|
Tôi
nghe như vầy vào khoảng thời gian đức Phật ngự tại tinh
xá Kỳ Hoàn thuộc nước Xá Vệ có ngàn vị tỳ theo tăng và
mười ngàn đại Bồ tát theo nghe pháp. Các vị nầy đều lấy
sự trang sức cao cả để tự tô điểm ḿnh, đều đă an trụ
nơi từng bậc không c̣n thối chuyển, tên các ngài là: Di
Lặc Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Vô Ngại Biện Bồ tát,
Bất Xả Đởm Bồ tát cùng với một số các vị bồ tát như vậy
câu hội. Trời vừa rạng sáng, đức Văn thù là bậc đại Bồ
tát đồng chơn từ chỗ ngài ở qua đến nơi Phật ngự; qua
đến, ngài đứng chờ Phật ngoài cửa. Lúc bấy giờ các đại
Thinh văn Xá Lợi Phật, Phú Lầu Na Di Đa La Ni Tử, Đại
mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha
Câu Sy La đều từ chỗ các ngài ở qua yết kiến Phật, đến
nơi đồng đứng chờ bên ngoài. Đức Phật biết đại chúng đă
tụ tập đầy đủ cả rồi, ngài liền rời chỗ ở ra bên ngoài
trải toạ cụ và ngồi lên trên đó.
Lúc đó Phật mới bảo Xá Lợi Phất:
Hôm nay ông có lư do ǵ trời vừa rạng sáng đă đến đứng
chờ bên cửa?
Xá Lợi Phất thưa:
Bạch Thế Tôn! Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng chơn Bồ tát đến
đứng chờ bên cửa trước hơn hết, c̣n chúng con chỉ là kẻ
đến sau thôi.
Phật liền day qua hỏi Văn Thù:
Có thật ông đến trước hết cả để mong yết kiến Như Lai
phải không?
Bồ tát Văn Thù liền trả lời:
Đúng như thế, bạch Thế Tôn! Con thật đến đây mong yết
kiến Như Lai, Tại sao con làm như thế? Thưa v́ con hâm
mộ chánh pháp, mong muốn đem lại sự lợi ích cho chúng
sanh. Con quán sát Như Lai tướng như, tướng bất dị,
tướng bất động, tướng bất tác, tướng vô sanh, tướng vô
diệt, tướng bất hữu, tướng bất vô, bất trụ phương, bất
ly phương, phi tam thế phi bất tam thế, phi nhị tướng
phi bất nhị tướng, phi cấu tướng phi tịnh tướng... con
vận dụng chánh quán Như Lai như thế để đem lại sự lợi
ích chơn thật cho chúng sanh.
Đức Phật bảo Văn Thù:
Nầy Văn Thù! Nếu ông có đủ năng lực nh́n Như Lai tâm
không giữ lại ấn tượng cũng không phải không giữ lại ấn
tượng, không tích tập h́nh ảnh cũng không phải không
tích tập.
Khi đó Xá Lợi Phất mới nói với Bồ tát Văn Thù:
Theo như lời ngài vừa nói sự thấy đức Như Lai của ngài
thật là hiếm có trong đời. V́ tất cả chúng sanh để thấy
Như Lai tâm không giữ lại ấn tượng h́nh ảnh chúng sanh,
giáo hóa tất cả chúng sanh đưa họ hướng về Niết Bàn mà
cũng không giữ lại tướng Niết Bàn, v́ tất cả chúng sanh
để tô bồi công đức vĩ đại nhưng tâm nào thấy tướng trạng
tô điểm kia.
Ngài Văn Thù Sư Lợi đồng chơn Bồ tát liền nói với Xá Lợi
Phất:
Đúng thế! Đúng Thế! Như lời ông vừa nói: đều v́ tất cả
chúng sanh tô bồi công đức vĩ đại nhưng tâm luôn luôn
không thấy một chút tướng trạng chúng sanh, v́ chúng
sanh tu công lập đức cao cả nhưng chúng sanh giới cũng
không có thêm hay bớt. Giả sử có một đức Phật ngự trong
đời, ngài sống lâu được một kiếp hay hơn một kiếp, một
thế giới do vị Phật nầy giáo hóa như vậy, rồi lại có vô
lượng vô biên hằng hà sa các đức Phật khác nữa, mỗi một
Phật như thế trụ ở thế gian một kiếp hay hơn một kiếp
ngày đêm thuyết pháp trong tâm không có một niệm tạm
dừng, mỗi một Phật độ được vô lượng Hằng hà sa chúng
sanh làm cho số chúng sanh nầy đều thể nhập Niết Bàn.
Nhưng chúng sanh giới cũng không thêm hay bớt... cho đến
các đức Phật giáo hóa các thế giới trong khắp cả mười
phương cũng như thế, mỗi một Phật thuyết pháp giáo hoá
độ được vô lượng hằng hà sa chúng sanh đưa tất cả bọn họ
đều vào Niết Bàn nhưng chúng sanh giới cũng không thêm
hay bớt.
Tại sao vậy?
V́ định tướng chúng sanh là bất khả đắc, không thể t́m
thấy được nên chúng sanh giới không hề tăng mà cũng
không bao giờ giảm.
Xá Lợi Phất lại hỏi ngài Văn Thù:
Nếu chúng sanh giới không thêm cũng không bớt, tại sao
Bồ tát lại v́ chúng sanh để cầu trí giác vô thượng?
Thường thực hành hạnh nói pháp?
Ngài Văn Thù hướng về Phật thưa rằng:
Nếu tất cả chúng sanh đều không tướng th́ cũng không có
việc Bồ tát cầu trí giác vô thượng và cũng không có
chúng sanh để Bồ tát v́ họ nói pháp. Tại sao vậy? Là v́
trong pháp c̣n dạy ta không có một pháp nào là có thể
được cả.
Liền đó Phật bảo Văn Thù:
Nếu không có chúng sanh, tại sao lại nói có chúng sanh
và chúng sanh giới?
Văn Thù Sư Lợi thưa:
Tướng chúng sanh giới như chư Phật giới.
Chúng sanh giới là hữu lượng phải không?
Lượng chúng sanh giới như lượng chư Phật giới.
Lượng chúng sanh giới có bờ mé không?
Lượng chúng sanh giới thật ngoài ṿng suy lường.
Tướng chúng sanh giới hữu trụ phải không?
Chúng sanh vô trụ dường như hư không.
Phật lại hỏi Văn Thù Sư Lợi:
Lúc tu Bát Nhă Ba La Mật như thế, sẽ như thế nào an trụ
Bát Nhă Ba La Mật?
Văn Thù Sư Lợi đáp:
Lấy pháp bất trụ là an trụ Bát Nhă Ba La Mật.
Phật lại hỏi:
Thế nào là pháp bất trụ gọi là an trụ Bát Nhă Ba La Mật?
Dụng vô trụ tướng tức là trụ Bát Nhă Ba La Mật.
Phật bảo Văn Thù:
Lúc an trụ Bát Nhă Ba La Mật các thiện căn tăng trưởng
thế nào? Tổn giảm ra sao?
Văn Thù Sư Lợi đáp:
Nếu đă an trụ Bát Nhă Ba La Mật như thế các thiện căn đă
không tăng cũng không giảm cho đến tất cả pháp cũng
không thêm cũng không bớt tánh tướng Bát Nhă Ba La Mật
không tăng không giảm.
Bạch Thế Tôn! Tu Bát Nhă Ba La Mật như thế sẽ không bỏ
pháp phàm phu nhưng cũng không nắm lấy pháp thánh hiền.
Tại sao con nói thế? Là v́ trụ Bát Nhă Ba La Mật th́
không thấy pháp nào có thể nắm được hay buông bỏ. Tu Bát
Nhă Ba La Mật cũng không thấy Niết Bàn đáng ưa thích,
sanh tử nên gớm nhờm. Sao lại thế? V́ đă không thấy có
sanh tử th́ tại sao lại c̣n nhàm chán được. Đă không
thấy có Niết Bàn làm sao c̣n thích ưa nữa. Nếu tu Bát
Nhă Ba La Mật như thế sẽ không thấy phiền năo nhơ nhớp
đáng bỏ, công đức thanh tịnh nên cầu, đối với tất cả
pháp tâm không lay động, đeo đuổi hay trốn chạy. Tại sao
vậy? V́ không thấy pháp giới có tăng hay giảm, thuận hay
nghịch. Bạch Thế Tôn! Nếu được như vậy mới gọi là tu Bát
Nhă Ba La Mật.
Bạch Thế Tôn! Không thấy pháp có sanh có diệt là tu Bát
Nhă Ba La Mật.
Bạch Thế Tôn! Không thấy các pháp có tăng có giảm tâm
không mong cầu, không thấy pháp tướng nên t́m cầu, không
thấy tốt đẹp hay xấu xa, không cho là cao thượng hay hạ
tiện, không nắm giữ không buông bỏ. Tại sao vậy? Pháp
không có tốt đẹp hay xấu xa v́ ngoài hết các tướng. Pháp
không có cao thượng hoặc hạ tiện v́ đồng đẳng với pháp
tánh. Pháp không nên nắm giữ hay buông bỏ v́ trụ thật
tế. Đó là tu Bát Nhă Ba La Mật.
Phật lại hỏi Văn Thù Sư Lợi:
Phải chăng pháp Phật chứng đắc được là không thù thắng?
Văn Thù Sư Lợi đáp:
Con không thấy pháp nào là có tướng thù thắng nhưng chỉ
như như. Đức Như Lai tự giác biết hết tất cả pháp đều
không, ngài đă chứng hiểu điều nầy.
Phật đáp:
Đúng thế! Đúng thế! Đức Như Lai Chánh Giác tự chứng pháp
không.
Văn Thù hỏi Phật:
Bạch Thế Tôn! Trong pháp không lại có tướng thù thắng có
thể nắm giữ được chăng?
Phật đáp:
Hay lắm! Tốt lắm! Nầy Văn Thù! Như lời ông vừa hỏi là
chơn pháp phải không? Rồi Phật tiếp: Vô thượng có phải
là Phật pháp không?
Văn Thù đáp:
Như lời Phật dạy vô thượng là Phật pháp, sao con lại nói
thế? Là v́ không có pháp nào có thể được đó là vô
thượng.
Bạch Thế Tôn! Tu Bát Nhă Ba La Mật như thế không gọi là
pháp khí, không phải là pháp phàm phu, cũng không phải
là Phật pháp, không phải pháp tăng trưởng.
Bạch Thế Tôn! Lúc tu Bát Nhă Ba La Mật không thấy có,
pháp nào để mà phân biệt, suy gẫm.
Phật hỏi:
Ông đối với Phật pháp không suy gẫm sao?
Văn Thù Sư Lợi đáp:
Không phải thế, thưa Thế Tôn! Như con suy gẫm không thấy
có Phật pháp, cũng không thể phân biệt là pháp phàm phu
hay pháp Thinh văn hoặc pháp Bích Chi Phật. Như vậy gọi
là Phật pháp vô thượng.
Lại nữa thưa Thế Tôn! Khi tu Bát Nhă Ba La Mật không
thấy tướng phàm phu không thấy tướng Phật pháp, không
thấy các pháp có tướng quyết định. Khi tu Bát Nhă Ba La
Mật cũng không thấy dục giới, sắc giới, vô sắc giới,
tịch diệt giới. Tại sao vậy? V́ hể thấy có pháp là có
tướng diệt tận.
Khi tu Bát Nhă Ba La Mật không thấy Phật pháp nên t́m
cầu pháp phàm phu cần xả bỏ, không thấy phải trừ sạch
pháp phàm phu không thấy tâm chứng biết Phật pháp.
Phật dạy:
Hay lắm! Tốt lắm! Nầy Văn Thù ông đă nói một cách hết
sức sâu xa rơ ràng về tướng Bát Nhă Ba La Mật là pháp ấn
mà đại Bồ tát cần tu học, đến ngay như hàng thinh văn,
duyên giác, hữu học, vô học cũng không được bỏ rơi ấn
chứng nầy để tu đạo quả.
Nầy Văn Thù! Nếu có ai vừa nghe được pháp nầy tâm không
kinh hoàng sợ hăi, phải biết rằng người nầy đă từng vun
trồng thiện căn trước một ngàn Phật cho đến cũng đă gieo
giống công đức trước trăm ngàn ức đức Phật mới có đủ khả
năng nghe pháp Bát Nhă Ba La Mật nầy mà không tự thấy
run sợ.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:
Bạch Thế Tôn! Con muốn nói thêm ư nghĩa của Bát Nhă Ba
La Mật.
Phật đáp:
Được ông hăy nói đi!
Bạch Thế Tôn! Khi tu Bát Nhă Ba La Mật không thấy pháp
nào là nên trụ, cũng không thấy cảnh giới là nên giữ lấy
hay buông bỏ. Tại sao thế? V́ các đức Như Lai không thấy
tướng trạng cảnh giới chư Phật th́ làm ǵ lại nắm giữ
cảnh giới Thinh văn, Duyên giác, phàm phu. Không ghi giữ
tướng nghĩ tưởng, cũng không giữ tướng không thể nghĩ
lường được, tự chứng PHÁP KHÔNG ngoài lănh vực trí thức
không thấy các pháp có chừng ấy tướng trạng. Hàng đại Bồ
tát tu tập được như vậy là đă từng cúng dường vô lượng
trăm ngàn muôn ức các đức Phật, vun trồng các căn lành
nên mới đủ khả năng lănh hội pháp Bát Nhă Ba La Mật sâu
xa mà không sanh tâm sợ hăi.
Thưa Thế Tôn! Lại nữa khi tu Bát Nhă Ba La Mật không
thấy bị trói buộc hay được cổi mở, đối với hạng phàm phu
đến người trong ba thừa không thấy có tướng trạng sai
biệt.
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:
Nầy Văn Thù! C̣n ông đă có cúng dường bao nhiêu đức
Phật!
Văn Thù đáp:
Con cùng các đức Phật tướng như ảo hóa, đă không thấy ai
là người cúng dường ai là người nhận thọ.
Giờ đây ông an trụ Phật thừa sao?
Như con gẫm nghĩ đă không thấy dù là một pháp th́ làm
sao lại trụ nơi Phật thừa.
Như thế ông không đắc được Phật thừa phải không?
Như Phật thừa kia bất quá chỉ là một cái danh từ thôi
không có thể nắm được cũng không thể thấy, con làm sao
đắc?
Nầy Văn Thù! Ông đắc trí vô ngại phải không?
Con tức là vô ngại rồi, tại sao lại có chuyện dùng vô
ngại để đắc vô ngại.
Ông ngồi ở đạo tràng phải không?
Tất cả các Như Lai đă không ngồi ở đạo tràng, tại sao
con lại riêng rẻ một ḿnh ngồi lại đạo tràng! Tại sao có
việc như thế? V́ hiện thấy rằng các pháp trụ thật tế.
Thật tế là thế nào?
Thân kiến là thật tế.
Thế nào thân kiến là thật tế?
Thân kiến tướng như như, không phải thật không phải hư,
không đi không lại, cũng là thân lại cũng không phải là
thân đó là thật tế.
Xá Lợi Phất thưa Phật:
Bạch Thế Tôn! Nếu ai nhận định rơ ràng được thật nghĩa
nầy gọi là đại Bồ tát. Tại sao con nói như vậy? Là v́ họ
là người có đủ năng lực lănh hội Bát Nhă Ba La Mật cao
xa tâm lại không hề sợ hăi, không kinh hoàng, không hối
hận.
Di lặc Bồ tát cũng thưa với Phật:
Bạch Thế Tôn! Người nghe bát nhă ba la mật như thế hoàn
măn pháp tướng tức là đă gần kề chỗ Phật ngồi. Tại sao?
V́ đức Như Lai hiện giác ngộ pháp tướng này.
Văn Thù Sư Lợi lại bạch:
Thưa Thế Tôn! Người nghe Bát Nhă Ba La Mật cao xa nầy
không sợ hăi, không kinh hoàng, không mê muội, không hối
hận phải biết họ đă được thấy đức Phật.
Khi đó có vị tín nữ tên là Vô Tướng cũng cất lời thưa
Phật:
Bạch Thế Tôn! Pháp phàm phu, Thinh văn, Bích Chi Phật,
Bồ tát, Phật....các pháp này đều là vô tướng. Thế nên
nghe được bát nhă ba la mật không sợ hăi, không kinh
hoàng, không mê muội, không hối hận. Tại sao? V́ tất cả
pháp vốn là vô tướng.
Phật dạy Xá Lợi Phất:
Nầy Xá Lợi Phất! Có kẻ thiện nam thiện nữ nào nghe được
Bát Nhă Ba La Mật cao xa như vậy tâm nhận chân được
không sợ hăi, không kinh hoàng, không mê muội, không hối
hận. Ông nên biết rằng người nầy trụ được địa vị bất
thối chuyển.
Nếu có người nghe Bát Nhă Ba La Mật tâm họ không sợ hăi
lại ưa thích vâng giữ, vui mừng không có niệm chán nhàm
tức là đă hoàn măn bố thí ba la mật, tŕ giới ba la mật,
nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền định ba
la mật, bát nhă ba la mật. Họ lại có đủ khả năng tŕnh
bày rơ ràng về Bát Nhă Ba La Mật cho kẻ khác tin hiểu, y
theo lời dạy để rồi thực hành.
Phật lại bảo Văn Thù Sư Lợi:
Ông quán sát nghĩa nào để đắc vô thượng chánh đẳng giác,
an trụ vô thượng chánh đẳng giác?
Văn Thù đáp:
Con không đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác, đă không
an trụ Phật thừa th́ sao lại c̣n sẽ đắc vô thượng chánh
đẳng giác? Như lời con vừa nói tức là tướng chánh giác.
Phật khen Văn Thù:
Hay lắm! Đúng lắm! Ông có đủ năng lực đối với pháp cao
xa nầy diễn nói ư nghĩa của nó một cách hết sức khéo
léo. Ông từng theo các Phật đời quá khứ vun trồng căn
lành đă lâu lắm rồi, dụng vô tướng pháp tịnh tu phạm
hạnh.
Văn Thù thưa:
Thông thường thấy có tướng nên lúc không lại nói là
không tướng, nhưng con hiện nay không thấy có tướng cũng
không thấy không tướng sao ngài lại nói rằng con dùng vô
tướng pháp tịnh tu Phạm hạnh?
Phật hỏi Văn Thù:
Ông thấy giới Thinh văn không?
Thấy.
Ông thấy thế nào?
Con không khởi sự thấy theo phàm phu, thấy theo thánh
hiền, thấy theo bực c̣n tu học, thấy theo bực đă đạt
đạo, thấy theo đại thừa, thấy theo tiểu thừa, thấy đă
được điều phục, thấy không phải điều phục nữa, không
phải thấy mà cũng không phải không thấy.
Xá Lợi Phất mới hỏi Văn Thù:
Hiện giờ ông quán thấy Thinh văn thừa như thế, c̣n như
quán Phật thừa sẽ ra sao?
Văn Thù đáp:
Không thấy Bồ tát pháp cũng không thấy tu hạnh bồ đề và
người chứng quả bồ đề.
Xá Lợi Phất lại hỏi:
Thế nào là Phật? Thế nào là quán?
Văn Thù hỏi gặn lại:
Thế nào là ta?
Ta chẳng qua chỉ là danh tự mà thôi, danh tự lại không
tướng.
Đúng thế! Đúng thế! Như cái Ta cũng chỉ là danh tự, Phật
cũng chỉ là một thứ danh tự khác thôi. Tướng danh tự
không tức là Bồ đề, không chạy theo danh tự để t́m cầu
tướng Bồ đề, tướng Bồ đề ngoài tất cả ngôn thuyết. Tại
sao? V́ ngôn thuyết và bồ đề cả hai đều không.
Lại nầy Xá Lợi Phất! Ông hỏi ta thế nào là Phật? Thế nào
là quán? Quán Phật là nhận chân được không sanh, không
diệt, không đi không lại không phải danh không phải
tướng đó gọi là Phật. Như tự quán thân thật tướng quán
Phật cũng như thế, chỉ có bậc trí là hiểu biết được
thôi, như trên gọi là quán Phật.
Ngay khi ấy Xá Lợi Phất thưa lại Phật:
Bạch Thế Tôn! Như lời ngài Văn Thù nói về Bát Nhă Ba La
Mật thật không phải là lănh vực hiểu biết của hàng sơ
học Bồ tát.
Ngài Văn Thù tiếp lời:
Chẳng những sơ học Bồ tát không thể hiểu nổi ngay như
hàng nhị thừa công hạnh đă hoàn măn cũng c̣n không đủ
năng lực để hiểu được, pháp ta nói như thế khó có ai có
thể hiểu được. Tại sao? V́ tướng Bồ đề thật không thể
dựa theo một pháp nào để hiểu biết về nó được, không
thấy không nghe không nhớ không sanh không diệt, không
nói không nghe, tánh tướng bồ đề không tịch như thế
không chứng không biết, không h́nh không tướng sao lại
nói sẽ có nguời đắc bồ đề?
Xá Lợi Phất lại hỏi Văn Thù:
Phật ở nơi pháp giới không chứng Bồ đề sao?
Không phải thế đâu!
Nầy Xá Lợi Phất! Tại sao ta nói thế? Là v́ đức Thế Tôn
tức là pháp giới, đâu có chuyện dùng pháp giới để chứng
pháp giới!
Xá Lợi Phất! Tướng của pháp giới tức là Bồ đề. Tại sao
vậy? V́ trong pháp giới không có tướng chúng sanh, bởi
lẽ tất cả pháp đều không. Tất cả pháp đều không tức là
Bồ đề, không nhị tướng ngoài tất cả sự phân biệt.
Xá Lợi Phất! Trong sự không phân biệt sẽ không có kẻ
biết, không có kẻ biết tức là không có ngôn thuyết,
không có tướng ngôn thuyết tức không phải hữu không phải
vô, không phải biết không phải không biết tất cả pháp
đều như thế. Tại sao? V́ tất cả pháp đều ngoài hết các
sự thấy biết tánh tự quyết định như tội nghịch không thể
suy lường được. Sao ta lại nói thế? Là v́ thật tướng các
pháp không thể bị hủy hoại, tội nghịch giống như vậy
cũng không bổn tánh không sanh lên trời không rơi vào
địa ngục cũng không thể nhập Niết Bàn. Tại sao? V́ tất
cả nghiệp duyên đều trụ thật tế không đi, không đến
không phải nhơn không phải quả. Tại sao?
V́ pháp giới không biên giới không có khoảng trước phía
sau. Thế nên Xá Lợi Phất! Nếu người thấy có tỳ kheo nào
phạm trọng giới không sa vào địa ngục kẻ thanh tịnh tu
hành không nhập Niết Bàn, Tỳ kheo như thế không phải nên
cúng dường không phải không nên cúng dường, không phải
sạch hết phiền năo không phải c̣n phiền năo.
Tại sao?
V́ đối với các pháp tâm vẫn một mực b́nh đẵng.
Thế nào gọi là pháp nhẫn bất thối?
Không có chút pháp nào hơi có một ít tướng sanh diệt đó
là pháp nhẫn bất thối.
Thưa c̣n thế nào là tỳ kheo không điều phục?
Hàng A La Hán dứt sạch hết phiền năo chính là hạng không
điều phục. Tại sao? Là v́ các kiết sử đă trừ sạch rồi
nên không c̣n ǵ cần phải điều phục nên gọi là không
điều phục.
Nếu tâm hành lỗi lầm gọi là phàm phu, v́ chúng sanh phàm
phu không thuận theo pháp giới nên gọi là lỗi lầm.
Hay lắm! Như lời ngài dạy bây giời tôi mới hiểu được rơ
ràng nghĩa A La Hán dức sạch hết các phiền năo.
Đúng như vậy! Ta đây tức là chơn thật A La Hán sạch hết
phiền năo, v́ ta đă dứt bỏ được ḷng mong muốn cầu kết
quả Thinh văn, Bích Chi Phật, thế nên mới gọi là dứt
sạch phiền năo đắc quả A La Hán.
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:
Lúc các Bồ tát ngồi nơi đạo tràng có giác ngộ được vô
thượng bồ đề không?
Bồ tát lúc ngồi nơi đạo tràng không có giác ngộ vô
thượng bồ đề. Tại sao con nói thế? Như tướng bồ đề không
có mảy may pháp nào là có thể đắc được nên gọi là vô
thượng bồ đề. Bồ đề vô tướng không ai có thể ngồi lại
cũng không ai có thể đứng dậy. V́ lư do nầy con không
thấy Bồ tát ngồi nơi đạo tràng cũng không thấy giác ngộ
chứng đắc vô thượng bồ đề.
Bạch Thế Tôn! Bồ đề tức là ngũ nghịch, ngũ nghịch tức là
Bồ đề, Bồ đề và ngủ nghịch không phải hai tướng sai khác
nhau không có sự giác ngộ không có kẻ giác, không có sự
thấy không có nguời thấy, không có sự biết không có
người biết, không có sự phân biệt không có người phân
biệt...các tướng như thế gọi là Bồ đề, thấy tướng ngũ
nghịch cũng giống như vậy. Nếu có ai nói rằng thấy Bồ đề
để mà thủ chứng, nên biết người nầy thuộc vào hạng tăng
thượng mạn.
Ngay khi đó Phật baỏ Văn Thù Sư Lợi:
Ông nói ta LÀ ( ) Như Lai, cũng có nghĩa ta LÀM ( ), Như
Lai phải không?
Không phải thế thưa Thế Tôn! Con đă không nói Như Lai
làm Như Lai sao? Không có tướng NHƯ để có thể nói LÀM
NHƯ. Cũng không có Như Lai và trí không có hai tướng
riêng biệt. Tánh KHÔNG làm Như Lai chỉ có danh tự, làm
sao con lại nói LÀ Như Lai được?
Phật hỏi:
Ông nghi Như Lai sao?
Thưa không, bạch Thế Tôn! Con quán sát Như Lai không có
tánh quyết định không sanh không diệt nên không c̣n mối
hoài nghi nào.
Hiện nay ông không nghĩ Như Lai xuất hiện nơi thế gian
sao?
Nếu có Như Lai xuất hiện nơi thế gian, tất cả pháp giới
cũng sẽ hiện diện nơi đời.
Ông cho rằng tất cả đức Phật nhiều như số cát sông Hằng
thể nhập Niết Bàn chăng?
Các đức Phật duy nhứt tướng ngoài hết các sự hiểu biết
suy lường.
Đúng thế! Đúng thế! Phật là nhứt tướng, tướng không thể
suy lường được.
Bạch Thế Tôn! Hiện nay Phật trụ ở đời phải không?
Đúng như thế.
Nếu Phật trụ ở đời, các đức Phật nhiều như số các sông
Hằng đáng lư ra cũng trụ ở đời. Tại sao con nói như thế?
Là v́ tất cả các đức Phật đều đồng nhứt tướng, tướng
không thể suy lường.
Tướng không thể suy lường đó là không sanh không diệt.
Nếu các đức Phật đời vị lai xuất hiện nơi thế gian, tất
cả đức Phật khác cũng đều xuất hiện nơi thế gian. Tại
sao? Là v́ trong sự không thể suy lường không có tướng
trụ quá khứ, vị lai, hiện tại, chỉ do chúng sanh chấp
trước giữ lại cho rằng Phật có xuất thế, có diệt độ.
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:
Đây thuộc phạm vi hiểu biết của Như Lai, A La Hán, Bồ
Tát bất thối chuyển. Tại sao vậy? Là v́ ba hạng nầy nghe
được pháp sâu xa không sanh tâm hủy báng cũng không khen
ngợi.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Đă là ngoài tất cả sự suy lường như vậy
th́ làm sao ai sẽ hủy báng? Ai sẽ ngợi khen?
Phật đáp:
Nầy Văn Thù! Như Lai ngoài các sự nghĩ lường, phàm phu
cũng ngoài các sự nghĩ lường.
Thưa Thế Tôn! Phàm phu cũng ngoài các sự nghĩ lường phải
không?
Cũng ngoài các sự nghĩ lường. Tại sao? Là v́ tất cả tâm
tướng đều ngoài hết mọi sự nghĩ lường.
Nếu nói như thế. Như Lai ngoài các sự nghĩ lường, phàm
phu cũng ngoài các sự nghĩ lường. Hiện nay vô số các đức
Phật cầu Niết Bàn chỉ luống phí công lao khó nhọc. Tại
sao con nói thế? V́ pháp ngoài các sự nghĩ lường tức là
Niết Bàn. V́ cả hai b́nh đẵng không có sai biệt.
Nếu có thiện nam thiện nữ nào đă từng tu tập các căn
lành trong thời gian lâu xa gần gũi thiện tri thức mới
biết được là phàm phu ngoài các sự suy lường, chư Phật
ngoài các sự nghĩ lường như thế.
Phật lại bảo Văn Thù Sư Lợi:
Ông muốn đặt Như Lai lên bậc tối thắng giữa chúng sanh
phải không?
Con muốn đặt Như Lai lên bậc tối thắng đệ nhứt giữa các
chúng sanh. Nhưng chúng sanh tướng cũng không có thể t́m
được.
Ông muốn để Như Lai đắc pháp khó thể suy lường được phải
không?
Con muốn để Như Lai đắc pháp khó thể suy lường nhưng nơi
các pháp không có sự thành tựu.
Ông muôn khiến Như Lai nói pháp giáo hóa phải không?
Con muốn Như Lai nói pháp giáo hóa nhưng người nói và kẻ
nghe đều không có thể được. Tại sao? Là v́ an trụ pháp
giới. Pháp giới chúng sanh không có tướng sai biệt.
Ông muốn đặt Như Lai là ruộng phước vô thượng phải
không?
Như Lai là ruộng phước vô tận, là tướng vô tận. Tướng vô
tận tức là ruộng phước vô thượng. Không phải ruộng phước
không phải không ruộng phước, không có các tướng trạng
sáng tối sanh diệt đó là ruộng phước. Nếu ai có khả năng
hiểu được tướng ruộng phước như thế sẽ vun trồng căn
lành một cách vững chắc không tăng cũng không giảm.
Thế nào là vun trồng không tăng không giảm.
Tướng trạng của ruộng phước thật hết sức khó suy lường
được nếu có ai an trụ trong đây đúng như chánh pháp tu
tập thiện căn thật cũng khó có thể suy lường được, vun
trồng như thế gọi là không tăng không giảm, cũng là
ruộng phước tối thắng vô thượng.
Ngay khi ấy nhờ thần lực của Phật cả mặt đất đều chấn
động sáu cách biểu hiện tướng vô thường, một muôn sáu
ngàn người liền đó đắc pháp nhẫn vô sanh, bảy trăm tỳ
kheo ba ngàn cư sĩ nam, bốn muôn cư sĩ nữ sáu mươi ức na
do tha các vị trời cơi lục dục tất cả số người trên đều
xa ĺa trần cấu đắc pháp nhăn thanh tịnh đối với các
pháp.
Lúc đó A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo qua một bên
bày vai mặt gối quỳ chấm đất cất lời hỏi Phật:
Thưa Thế Tôn! V́ lư do ǵ mặt đất chấn động sáu cách như
thế?
Phật đáp:
V́ ta nói về tướng trạng không sai biệt của ruộng phước
nên có điểm lành như thế hiển hiện ra. Ngày xưa các đức
Phật cũng ngự ở nơi nầy nói về tướng ruộng phước như thế
để gây sự lợi ích cho chúng sanh, ngay khi đó các thế
giới khắp cả mười phương cũng đều chấn động sáu cách.
Xá Lợi Phất bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Ngài Văn Thù Sư Lợi là không thể suy lường
được v́ ngài nói về pháp tướng không thể suy lường được.
Phật day qua Văn Thù Sư Lợi nói:
Đúng như thế! Như lời Xá Lợi Phất vừa nói, pháp được ông
nói ra thật là không thể suy lường được.
Văn Thù bạch Phật:
Bạch Thế Tôn! Sự không thể suy lường không thể nói ra
được, nghĩ lường được cũng không thể nói. Tánh của nghĩ
lường được, không thể nghĩ lường đều không thể dùng lời
lẽ diễn đạt. Tất cả tướng trạng của tiếng nói không phải
là nghĩ lường được cũng không phải là không thể nghĩ
lường được.
Phật hỏi:
Ông nhập vào tam muội không thể nghĩ lường có phải
không?
Thưa không phải thế! Bạch Thế Tôn! Con tức là không thể
nghĩ lường không thấy có tâm có thể nghĩ lường, thế th́
tại sao nói nhập vào tam muội không thể nghĩ lường được?
Lúc con mới phát tâm muốn nhập định nầy nhưng giờ đây
nghĩ lại thật không có tướng tâm để nhập tam muội. Như
kẻ học bắn tên tập măi sẽ giỏi, về sau dù vô tâm nhưng
do đă quen rồi tên vừa bắn ra mủi mủi đều trúng đích.
Con cũng thế lúc ban sơ học về tam muội không thể nghĩ
lường chú tâm chỉ duyên theo một chỗ, khi đă tập lâu
thành thói quen rồi không c̣n tâm tưởng nhưng luôn luôn
ḥa hợp với định.
Xá Lợi Phất mới hỏi Văn Thù Sư Lợi:
C̣n có định tịch diệt thắng diệu phải không?
Văn Thù đáp:
Nếu như có định không thể nghĩ lường th́ ông nên hỏi c̣n
có định tịch diệt phải không ta sẽ theo ư đó để giải
thích ra. Định không thể nghĩ lường c̣n không có thể
được th́ tại làm sao ông c̣n hỏi có định tịch diệt
không!
Xá Lợi Phất lại hỏi:
Định không thể nghĩ lường không thể đắc phải không?
Định nghĩ lường được là tướng có thể đắc. Định không thể
nghĩ lường được là tướng không thể đắc, tất cả chúng
sanh thật thành tựu định không thể nghĩ lường. Tại sao?
V́ tướng tất cả tâm tức không phải là không thể nghĩ
lường được. Thế nên tướng tất cả chúng sanh và tướng tam
muội không thể nghĩ lường b́nh đẳng nhau không có sai
biệt.
Phật khen ngài Văn Thù:
Hay lắm! Hay lắm! Nầy Văn Thù! Ông đă từng đích thân vun
trồng các căn lành tịnh tu Phạm hạnh trước nhiều đức
Phật mới có khả năng diễn nói tam muội sâu xa nầy. Ông
hiện giờ an trụ trong Bát Nhă Ba La Mật như thế.
Văn Thù Sư Lợi thưa:
Nếu con an trụ trong Bát Nhă Ba La Mật, nếu con nói như
vậy tức là hữu tưởng liền đó kẹt vào ngă tưởng, Bát Nhă
Ba La Mật sẽ có nơi chốn. Nếu Bát Nhă Ba La Mật nằm vào
không cũng là ngă tưởng cũng gọi là nơi chốn. Vượt lên
trên hai tướng trạng hữu (có) vô (không) an trụ vào vô
sở trụ như chư Phật trụ, ở vào chốn tịch diệt không phải
là cảnh giới có thể nghĩ lường được, không thể nghĩ
lường được như thế mới gọi là chỗ an trụ của Bát Nhă Ba
La Mật. Chỗ Bát Nhă Ba La Mật là tất cả pháp vô tướng,
tất cả pháp vô tác. Bát Nhă Ba La Mật tức là không thể
nghĩ lường, không thể nghĩ lường tức là pháp giới, pháp
giới tức là vô tướng, vô tướng tức là không thể nghĩ
lường, không thể nghĩ lường tức là Bát Nhă Ba La Mật,
Bát Nhă Ba La Mật cùng pháp giới không phải hai cũng
không sai biệt. Không hai không sai biệt tức là pháp
giới, pháp giới tức là vô tướng, vô tướng tức là Bát Nhă
Ba La Mật giới, Bát Nhă Ba La Mật giới tức là bất tư
nghị giới, bất tư nghị giới tức là Vô sanh vô diệt giới,
Vô sanh vô diệt giới tức là bất tư nghị giới.
Như Lai giới và ngă giới không phải là hai tướng, tu Bát
Nhă Ba La Mật như thế thời không cầu quả Bồ đề. Tại sao?
V́ rời tướng Bồ đề tức là Bát Nhă Ba La Mật.
Thưa Thế Tôn! Nếu biết ngă tướng nhưng không say đắm,
không biết, không dính khắn đó là chỗ biết của Phật
không thể nghĩ lường, không biết không dính khắn vào tức
là chỗ biết của Phật. Tại sao? V́ biết thể bổn tánh vốn
không có tướng làm sao lại hoán chuyển pháp giới. Nếu
biết bổn tánh là không thể tức là không vật. Nếu không
vật là không nơi chốn, không nơi nương tựa, không nơi an
trụ. Không nương tựa, không an trụ tức là không sanh
không diệt. Không sanh không diệt tức là công đức hữu vô
vi. Nếu đă biết được như thế sẽ không c̣n tâm tưởng, đă
không tâm tưởng tại sao lại biết công đức hữu vi vô vi?
Không biết tức là không thể suy lường, không thể suy
lường là sự biết của Phật, không nắm giữ cũng không phải
không nắm giữ, không thấy tướng trạng di động ba thời
gian, không nắm giữ sanh diệt và các tác động, cũng
không phải hư vô cũng không thường hằng. Biết như thế
gọi là chánh trí, bất tư nghị trí như hư không không đây
không kia không có ǵ có thể so sánh được không xấu tốt
không đẳng đẳng không tướng mạo.
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:
Nếu trí biết được như thế gọi là bất thối trí.
Vô tác trí là bất thối trí, giống như quặng vàng trước
tiên phải dùng chày búa đập sau đó mới nhận chân được
giá trị vàng tốt xấu, nếu như không đập làm sao biết
được? Trí bất thối cũng như vậy, cần phải trải qua những
cảnh giới không ghi nhớ, không đam mê, không tưởng,
không nghĩ hoàn toàn không lay động không sanh không
diệt nó mới hiển hiện ra.
Như đức Như Lai nói về trí ḿnh ai sẽ tin nhận được?
Trí như thế không phải là pháp Niết Bàn, không phải pháp
sanh tử, là sự vận hành tịch diệt, là hành không động,
không trừ tham dục sân hận ngu si, cũng không phải không
trừ ba độc. Tại sao như thế? V́ không có sự tận diệt,
không ly sanh tử cũng không phải không ly sanh tử, không
tu đạo cũng không phải không tu đạo....ai hiểu được thế
nầy sẽ là chánh tín.
Hay lắm! Hay lắm! Như Ông vừa nói thật đă hiểu rơ ràng ư
nghĩa này.
Khi ấy Ma Ha Ca Diếp thưa với Phật:
Bạch Thế Tôn! Trong đời
vị lai nếu có người nào nói về chánh pháp sâu xa như thế
ai sẽ có khả năng để tín hiểu rồi theo như chỗ vừa nghe
được để thực hành.
Phật dạy:
Nầy Ca Diếp! Các Tỳ kheo, tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ
nữ hiện dự pháp hội nghe được kinh nầy các người như thế
ở vào đời vị lai nếu được nghe pháp nầy quyết định họ có
thể có đủ khả năng hiểu biết và tin nhận Bát Nhă Ba La
Mật ư nghĩa cao xa. Họ có thể đọc tụng thọ tŕ cũng lại
đủ năng lực diễn nói một cách rơ ràng cho kẻ khác nghe.
Thí dụ như có một ông phú hộ làm rớt mất viên ngọc ma ni
nên ông ta buồn rầu khổ sở, sau đó t́m gặp lại được ḷng
ông vui mừng khôn cùng. Cũng giống như thế đó Ca Diếp!
Tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư sĩ nữ có tâm tin và ưa
thích, nếu như chưa được nghe pháp chắc chắn họ sẽ buồn
rầu khổ sở, lúc nghe được pháp tin hiểu được ra công thọ
tŕ ham thích đọc tụng tâm hết sức vui sướng, ông phải
biết những người như vậy tức là thấy Phật cũng tức là
gần gũi cúng dường các đức Phật.
Như cây Ba lợi Chất Đa La trên cơi trời Đao Lợi vừa trổ
nụ, các vị trời khi nh́n thấy cây ḷng đều vui vẻ định
chắc không bao lâu hoa sẽ trổ ra. Cũng như vậy đối với
các tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư sĩ nữ nào nghe Bát
Nhă Ba La Mật và hiểu được hạng nầy không bao lâu cũng
sẽ trổ sanh tất cả Phật pháp. Trong đời vị lai có hạng
xuất gia tại gia nam hay nữ nghe được Bát Nhă Ba La Mật
tin nhận đọc tụng trong tâm không có sự đắn đo do dự,
ông nên biết rằng những người như vậy đă từng nghe kinh
đó, từ pháp hội nầy lại đủ khả năng truyền bá ra cho
trong thôn xóm đám đông người nghe. Hạng người nầy được
các đức Phật che chở.
Nầy Ca Diếp! Kẻ thiện nam thiện nữ nào đối với Bát Nhă
Ba La Mật cao xa như thế có đủ khả năng tin nhận và hiểu
biết không c̣n chút nghi ngờ, ông phải biết rằng hạng
này đă từng theo các đức Phật đời vừa qua tu học, vun
trồng rất nhiều căn lành trước các đức Phật này.
Thí như có người đang xỏ chuổi bỗng nhiên gặp được một
viên ngọc ma ni vô giá giữa đống hột chuỗi kia ḷng hết
sức vui mừng, phải biết rằng kẻ nầy từng biết giá trị về
ngọc ma ni vô giá nên nhận được nó liền hiểu ngay giá
trị sanh tâm vui mừng. Cũng giống như vậy nầy Ca Diếp!
Có các thiện nam thiện nữ nào tu học về các pháp khác
bỗng may đâu nghe được pháp vô giá Bát Nhă Ba La Mật
nầy, ḷng họ sướng run lên, ông nên biết rằng họ đă từng
nghe Bát Nhă cho nên mới tin nhận một cách dễ dàng như
thế.
Nếu có chúng sanh nào nghe được Bát Nhă Ba La Mật cao xa
nầy tâm đă tin nhận lại c̣n sanh vui mừng, các chúng
sanh nầy cũng đă từng thân cận vô số các đức Phật theo
các ngài nghe pháp Bát Nhă Ba La Mật và đă từng tu học
rồi.
Thí dụ như có người đă đi qua một ṭa thành lớn, về sau
vừa nghe người nào nhắc đến ṭa thành lớn nầy trong đó
có nào ruộng vường ao suối cây trái trai gái dân chúng
đáng ưa đáng mến. Người nầy vừa nghe liền hết sức vui
mừng lại c̣n khuyên người kia hăy nhắc rơ thêm chi tiết
ruộng vườn trong thành rất trù phú, dọc theo hai bên ao
suối thường có nhiều hoa cỏ lạ lùng, có nhiều loại cây
có trái ngon ngọt, những thắng tích đẹp đẽ...tất cả mọi
thứ đều dễ say ḷng người, người nầy được nghe thêm chi
tiết lại càng vui mừng hơn, các h́nh ảnh cũ lần lượt
hiện rơ ràng trong trí họ, v́ họ đă từng thấy. Cũng
giống như thế đó, Ca Diếp! Kẻ thiện nam thiện nữ nào
nghe pháp Bát Nhă Ba La Mật sanh tâm tin nhận thọ lănh
vui mừng hớn hở không có chút chán nhàm lại c̣n ra sức
khuyên bảo người khác nghe ông phải biết rằng hạng người
nầy đă từng nghe pháp Bát Nhă Ba La Mật từ ngài Văn Thù
Sư Lợi rồi.
Ca Diếp lại bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Nếu trong đời tương lai có kẻ thiện nam
thiện nữ nào nghe được pháp Bát Nhă Ba La Mật tin ưa
nhận lănh, do những tướng trạng nầy biết rằng họ từng
nghe và tu học pháp Bát Nhă trong các pháp hội của chư
Phật đời quá khứ rồi.
Văn Thù Sư Lợi thưa với Phật:
Bạch Thế Tôn! Phật nói các pháp vô tác vô tướng tịch
diệt đệ nhứt, nếu như có thiện nam thiện nữ nào có khả
năng hiểu chắc thật nghĩa này, y đúng theo chỗ nghe để
giảng nói, được các đức Phật khen ngợi không trái nghịch
với pháp tướng, lời họ nói tức là lời Phật nói, cũng là
tướng Bát Nhă Ba La Mật rơ ràng cũng là hoàn măn Phật
pháp rơ ràng thông đạt được thật tướng không thể suy
lường được.
Phật bảo Văn Thù:
Khi xưa lúc ta thực hành hạnh Bồ tát tu các thiện căn
muốn trụ được ngôi vị bất thối chuyển nên phải học Bát
Nhă Ba La Mật, muốn thành tựu trí giác vô thượng nên
phải học Bát Nhă Ba La Mật.
Nếu có thiện nam thiện nữ nào muốn thông hiểu tất cả
pháp tướng, muốn biết rơ tâm giới của tất cả chúng sanh
đều đồng đẳng nên cần phải học Bát Nhă Ba La Mật.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Ai muốn học tất cả Phật pháp hoàn
toàn không c̣n bị điều ǵ chướng ngại nên học về Bát Nhă
Ba La Mật, muốn học về tất cả sự kiện về Phật đà lúc
ngài đạt được trí giác vô thượng những tướng đẹp, cử chỉ
đi đứng lễ nghi khuôn phép của ngài cũng nên học về Bát
Nhă Ba La Mật. Muốn biết sự kiện Phật thành đạo cách xử
sự của ngài nên phải học về Bát Nhă Ba La Mật.
Tại sao ta lại dạy như thế?
V́ trong pháp không, nào thấy có các Phật và trí giác Bồ
đề.
Nếu có thiện nam thiện nữ nào muốn biết các việc như thế
một cách rơ ràng không c̣n nghi hoặc ǵ nữa nên học về
Bát Nhă Ba La Mật. Tại sao cần học? Là v́ trụ nơi Bát
Nhă Ba La Mật không thấy các pháp hoặc sanh hay diệt,
nhơ hay sạch, thế nên thiện nam thiện nữ nên thể nhập
Bát Nhă Ba La Mật như vậy.
Muốn biết tất cả pháp không có các tướng quá khứ, vị
lai, hiện tại phải cần nên học Bát Nhă Ba La Mật. Tại
sao? Là v́ tướng pháp giới không có quá khứ, vị lai và
hiện tại.
Muốn biết tất cả pháp đều nằm trong pháp giới tâm không
quái ngại nên học Bát Nhă Ba La Mật.
Muốn thông đạt được pháp luân ba lần chuyển mười hai
hành cùng chứng biết được nhưng không đắm trước cần nên
học về Bát Nhă Ba La Mật.
Muốn được tâm từ trùm khắp tất cả chúng sanh không có
giới hạn lại cũng không nghĩ có chúng sanh tướng nên
phải học Bát Nhă Ba La Mật.
Muốn đắc được sự không khởi niệm trái nghịch đối với
chúng sanh cũng không giữ lại h́nh ảnh không trái nghịch
cần phải học về Bát Nhă Ba La Mật.
Muốn biết về mười năng lực trí huệ, bốn món không sợ
hăi, an trụ Phật trí huệ, đắc biện tài vô ngại đều nên
phải học về Bát Nhă Ba La Mật.
Khi đó Văn Thù lại bạch với Phật:
Thưa Thế Tôn! Con muốn quán sát chánh pháp: vô vi, vô
tướng, vô đắc, vô lợi, vô sanh, vô diệt, vô lai, vô khứ,
không người biết không người thấy, không người tạo tác
ra, không thấy Bát Nhă Ba La Mật cũng không thấy cảnh
giới Bát Nhă Ba La Mật, không phải chứng không phải
không chứng, không khởi kiến thức sai lạc, không có phân
biệt, tất cả pháp vô tận ngoài các sự tận hết, không có
pháp phàm phu, pháp Thinh Văn, pháp Bích Chi Phật, không
có Phật pháp, không phải đắc không phải không đắc, không
xả bỏ sanh tử không phải không chứng nhập Niết Bàn,
không phải nghĩ lường không phải không nghĩ lường, không
phải tác động không phải không tác động, pháp tướng như
vậy không biết làm thế nào để học về Bát Nhă Ba La Mật?
Phật đáp:
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Nếu biết về các tướng như trên được
rồi tức gọi là học Bát Nhă Ba La Mật.
Đại Bồ tát muốn tu học trí giác bồ đề tự ḿnh an trụ tam
muội, đắc được tam muội nầy rồi soi thấu rơ tất cả Phật
pháp sâu xa và biết tất cả danh tự của chư Phật cùng
thông đạt hết tất cả thế giới các đức Phật không bị trở
ngại bởi vật ǵ ngăn trở, đại Bồ tát nào muốn thế cần
nên học về Bát Nhă Ba La Mật như lời Văn Thù Sư Lợi vừa
dạy.
Văn Thù bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! V́ lư do ǵ lại gọi là Bát Nhă Ba La Mật?
Phật đáp:
Bát Nhă Ba La Mật là không ngăn cách bởi không gian,
không giới hạn bởi thời gian, không tên không tướng
trạng, không phải là sự suy lường không chỗ về, không
nơi căn cứ, không sự vi phạm, không phước, không tối
tăm, không sáng soi...như pháp giới bao la không ranh
giới không bị số lượng thời gian không gian chia
cách...như thế gọi là Bát Nhă Ba La Mật, cũng là lănh
vực thực hành của đại Bồ tát, không phải sự thực hành
cũng không phải không sự thực hành đều xuôi về nhứt thừa
gọi là không phải đường lối thực hành. Tại sao? Bởi v́
không nghĩ nhớ không tác động.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Phải làm thế nào để mau chóng chứng được
trí giác vô thượng bồ đề.
Phật đáp:
Nầy Văn Thù! Y theo lư thuyết về pháp Bát Nhă Ba La Mật
mà thực hành sẽ được mau chóng chứng được trí giác vô
thượng. Ngoài ra lại có tam muội NHỨT HẠNH, nếu có thiện
nam thiện nữ nào tu được tam muội nầy cũng mau được
chứng đắc trí giác vô thượng.
Văn Thù bạch Phật:
Bạch Thế Tôn! Như thế nào là tam muội NHỨT HẠNH?
Phật dạy:
Pháp giới nhứt tướng, chăm chú theo dơi gọi là tam muội
Nhứt Hạnh. Nếu có thiện nam thiện nữ nào muốn thể nhập
tam muội Nhứt Hạnh nên trước tiên hết phải nghe Bát Nhă
Ba La Mật, thể theo lời vừa nghe được để thực hành, sau
đó có thể nhập tam muội Nhứt Hạnh như sự theo dơi pháp
giới không thối lui, không hủy hoại, không suy lường
được, không bị ngăn ngại, không tướng trạng.
Thiện nam thiện nữ nào muốn thể nhập tam muội Nhứt Hạnh
nên ở chỗ thanh vắng xả bỏ những ư nghĩ loạn động không
giữ lại bóng dáng ngoại cảnh nhiếp tâm chuyên nhứt hướng
về đức Phật một ḷng xưng danh hiệu ngài, tùy theo
phương hướng đức Pật ḿnh hiện xưng danh đang ngự ngồi
ngay ngắn lại mật hướng về phương đó, nếu chuyên chú
theo dơi nơi một Phật niệm niệm được liên tục tức trong
niệm đó có thể thấy các đức Phật quá khứ, vị lai, hiện
tại. Tại sao như thế? Là v́ công đức niệm một đức Phật
vô lượng vô biên cùng với công đức niệm vô lượng chư
Phật không sai biệt, Phật pháp thật không thể dễ suy
lường được, b́nh đẳng không có sai khác đều nằm trên
NHỨT NHƯ, thành tựu chánh giác tối thượng đầy đủ công
đức vô lượng, tài hùng biện vô lượng. Người nhập vào tam
muội Nhứt Hạnh thấu biết tất cả pháp giới các đức Phật
nhiều như số cát sông Hằng không có tướng sai khác nhau.
Như A Nan nghe được Phật pháp đắc Niệm tổng tŕ, trí huệ
hùng biện ở trong hàng ngũ thinh văn dù là hạng nhứt
nhưng c̣n kẹt vào có thể dùng số lượng để tính điếm được
nên c̣n có giới hạn và bị ngăn ngại. C̣n như kẻ đă đắc
được tam muội Nhứt Hạnh đối với những pháp môn trong các
kinh điển nhận biết rơ ràng từng môn một, biết một cách
hết sức xác đáng không c̣n một chút hoài nghi, sức trí
huệ hùng biện có thể nói pháp trọn luôn cả ngày lẫn đêm,
đem sức hùng biện và học rộng của A Nan so sánh thật là
không bằng được một phần trăm, một phần ngàn.
Nếu như có đại Bồ tát nào tự nghĩ rằng ḿnh làm sao để
mau chứng tam muội Nhứt Hạnh, được công đức không thể
suy lường, tiếng vang vô lượng đức Phật sẽ dạy đại Bồ
tát nầy nên nghĩ nhớ đến tam muội Nhứt Hạnh luôn luôn
siêng năng chuyên chú đừng lười biếng hay tỏ vẽ mơi mệt,
tu học tuần tự như vậy sẽ đủ năng lực để nhập tam muội
Nhứt Hạnh, sẽ thu hoạch được các công đức không thể suy
lường để minh chứng cho sự thể nhập nầy. Trừ các hạng
hủy báng chánh pháp không tin ác nghiệp mang tội chướng
nặng nề ra là không thể nhập được.
Lại nữa nầy Văn Thù Sư Lợi! Thí dụ như có người được một
viên ngọc ma ni đem đến tŕnh bày với người thợ kim
hoàn, người thợ kim hoàn bảo: Đây là ngọc ma ni vô giá.
Vừa nghe người ấy liền cầu mong thợ kim hoàn: Xin ông
hảy mài giũa dùm tôi, làm thế nào đừng để mất sắc sáng
chói của nó. Thợ kim hoàn đem viên ngọc ma ni ra mài
giũa tùy theo chỗ mài ngọc trở chói sáng lấp lánh suốt
cả trong ngoài.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Nếu có thiện nam thiện nữ tu học tam
muội Nhứt Hạnh có các công đức không thể suy lường tiếng
vang vô lượng, tùy theo lúc tu học biết được các pháp
tướng và thấu rơ không c̣n mê mờ ǵ cả, công đức lần
lượt tăng trưởng cũng như ngọc mài càng lúc càng sáng.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Thí dụ như mặt trời chiếu ánh sáng
cùng khắp nơi nơi không sót một chỗ, nếu có ai đắc được
tam muội Nhứt Hạnh cũng hoàn măn tất cả công đức không
thiếu sót ǵ cũng giống như vậy soi thấu hết cả Phật
pháp như ánh sáng mặt trời.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Pháp ta dạy ra chỉ là vị duy nhứt,
vị thoát ly, vị giải thoát, vị tịch diệt. Nếu có thiện
nam thiện nữ nào đắc được tam muội Nhứt Hạnh hể họ có
nói ra lời ǵ cũng đều mang vị duy nhứt, vị thoát ly, vị
giải thoát, vị tịch diệt thuận theo chánh pháp không có
lỗi lầm.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Nếu đại Bồ tát đắc được tam muội
Nhứt Hạnh nầy đều hoàn măn tất cả pháp trợ đạo, mau đắc
trí giác vô thượng.
Lại nữa nầy Văn Thù Sư Lợi! Không thấy pháp giới có
tướng sai biệt và tướng duy nhứt mau đắc trí giác vô
thượng, tướng không thể suy lường được là trong sự giác
ngộ cũng không thành thật....biết được như thế sẽ mau
chóng đắc trí giác vô thượng. Nếu người nào tin được tất
cả pháp đều là Phật pháp không sanh tâm sợ hăi kinh
hoàng cũng không c̣n hoài nghi, người có sự hiểu biết
như vậy sẽ mau được trí giác vô thượng.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Có phải do những nguyên nhơn đó nên mau
đắc trí giác vô thượng phải không?
Phật đáp:
Đắc trí giác vô thượng không phải do nhơn đắc cũng không
phải do không nhơn đắc. Tại sao thế? Là v́ đó là lănh
vực trên các sự suy lường nên không phải do nhơn đắc
cũng không phải do không nhơn đắc. Nếu có thiện nam
thiện nữ nào nghe lời nói như vậy không cảm thấy ngao
ngán mơi mệt, ông nên biết kẻ nầy đă từng vun trồng
nhiều căn lành với chư Phật đời quá khứ. Thế nên tỳ kheo
nghe nói về Bát Nhă Ba La Mật sâu xa lại không sanh tâm
sợ hăi kinh hoàng tức họ thật đă theo Phật xuất gia. Nếu
có cư sĩ nam cư sĩ nữ nghe dạy về Bát Nhă Ba La Mật tâm
không kiếp đảm tức họ đă thành tựu được chỗ nương tựa
chân thật.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Nếu có thiện nam thiện nữ nào không
thực tập Bát Nhă Ba La Mật tức là không tu Phật thừa.
Thí dụ như mặt đất là chỗ để tất cả cây thuốc nương tựa
vào đó sanh trưởng. Cũng giống như vậy, nầy Văn Thù Sư
Lợi! Tất cả thiện căn của các đại Bồ tát đều nương tựa
vào Bát Nhă Ba La Mật mà tăng trưởng, không trái nghịch
với trí giác vô thượng.
Lúc đó Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Trong các miền thành thị quận huyện thôn
xóm thuộc thế giới Diêm phù đề nầy có chỗ nào đáng được
làm nơi để nói về Bát Nhă Ba La Mật sâu xa như vậy?
Phật bảo:
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Hiện nay trong pháp hội nầy nếu có
người nghe được Bát Nhă Ba La Mật đều nên phát thệ rằng:
Trong đời vị lai cầu mong luôn luôn được tương ứng với
Bát Nhă Ba La Mật từ đây được đức tin và sự hiểu biết.
Trong đời vị lai ai có khả năng nghe kinh nầy, ông nên
biết rằng họ không phải chỉ do các căn lành nhỏ mọn nên
có năng lực nghe rồi tin nhận lại c̣n sanh tâm ưa thích.
Nầy Văn Thù Sư Lợi! Nếu có người nào được nghe ta nói về
Bát Nhă Ba La Mật nên tự nói thầm: Trong Bát Nhă Ba La
Mật không có pháp Thinh Văn, Bích Chi Phật, Bồ tát, Phật
và cũng không có pháp phàm phu sanh diệt.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Nếu có tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư sĩ
nữ đến hỏi con rằng: Như Lai dạy về Bát Nhă Ba La Mật ra
sao? Con sẽ trả lời: Tất cả pháp đă không có tướng đối
đải nhau, làm thế nào Như Lai lại đương dạy về Bát Nhă
Ba La Mật? Tại sao thế? Là v́ không thấy pháp nào đáng
phân tích biện luận cũng không có tâm thức chúng sanh để
biết.
Lại nữa thưa Thế Tôn! Con sẽ nói thêm về thật tế cứu
cánh. Tại sao? V́ tất cả pháp tướng đều thể nhập thật
tế. Hàng A La Hán không có pháp đặc thù riêng biệt, v́
pháp A La Hán và pháp phàm phu không khác biệt cũng
không đồng nhứt.
Lại nữa bạch Thế Tôn! Pháp như vừa nói như thế không có
chúng sanh nào đă đắc Niết Bàn đương đắc sẽ đắc. Tại sao
con nói thế? Là v́ không có tướng chúng sanh quyết định.
Nếu như có người nào muốn nghe Bát Nhă Ba La Mật, con sẽ
dạy như thế nầy! Kẻ nào nghe được không giữ lại không
đam mê không nghe không đắc nên giống như người ảo hóa
không có ǵ để phân biệt... kẻ nói như thế mới chơn thật
là thuyết pháp, cho nên kẻ nghe đừng nghĩ có hai tướng
không bỏ kiến thức mà tu Phật pháp, không nắm lấy Phật
pháp cũng không buông bỏ phàm phu pháp. Tại sao? Là v́
tướng trạng hai pháp phàm phu và Phật đều không, không
có sự nắm giữ hay buông bỏ. Nếu như có ai hỏi, con sẽ
nói lời an ủi và kiến lập như vậy. Thiện nam thiện nữ
nên hỏi như vậy, an trụ như vậy, tâm không thối thất cần
nên biết pháp tướng tùy thuận theo lời Bát Nhă Ba La
Mật.
Ngay khi đó Phật khen Văn Thù Sư Lợi:
Hay lắm! Đúng lắm! Như lời ông vừa nói kẻ thiện nam
thiện nữ nào muốn thấy các đức Phật nên học Bát Nhă Ba
La Mật như vậy. Muốn thân cận các đức phật cúng dường
các ngài như pháp nên học Bát Nhă Ba La Mật như vậy. Nếu
muốn nói Như Lai là Thế Tôn của ta cần nên học Bát Nhă
Ba La Mật như vậy.
Nếu muốn nói Như Lai không phải là Thế Tôn của ta cũng
nên học Bát Nhă Ba La Mật như vậy.
Nếu muốn thành đạo chánh giác vô thượng, không thành đạo
chánh giác vô thượng nên học về Bát Nhă Ba La Mật như
vậy.
Nếu muốn thành tựu tất cả tam muội, không thành tựu tất
cả tam muội cũng nên học về Bát Nhă Ba La Mật như vậy.
Tại sao vậy? Là v́ tam muội không động tác, không tướng
khác biệt, tất cả pháp là không sanh không xuất.
Nếu muốn biết tất cả pháp giả danh, tất cả chúng sanh tu
đạo Bồ đề, không cầu tướng bồ đề tâm không thối chuyển
nên học Bát Nhă Ba La Mật. V́ tất cả pháp đều là tướng
trạng bồ đề.
Nếu muốn biết tướng động tác không động tác của tất cả
chúng sanh, không động tác tức là Bồ đề, Bồ đề tức là
pháp giới, pháp giới tức là thật tế nên tâm không thối
thất.
Nếu muốn biết tất cả Như Lai có thần thông biến hóa,
không tướng trạng, không bị ngăn ngại cũng không bị giới
hạn nên học về Bát Nhă Ba La Mật như vậy.
Phật lại bảo Văn Thù Sư Lợi:
Nếu có tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư sĩ nữ muốn không
sa đọa vào đường ác nên học một bài kệ bốn câu về Bát
Nhă Ba La Mật thọ tŕ đọc tụng, v́ kẻ khác giảng nói ra
thuận với thật tướng. Kẻ thiện nam thiện nữ hành động
như vậy ông nên biết họ chắc chắn sẽ đắc trí giác vô
thượng ở nước Phật.
Nếu có kẻ nào nghe về Bát Nhă Ba La Mật như vậy không
run sợ không kinh hoàng lại tin hiểu được phải biết rằng
hạng nầy được Phật chứng nhận bằng pháp ấn đại thừa của
Phật. Nếu thiện nam thiện nữ nào học được pháp ấn nầy sẽ
siêu việt lên trên các thế giới đọa lạc, không đi vào
con đường Thinh Văn, Bích Chi Phật v́ đă siêu việt hơn.
Khi ấy vua trời Đế Thích và tam thập tam thiên dùng hoa
báu cơi trời! Ưu đàm bát la, Câu Vật Đầu, Phấn Đà Lị,
Mạn Đà La, hương Chiên Đàn, hương bột, các thứ vàng ngọc
cùng ḥa tấu lên âm nhạc cơi trời để cúng dường Bát Nhă
Ba La Mật và các đức Như Lai cùng ngài Văn Thù Sư Lợi.
Các món cúng dường như trên đều vần vũ giữa hư không.
Sau khi cúng dường xong, các vị trời đều nguyện: Cầu
mong chúng con luôn luôn được nghe pháp ấn Bát Nhă Ba La
Mật.
Vua trời Đế Thích lại nguyện:
Con nguyện đối với trai gái có thiện căn ở thế giới Diêm
Phù Đề nầy sẽ luôn luôn làm cho họ nghe được kinh nầy
tin chắc Phật pháp, con lại sai bảo tất cả trời ủng hộ
những kẻ tin nhận hiểu biết thọ tŕ cùng dạy bảo cho kẻ
khác nghe về kinh nầy.
Khi ấy Phật bảo Đế Thích:
Đúng như vậy! Nầy Kiều Thi Ca! Thiện nam thiện nữ như
thế sẽ chắc chắn được trí giác như chư Phật.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:
Thưa Thế Tôn! Kẻ thiện nam thiện nữ nào thọ tŕ như vậy
sẽ được sự lợi ích vĩ đại công đức vô lượng.
Khi đó do sức thần thông của đức Phật tất cả mặt đất đều
chấn động sáu cách, Phật mĩm cười từ miệng phóng ra ánh
sáng rộng lớn sáng soi khắp cả đại thiên thế giới.
Văn Thù Sư Lợi liền thưa với Phật:
Bạch Thế Tôn! Đó tức là Như Lai ấn chứng Bát Nhă Ba La
Mật.
Phật đáp:
Đúng như thế! Nầy Văn Thù Sư Lợi! Thường thường sau khi
Như Lai nói về Bát Nhă Ba La Mật rồi hiện điềm như vậy
để ấn chứng Bát Nhă, để cho người thọ tŕ không sanh tâm
hủy báng hay ngợi khen. Tại sao vậy? Là v́ pháp ấn vô
tướng nên không thể khen hay chê, nay ta dùng pháp ấn
này để cho thiên ma không có cơ hội phá hoại.
Phật nói vừa xong, lúc ấy đại Bồ tát và bốn bộ chúng
được nghe nói về Bát Nhă Ba La Mật đều hết sức vui mừng,
tâm tin nhận và hết ḷng phụng hành. |