tự nhiên thành đạo vô thượng Bồ đề.
Thí dụ như trên cây cột cao vót treo viên ngọc như ư
tự nhiên làm mưa rơi xuống các thứ ngọc báu tùy theo
ư thích chúng sanh đều được thỏa măn, đức Như Lai
cũng vậy hiện thành chánh giác tự nhiên độ thoát
chúng sanh vô lượng trong các thế giới nầy, các
chúng sanh đều khác biệt nhau nhưng không hề bị cách
ngại, giống như kẻ có thần thông bay dạo giữa hư
không xuyên qua núi non biển sông vách đá mà không
bị chi trở ngại. Tại sao thế? Là v́ tất cả thế giới
của sáu loài đều như ảo hóa không chắc thật. Các vị
Bồ tát đă thấy như thế nên đều thấy tự thân hiện
khắp tất cả thế giới, trong một niệm hiện ra trước
một phật, thời gian trải qua là một kiếp, hai kiếp,
ba kiếp, trăm kiếp ngàn kiếp, hoặc trong giây lát
hay trong một niệm tỏ ḷng cung kính hay nghe Phật
nói về các môn Ba La Mật, Đà Ra Ni hay các địa, thần
thông. Do v́ trong tất cả kiếp lại dung chứa vào một
niệm nên tâm các ngài sanh sự nghĩ tưởng cho là lạ
lùng khó gặp mới nhủ thầm: Tại sao đức Thế Tôn có
oai đức tự tại trong một sát na lại làm cho ta hoàn
măn thiện căn phước đức của vô lượng kiếp tu tập,
mau chứng được sức oai thần vĩ đại của tam muội "Như
Lai bất tư nghị cảnh giới".
Lúc đó Đức Tạng Bồ tát v́ mong muốn cho chúng sanh
hưởng được sự lợi ích nên lại hỏi Bồ tát Phổ Hiền:
Nếu có người muốn chứng tam muội cần phải tu phước
đức Bố thí, tŕ giới, trí huệ ra làm sao? Cúi xin
ngài dạy bảo!
Bồ tát Phổ Hiền là bậc hiện thân thành chánh giác
giáo hóa chúng sanh khắp các thế giới thanh tịnh
trong mười phương bảo với ngài Đức Tạng rằng:
Nầy Phật tử! Nếu có người nào muốn chứng tam muội
nầy trước tiên hết nên tu phước tích chứa căn lành
là nên hằng thường cúng dường Phật, Pháp, Tăng và
cha mẹ, luôn luôn chở che săn sóc cho tất cả kẻ
nghèo cùng khổ sở không được ai cứu giúp không nơi
nương tựa rất đáng thương xót, chính ngay thân thể
ḿnh cũng không tiếc rẻ. Tại sao? V́ cúng dường Phật
được phước đức vĩ đại mau thành tựu trí giác vô
thượng và cũng được năng lực làm cho chúng sanh đều
được an lạc. Cúng dường pháp được báo trí huệ tăng
trưởng chứng pháp tự tại có khả năng thấu rơ thật
tánh của tất cả pháp. Cúng dường Chư Tăng được tăng
trưởng vô lượng tài sản phước đức trí huệ thành tựu
được Phật đạo. Cúng dường cha mẹ Ḥa thượng, tôn sư
và các vị mà ḿnh nhờ cậy đó là những bậc có công ơn
lớn nên phải thường nhớ đến thâm ơn luôn nghĩ các
báo đáp lại bội phần. Tại sao? V́ kẻ biết ơn dù ở
trong sanh tử nhưng căn lành không bao giờ hư hoại,
c̣n kẻ không biết ơn căn lành diệt mất sẽ tạo tác
nghiệp ác, v́ thế đức Như Lai ca ngợi kẻ biết ơn chỉ
trích người vong ơn. Lại c̣n thường thương xót cứu
giúp các chúng sanh khổ sở, Bồ tát do căn lành rộng
lớn nầy không bao giờ thối thất nơi trí giác vô
thượng.
Nếu như người có khả năng siêng tu phước đức thường
nghĩ báo ơn xót thương chúng sanh th́ trí giác vô
thượng nắm chắc trong tay. Các Phật tử: các ông phải
biết rằng tùy theo lời Phật dạy cúng dường ba ruộng
phước này, mỗi một ruộng đều kết thành vô lượng căn
lành.
Nầy Đức Tạng! Ông phải biết đến điều kế nữa là Bồ
tát nên gieo hạt giống vĩ đại do đó mới sanh được
mầm tam muội thành trái Bồ đề. Thế nào là gieo
giống? Đem các thứ hoa thơm đẹp lạ tràng hoa, hương
xoa, hương bột và các thứ âm nhạc cúng dường một
cách hết sức cung kính các đức Phật hiện tại hay
h́nh tượng Phật, lại c̣n nghĩ: Như lời nói trên khắp
cả hư không vô lượng thế giới trên đầu sợi lông và
trong hạt bụi thấy được bao nhiêu các đức Phật và
chúng Bồ tát của các ngài, tôi đều dự vào pháp hội
chư Phật đó, nhứt tâm chánh niệm đồng cúng dường
khắp cả. Như cúng dường một pháp tánh phật tức cúng
dường tất cả pháp tánh Phật. Nếu tôi cúng dường một
đức Như Lai tức cúng dường tất cả Như Lai theo sức
oai thần của mỗi mỗi Phật có khả năng thu bao nhiêu
kiếp để vào một niệm cùng bao nhiêu kiếp cúng dường
Như Lai. Nếu có chúng sanh nào tin và hiểu được pháp
gieo hạt giống vĩ đại tức có thể đắc được tam muội
rộng lớn "Như Lai bất tư nghị cảnh giới".
Nầy Phật tử! Ngươi nên y theo pháp nầy hằng ngày
cúng dường do đó hạ ḿnh đến chỗ Phật ngự dù chỉ một
lần kính lễ cũng làm cho hạt giống nầy tăng trưởng
nẩy mầm tam muội lại cũng nên thường lấy nước bố
thí, tŕ giới, đại nguyện trí huệ mà tưới.
Lại nữa Bồ tát khi muốn tưới mầm tam muội tu hạnh bố
thí không nên lựa chọn là ruộng phước là kẻ oán hay
người thân, kẻ thiện, ác, tŕ giới, phá giới, giàu
sang, nghèo hèn. Lại nghĩ bố thí cho kẻ giàu dù thật
là vô dụng nhưng ta phải tu tập hạnh bố thí.
Bồ tát cũng nên tŕ giới thanh tịnh thấy kẻ hủy phá
cấm giới khởi ḷng xót thương cao cả đừng có sanh
tâm chê bai chỉ trích.
Bồ tát lại nên phát đại nguyện Bồ đề: Ta sẽ quyết
định niệm niệm hiện thân khắp nơi cho đến vô lượng
thế giới của tất cả chư phật nhiều như bụi ở vào nơi
đó thành đẳng chánh giác chuyển pháp luân vi diệu,
độ tất cả chúng sanh như đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na
giống in không khác. Không khởi công dụng, thu vô
lượng kiếp để vào một niệm, tức ở trong mỗi một thế
giới như vậy, mỗi một thế giới đều hiện các oai nghi
của chư Phật nhiều như số bụi ở thế giới Phật. Mỗi
một oai nghi của Phật đều độ chúng sanh nhiều như số
cát sông Hằng khiến cho họ xả ly khổ, thường hành
như thế không có tạm dừng dù khi hư không có tận.
Nầy Phật tử! Kẻ tu trí huệ nên nhứt tâm nghe cho kỹ
bây giờ ta nói ra đây: Nếu có thiện nam thiện nữ nào
v́ cầu trí giác vô thượng phát tâm muốn chứng tam
muội nầy, kẻ đó nên trước hết phải tu trí huệ, bởi
tam muội nầy do trí huệ mới đắc được. Người tu trí
huệ nên thường xa lánh lời nói dối, nói thêu dệt và
các việc tán loạn vô ích. Dù khởi tâm đại bi đối với
chúng sanh nhưng lại nhiếp tâm chuyên chú không cho
tán loạn không nhiễm ô. Sau đó đến nơi tinh xá nh́n
h́nh tượng Phật tô điểm bằng màu vàng hoặc thuần
vàng ṛng làm thành, thân tướng hoàn măn có vô lượng
hóa Phật thể nhập vào tam muội tuần tự ngồi ở trong
viên quang. Tức đối ngay trước tượng nầy hành giả
làm lễ đầu chấm sát đất, khởi tâm nghĩ rằng: Ta nghe
mười phương vô lượng Phật đang ở đời hiện tại là:
Phật Nhứt Nghĩa Thành, Phật A Di Đà, Phật Bảo Tràng,
Phật A Súc, Phật Tỳ Lô Giá Na, Phật Bảo Nguyện, Phật
Bảo Quang.... đối với các đức Phật nầy tùy theo tâm
ưa thích vị nào hết ḷng tôn trọng sanh tín tâm cao
cả trong sạch tưởng h́nh tượng Phật đó là thân chơn
thật của đức Như Lai cung kính tôn trọng như được
gặp thân sống hiện tiền. Quán kỹ từ trên xuống duới
nhứt tâm không xao lăng, rồi đi đến chỗ thanh vắng
ngồi ngay ngắn tưởng nhớ đến vị Phật đó như ngài
hiện thân trước mặt cách chừng khoảng cánh tay, tâm
luôn luôn nhớ đến không để lảng quên. Nếu như có hơi
quên liền trở lại chỗ cũ nh́n h́nh Phật lại. Lúc
quán như thế sanh tâm hết sức tôn trọng cung kính
khác nào chơn thân Phật hiện ra trước mắt rơ ràng
tách bạch, không c̣n nghĩ đó là h́nh tượng. Thấy rồi
liền nên lấy tràng hoa thơm, hương xoa, hương bột,
hương đốt cung kính đi nhiễu đức Phật đó ba ṿng rồi
dâng các thứ trên lên cúng dường. Người này nên nhứt
tâm tưởng niệm như thế, thường coi các đức Thế Tôn
hiện thân trước mặt. Nhưng đức Thế Tôn là bậc thấy
tất cả, nghe tất cả, biết tất cả chắc các ngài biết
rơ tâm ta, nghĩ kỹ thế rồi tưởng thấy Phật đă hoàn
thành, trở lại chỗ thanh vắng nhiếp niệm tưởng Phật
trước mắt đừng để cho quên mất. Nhứt tâm cần tu như
vậy trải qua ba tuần thất (hăm mốt ngày) nếu kẻ đầy
đủ phước đức tức thấy Như lai hiện thân trước mắt,
c̣n kẻ do báo chướng đời trước tạo nghiệp ác không
đặng thấy nhưng nếu siêng năng không lui sụt không
tưởng ǵ khác trở lại cũng mau được thấy Phật. Tại
sao? V́ nếu có người cầu trí giác vô thượng chuyên
tâm tu tập nơi một công hạnh th́ sẽ chắc chắn thành
tựu. Nếu người nào đối với pháp ḿnh đang tu tập
luôn luôn sợ hăi thối lui, họ đă không giải thoát
được ḿnh có đâu độ thoát các chúng sanh đang nằm
trong cảnh khổ. Nếu ai gặp được phương pháp thẳng
tắt mau thành tựu Bồ đề chơn chánh lại không siêng
năng tu tập, nên biết thật là luống uổng cho cơi đất
nầy đă ra công mang nặng họ tự bao giờ.
Thí dụ như có người uống ngụm nước nơi một biển cả
tức là đă uống nước của tất cả biển ở cơi Diêm Phù
Đề nầy. Bồ tát cũng như thế nếu đủ năng lực tu tập
biển trí giác bồ đề nầy tức là đă tu tập tất cả tam
muội, các nhẫn, các địa, các Đà La Ni. Thế nên cần
phải siêng năng tu tập liên tục đừng để cho biếng
trễ buông lung, thu thúc tâm trụ lại một chỗ phải
làm sao cho hiện tiền được thấy Phật. Tu tập như vậy
lúc vừa mới thấy Phật nên nghĩ: Đó là Phật chơn thân
hay h́nh tượng? Nếu như biết rằng Phật ḿnh thấy đó
là chơn thân Phật liền đối trước Phật qùy hai gối
xuống chấp tay lại để tỏ ḷng cung kính, nghĩ đến
tất cả đức Phật ở vô biên thế giới có vô lượng oai
đức, đại từ, đại bi, các ngài hiện ra trước mặt ta
vậy ta phải nên thưa hỏi ngài: Cúi xin Thế Tôn! Ngài
hăy dạy cho con về pháp tam muội "Như Lai bất khả tư
nghị cảnh giới". Nếu được nghe Như Lai dạy về các
pháp bất cứ pháp ǵ cũng nên tin chắc chắn chớ sanh
ḷng nghi hoặc th́ ngay tại đó sẽ đắc tam muội. Nếu
do nghiệp chướng đời trước nên không được nghe pháp,
phải nên suy nghĩ tất cả các pháp như tṛ ảo hóa như
trăng đáy nước, như bóng trong gương, như giấc chiêm
bao, nên quán sát rơ ràng pháp tánh không tịch.
Nhưng cũng biết Như Lai thông đạt tất cả pháp như ảo
mộng, tự tánh Như Lai không phải mộng không phải ảo
dường như hư không, do năng lực trí và bi thị hiện
trước mặt con, cúi xin ngài hăy xót thương phóng ánh
sáng xanh từ bi chói rọi thân tâm con cho con tiêu
trừ các khổ. Liền tức khắc đức Phật phóng ánh sáng
từ tướng lông trắng giữa chặng mày tên là "Thanh
Diễm", ánh sáng kia vừa chiếu các khổ liền sạch hết,
ngay khi đó chứng được pháp "Quang Minh Nhẫn" thông
đạt tất cả vô lượng tam muội. Trong đêm thứ bảy
chiêm bao thấy Như Lai thọ kư sẽ thành bậc chánh
đẳng giác.
C̣n nếu như hành giả biết được Phật ḿnh thấy đó là
Phật h́nh tượng, nên nghĩ các Phật và chúng sanh
cũng đều như tượng chỉ do theo tưởng tượng nên thành
tuy thấy thật vốn không thể tánh, đă biết đức Như
Lai như ảo như hóa, như mộng, như bóng nước như thế
rồi tự nhiên hiện tiền thấy Phật cũng như cảnh trong
mộng không thật, không phải sanh mà sanh không phải
diệt mà diệt, không phải vận hành lại vận hành không
phải thức lại thức, không phải hữu vi lại hiện vật
thể, không phải ngôn thuyết lại nói các pháp, không
phải ngă, thọ mạng, chúng sanh, không phải sanh
trong sáu đường, không phải biết, không phải y cứ,
không phải tức là uẩn, không phải tại các uẩn lại
bày ra các uẩn cho đến xứ, giới cũng vậy.... tất cả
không phải là hữu nhưng cũng không phải là vô. Thế
nên các đức Phật và tất cả pháp chơn thật b́nh đẳng
đều đồng nhứt tướng. Giống như bóng dương diệm...
tất cả chư Phật và thế giới đều chỉ cho từ tâm,
thức, tư tưởng hiển hiện, thức tưởng làm duyên sanh
ra vật thể, rốt ráo không phải thật hữu. Đấng Như
Lai đă ngoài tất cả thức, tưởng v́ vậy không nên có
quan niệm là thấy sắc tượng, phải biết sắc tượng tùy
theo ư sanh ra cho đến tất cả Phật chơn thật cùng
khắp hư không cũng như vậy dường như hư không đều
b́nh đẳng nhau không có sự khác biệt. Nếu ta phân
biệt tức thấy Phật, nếu bỏ phân biệt liền không thấy
ǵ, tự tâm làm Phật ngoài tâm không Phật, cho đến
tất cả Phật trong ba đời cũng vậy đều không có chỉ y
cứ tự tâm. Bồ tát nếu hiểu biết các Phật và tất cả
pháp đều chỉ là Tâm lượng sẽ đắc nhẫn tùy thuận hoặc
nhập sơ địa, sau khi bỏ thân sẽ liền sanh về thế
giới Diệu Hỷ hay thế giới Phật thanh tịnh là Cực Lạc
luôn luôn thấy đức Như Lai, đích thân cúng dường các
ngài.
Khi ấy ngài Đức Tạng lại hỏi Bồ tát Phổ Hiền:
Nếu có chúng sanh nào nghe được pháp môn nầy thọ
tŕ, đọc, tụng, giải nói, biên chép phổ biến, được
bao nhiêu phước?
Bồ tát Phổ Hiền đáp:
Nầy Phật tử! Ông hăy lắng nghe! Nếu có người có đủ
khả năng thu phục được tất cả chúng sanh trong ba
cơi làm cho họ đều thoát ly sanh tử đắc quả A La
Hán, đối với mỗi một La Hán dùng y phục, ngọa cụ,
món uống ăn, thang thuốc vi diệu trên cơi trời để mà
cúng dường trọn cả trăm kiếp. Sau khi các La Hán
nhập Niết Bàn lại cung kính xây tháp miếu bằng bảy
báu để cúng dường cho mỗi vị. Lại có người trong
trăm kiếp tŕ giới thanh tịnh tu nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định. Hai hạng trên dù đắc phước đức vô
lượng nhưng cũng không bằng người nghe được pháp môn
nầy tôn trọng tin nhận không hề hủy báng, phước kẻ
dưới đây hơn hai người trên rất nhiều mau thành
chánh giác.
Lúc bấy giờ vô lượng chư Phật ở tất cả thế giới
trong mười phương đều hiện thân ca ngợi Bồ tát Phổ
Hiền:
Hay lắm! Hay lắm! Phật tử! Lời ông vừa nói đúng như
thật.
Khi đó đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni phóng vô lượng
ánh sáng từ mặt ngài sáng soi khắp ba cơi, trên trời
rải xuống các thứ hoa thơm như mưa rơi, các nhạc
điệu tuyệt diệu tự nhiên vang lên, cơi đất hơi rung
động, trong ánh sáng vang ra bài kệ:
Ai nghe pháp nầy tâm thanh tịnh
Đắc các địa, định, đà la ni
Giới, nhẫn, tự tại, thần thông, lực
Chóng chứng vô thượng Phật giác trí.
Xoay chuyển pháp luân chưa từng có
Cũng như quá khứ các Thế Tôn
Trong một niệm thu về nhiều kiếp
Giữa hạt bụi hiện vô lượng cơi.
Vô số chúng sanh ch́m tam giới
Khổ năo luôn luôn dày ṿ thân
Tà kiến trói buộc mất chánh đạo
Niệm niệm đều làm được giải thoát.
V́ ngài Phổ Hiền đă từng chứng pháp môn nầy lâu rồi
nên lúc dạy ra cho chúng sanh đă làm cho ức ngàn
trời người qua được biển khổ đều đắc bất thối chuyển,
đối với ngôi vị chánh đẳng giác vô thượng. Bồ tát
Đức Tạng và tất cả Bồ tát trong hội, Trời, Rồng, A
Tu La v.v... đều hết sức vui mừng tin nhận và phụng
hành. |