Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao

Quyển thứ tư

(Phần 2)

 

24. Bài ký về chuyện thếp vàng tượng Phật Tiếp Dẫn trong hang đá của Trung Am thuộc Bí Ma Nham núi Ngũ Đài

 

      Ngũ Đài chính là chốn thánh đạo tràng thường trụ bao kiếp của Văn Thù Bồ Tát và một vạn Bồ Tát, kinh Hoa Nghiêm gọi là núi Thanh Lương; ấy chính là Phàm Thánh Đồng Cư ở cõi này; nếu luận trên phương diện Bồ Tát thì nó chính là Thường Tịch Quang Tịnh Độ, hoàn toàn tách lìa hết thảy phiền hoặc, nhiệt não, rốt ráo thanh lương. Chùa Bí Mật ở Bí Ma Nham chính là do Mộc Xoa hòa thượng dùng chĩa ba bằng gỗ[1] để thể hiện ý chỉ “từ trời Tây qua Đông” của Tổ Sư. Phàm những ai được nghe tên không ai chẳng sanh tâm kính ngưỡng, mong mỏi, hâm mộ, huống chi những ai đã đích thân đến được nơi ấy? Cách chùa không xa có nơi gọi là Trung Am được tạo dựng bên vách núi, vách núi ấy cao mấy mươi trượng. Hang núi ấy khá cao sâu rộng rãi, bên trong đắp một tượng Phật Tiếp Dẫn cao hơn hai trượng, hết sức viên mãn trang nghiêm. Đó là vì muốn cho những người đến đây đều lễ bái từ dung, đều cùng niệm thánh hiệu, lâm chung cùng được tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Đại sư Tư Thái trước khi xuất gia có đến nơi đây lễ Phật, phát nguyện thếp vàng tượng Phật. Sau khi xuất gia thọ Cụ Túc Giới, bèn quyên mộ các thiện tín để thỏa nguyện này, tổng cộng dùng hơn hai trăm đồng, xin tôi phát huy đại lược ý nghĩa về sự khác biệt và giống nhau giữa chúng sanh và Phật, cũng như lòng từ phổ độ của đức Di Đà để chỉ dạy cho những người đến đây.

Trộm nghĩ: Một niệm tâm thể của chúng ta và Phật không khác, do mê chưa ngộ nên tâm tướng khác biệt một trời một vực. Dù Tướng rất khác biệt nhưng Thể vẫn chẳng khác, như thái hư không trống rỗng, sáng sủa, thông suốt, hoàn toàn không trệ ngại. Do mây, sương, bụi bặm nên biến thành tướng tối tăm, bế tắc, nhơ bẩn. Phải biết: Chính ngay trong lúc đang tối tăm, bế tắc, nhơ bẩn ấy, Thể của nó vẫn trống không, sáng sủa, thông suốt y như cũ. Do vậy, chư Phật thương xót chúng sanh sẵn có Chân Như Phật Tánh, chỉ vì mê trái mà [cái tánh ấy] đâm ra trở thành cái gốc để khởi Hoặc tạo nghiệp, chịu khổ. Do vậy, chỉ dẫn nhiều cách khiến cho chúng sanh trở về gốc, quay về nguồn. Cầu lấy một pháp hạ thủ dễ thành công cao thì không gì bằng tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương; bởi lẽ chúng sanh tín nguyện trì danh sẽ cảm được Phật Di Đà từ bi nhiếp thọ. Vì thế, bất luận thượng trung hạ căn đều được cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. So với việc cậy vào tự lực để đoạn sạch phiền hoặc rồi mới liễu sanh tử thì dù có hết năm cũng chẳng thể nói trọn được! Do vậy, Phật vì chúng sanh hiện đủ mọi thân để tạo nhân duyên đắc độ.

Phải biết: Tượng này chính là chân thân của Phật, do chúng sanh căn cơ kém hèn nên thấy là tượng, chứ luận theo phía Phật thì thân và cõi chẳng hai, Lý - Trí như một, có pháp nào chẳng phải là chân thân của Phật, huống hồ bức tượng đẹp đẽ vạn đức trang nghiêm này! Bồ Y Đồng Tử[2] nói: “Một ngọn cỏ, một cái cây trong núi này đều đầy đủ đức tướng, trí huệ của Văn Thù”, há lẽ tượng Phật này lại chẳng đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai ư? Chỉ vì chúng sanh căn cơ kém cỏi, đáng nên dùng hình tượng để đắc độ cho nên mới hiện hình tượng để vì họ thuyết pháp. Nếu có thể tin tưởng sâu xa lý này thì chẳng những tượng này chính là chân thân của Phật, mà hết thảy chúng sanh trong lục đạo, mỗi mỗi đều là chân thân của Phật. Hãy nên thương xót kẻ ngu mê, dùng nhiều cách chỉ dạy khiến cho họ cùng niệm danh hiệu Phật, cùng sanh về cõi Phật. Đợi đến khi thấy Phật nghe pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn, mới biết chính mình vốn sẵn là Phật, đến nay mới tự chứng. Những kẻ cậy mạnh hiếp yếu, giết thân kẻ khác cho sướng cái miệng mình, tranh giành lẫn nhau, giết người ngập thành, ngập đồng, chẳng những không sanh lòng đau thương, lại còn cho đó là điều đắc ý, cái tội lỗi mê muội, trái nghịch ấy không cách gì ví dụ được! Tương lai phải chịu khổ cùng cực đến dường nào! Nghĩ đến đó quả thật rất đáng sợ. Vì thế, hãy kính cẩn đem cái lý “toàn thể là Phật” này bảo cùng những kẻ mê trái cùng cực khiến cho họ lập tức tỉnh ngộ, chẳng phụ lòng từ hiện thân tiếp dẫn của đức Như Lai thì quốc gia may mắn lắm mà chúng sanh cũng may lắm thay!

 

25. Bài ký về chuyện vãng sanh của cư sĩ Nhạc Vận Sanh

 

      Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật, nhưng do mê trái tự tánh nên luân hồi sanh tử chẳng lúc nào xong. Như Lai muốn cho họ khôi phục bản tâm nên tùy thuận cơ nghi, tuyên nói đủ mọi pháp. Nhưng muốn cậy vào tự lực để tu trì, trong đời này chứng rốt ráo Chân, đoạn tận Hoặc để thoát khỏi luân hồi, hòng liễu sanh tử thì trong đời Mạt, thật khó thấy được mấy ai. Chỉ có tu pháp môn Tịnh Độ thì bất luận thượng trung hạ căn, già, trẻ, trai, gái, chỉ cần đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, dùng tâm chí thành niệm danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương, kèm thêm chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, đến khi lâm chung bèn được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương, vạn người chẳng sót một ai! Do cậy vào Phật từ lực nên đạt được lợi ích lớn lao này, như do ngồi thuyền lớn bèn vượt được biển, chứ chẳng phải do bản lãnh của chính mình mà được như vậy. Vì thế, các vị Bồ Tát, các Tổ Sư, các thiện tri thức nhiều đời đều cực lực đề xướng pháp này, bởi đây chính là đường tắt để liễu sanh thoát tử, là pháp trọng yếu để thành Phật đạo vậy!

Cư sĩ Nhạc Vận Sanh là cha ông Bộ Vân, tên là Thái Nguyên, tự là Vận Sanh, thờ cha mẹ chí hiếu, ưa thiện chuộng nghĩa, thiên tánh trung hậu, không gì chẳng thích đáng. Trong mấy năm gần đây, Bộ Vân sanh lòng chánh tín kha khá đối với Phật pháp, ăn chay niệm Phật, một mực chân thành, nghiêm cẩn. Nhân đấy, khuyên lơn cha mẹ cùng ăn chay niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, cũng như giải nói những sách Tịnh Độ rõ ràng, đơn giản dễ hiểu, khuyên họ thường xem. Cha ông biết tự tâm sẵn có Phật tánh, nhưng vì Hoặc nghiệp ngăn lấp nên chẳng thụ dụng được; may là có pháp môn cậy vào Phật từ lực này khiến cho lũ chúng sanh căn cơ hèn kém như chúng ta, tuy thiện căn ít ỏi mà ngay trong đời này liền được vượt ngang ra khỏi tam giới, cao dự chín phẩm sen, còn may mắn nào hơn! Từ đấy, tâm tâm ức niệm, mong được thỏa nguyện. Đến đầu tháng Bảy, cụ thị hiện bệnh nhẹ, sáng ngày mồng Tám dậy sớm, niệm Phật xong, dặn dò Bộ Vân mau sắm sửa tang phục, quan tài: “Ta sắp đi rồi!” Đợi tang phục, quan tài chuẩn bị xong xuôi, cụ bèn tắm gội, thay áo, đi nằm. Bộ Vân khuyên răn người trong nhà: “Đừng khóc lóc, kẻo cụ bị mất chánh niệm, hãy đồng thanh niệm Phật để giúp cụ vãng sanh”. Lại khuyên cha trong tâm hãy niệm thầm theo. Tuy chẳng nghe tiếng nhưng miệng cụ vẫn máy động, lúc lâu sau thấy ngừng thì đã mất rồi! Lại niệm thêm ba giờ nữa mới bắt đầu than khóc. Vẻ mặt cha vẫn mỉm cười, trong nhà thoảng mùi hương lạ, để ba ngày mới liệm, tướng mạo hãy như còn sống. Cụ được vãng sanh là điều có thể đoan chắc! Bộ Vân cùng người nhà hằng ngày niệm Phật trước bàn linh để cầu cụ được tăng cao phẩm sen, mau chứng Vô Sanh hòng báo đáp ân cù lao, trọn hết phận con.

Lại nữa, ông Bộ Vân tài nhỏ chức kém, tiền lương ít ỏi, thờ cha mẹ nuôi vợ con khá chật vật, may nhờ chú họ là tướng quân Mao Thiếu Phủ bù đắp nhu cầu cho. Tang phục, quan tài, chi phí tang ma lần này đều do Thiếu Phủ bỏ ra. Thiếu Phủ chánh trực, công bằng, liêm khiết, sáng suốt, trong sạch, khí tiết cao cả, trung với nước, hiếu với cha mẹ, nghĩ đến tình thương yêu của người trước nên coi Bộ Vân như con, Bộ Vân cảm kích trước tình đùm bọc nên cũng coi Thiếu Phủ như cha. Nhân duyên ăn chay của Bộ Vân thật ra cũng do Thiếu Phủ mà ra. Nếu như Thiếu Phủ do Bộ Vân mà có thể dốc lòng tu Tịnh nghiệp, ăn chay niệm Phật hầu sống dự vào bậc thánh hiền, mất về cõi Cực Lạc thì lợi ích đạt được càng rạng rỡ, trọn vẹn đẹp đẽ đôi đường. Do vậy, bèn ghi lại để khuyên đời.

 

26. Bài ký về chuyện vãng sanh của phu nhân Uông Hàm Chương

 

      Đạo nơi con người giống như nước ở trong đất, không đâu chẳng có, nhưng nếu không có công xoi đào chắc chắn khó thể phát hiện được nước. Tâm tánh của chúng sanh và tâm tánh của Phật không hai. Do vô minh ngăn lấp nên công đức của Phật tánh không cách gì hiển hiện được! Vì thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều có đủ trí huệ của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa được vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí liền được hiện tiền”. Những gì đức Như Lai đã nói trong cả một đời Ngài đều là pháp dược nhằm đối trị vọng tưởng chấp trước. Một pháp Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thật là viên đốn thẳng tắt, vì dùng Quả Địa Giác để làm Nhân Địa Tâm. Do vậy, nhân trùm biển quả, quả thấu tột nguồn tâm. Từ khi pháp được truyền qua Đông Chấn, hết thảy tứ chúng do niệm Phật được vãng sanh Tây Phương, triệt chứng Phật tánh sẵn có viên thành giác đạo chẳng biết là mấy ngàn vạn ức!

      Phu nhân Uông Hàm Chương là người hôn phối đức hạnh của cư sĩ Giang Dịch Viên, túc căn sâu dầy, bẩm tánh hiền thục, thờ cha mẹ, phụng dưỡng bố mẹ chồng, giúp chồng dạy con, tự mình nêu gương, gìn giữ nếp nhà, mọi chuyện đều đáng làm gương cho hàng khuê các. Bà lại mang tâm niệm nhân từ, vì thế thường hành bố thí cho kẻ nghèo thiếu, cứu vớt mạng loài vật. Những hành vi tốt lành ấy đều do cần kiệm mà thành. Nếu như thích buông tuồng, hoang phí, ắt lo cho chính mình còn không xong, huống gì cứu người lợi vật được ư? Dịch Viên lo dạy học nhiều năm, chỉ muốn vun bồi nhân tài chân chánh, chẳng tiếc tâm lực, do giảng dạy mệt nhọc đến nỗi thành bệnh. Năm Dân Quốc thứ tám (1919), ngã bệnh không ngồi dậy được, thuốc men vô hiệu, tình thế thật nguy ngập. Có người bạn khuyên ông hãy lắng lòng niệm Phật, [nhờ đó] dần dần được khỏi bệnh. Do vậy, bèn đọc khắp các kinh Phật, mới biết Phật là đại thánh nhân, dạy những chuyện chẳng thể nghĩ bàn, buồn tiếc mình trước kia không biết, nay may mắn được nghe. Do vậy, khuyên cha mẹ, vợ và con cái cùng tu Tịnh nghiệp. Do đó, phu nhân thành kính trì danh hiệu Phật, tụng kèm thêm các kinh chú như Di Đà, Phổ Môn, Đại Bi v.v… quyết chí cầu sanh Tây Phương.

Vào tháng Mười năm ngoái, bà bị bệnh, chính trong lúc đang đau khổ bèn phát đại nguyện mau được vãng sanh, thấy Phật nghe pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn rồi sẽ nương theo Phật từ lực trở vào Sa Bà cứu khổ cho chúng sanh, tâm cực khẩn thiết. Đêm cuối tháng, bà bảo với người săn sóc: “Trên lầu có Phật đường, tiếng mõ thật trầm ấm, nơi tường vách có kinh viết bằng chữ vàng, quang minh chói ngời, ngươi có thấy nghe hay chưa?” Vả nữa, ba hôm trước đó, bà mẹ chồng mộng thấy kim quang đầy nhà, trong quang minh có không biết là bao nhiêu Bồ Tát, ý bà cụ cho rằng con dâu bệnh sẽ chóng được lành. Nên biết: Đấy đều là tướng trạng Tịnh nghiệp thuần thục, tịnh cảnh hiện tiền. Bữa hôm sau, nhằm giờ Mùi ngày mồng Một tháng Mười Một, bà Uông ngồi xếp bằng, niệm Phật qua đời. Mất rồi, thần sắc đoan nghiêm, hoàn toàn không có tướng chết chóc gì, toàn thân đều lạnh nhưng đảnh đầu vẫn ấm. Khi trước hai đùi sưng phù, chẳng thể co duỗi được, đến lúc sắp mất lại như bình thường. Vì thế, có thể ngồi xếp bằng qua đời như nhập Thiền Định.

Dịch Viên hướng dẫn con cái và các đạo hữu chí thành niệm Phật, giúp bà được vãng sanh. Qua năm tiếng đồng hồ mới bắt đầu xếp đặt [tang ma], cúng lễ, tiếp đãi khách. [Tang gia] đã không dùng đồ mặn, mà khi người trong thôn muốn đến tế lễ chung, Dịch Viên bèn ngăn lại, mỗi ngày chỉ để một số người đến niệm Phật một lúc độ khoảng hai tiếng đồng hồ, một là để khỏi lãng phí, hai là có lợi ích thật sự cho vong linh, ba là khéo léo dẫn dụ mọi người cùng gieo thiện căn, bốn là để cho những ai nghe được phong thái ấy đều phổ biến ân Phật. Quả thật là phong cách tang lễ mới thật tốt lành; phàm những ai có tín tâm đều nên hành theo.

Sau khi tẩn liệm, Dịch Viên gởi thư đến chùa Pháp Vũ ở Phổ Đà kèm theo 100 đồng, xin Quang tùy nghi làm Phật sự hòng [người mất] chưa được vãng sanh liền được vãng sanh, đã vãng sanh thì sẽ được tăng cao phẩm sen. Quang bảo mười sáu người trong Niệm Phật Đường cử hành Phật thất, lại vì họ khai thị về lợi ích của pháp môn Niệm Phật cũng như lòng chân thành của cư sĩ Dịch Viên. Các sư nghe xong đều cạn lòng thành, tận lòng kính. Đến ngày hai mươi mốt, bà mẹ chồng cầu khấn: “Con dâu mất đã nhiều ngày rồi, sanh về Tây hay chưa? Xin hãy báo mộng cho biết để an ủi lòng ta!” Đêm ấy, có một người bạn con bà cụ nằm mộng thấy thư từ nườm nượp gởi tới, bèn đem một lá thư lên Phật đường trên lầu để xem, thấy trong Phật đường treo một ngọn đèn lớn sáng tỏa bốn phía, sáng hơn đèn điện. Mở thư ra thấy có một bức vẽ, trong ấy vẽ một đóa sen lớn màu đỏ, trên hoa có đài tòa, dưới hoa ghi hai hàng chữ nhỏ, chẳng thể nhớ được. Chung quanh có bao nhiêu là hoa nhỏ, nước ở dưới hoa có màu như bạc. Ngày ấy chính là ngày viên mãn Phật thất ở Pháp Vũ. Được mấy điềm như thế đủ thấy bà quyết định vãng sanh.

Tâm chúng sanh và tâm của A Di Đà Phật xét về bản thể hoàn toàn tương đồng. Nếu dùng tín nguyện ức niệm để cảm chắc chắn sẽ được thệ nguyện từ bi của Phật Di Đà nhiếp thọ. Do vậy, trong cõi này phát tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì trong ao bảy báu nơi Tây Phương liền mọc lên một đóa sen. Nếu tinh tấn chẳng lui sụt thì hoa sen ấy càng ngày càng to lớn, đến khi người ấy lâm chung, Phật và thánh chúng liền cầm hoa ấy tiếp dẫn vãng sanh. Bà Kinh Vương phu nhân đời Tống dốc lòng tu Tịnh nghiệp, những người thiếp, thị nữ, không ai chẳng hành theo. Có một người thiếp không bệnh mà mất, phu nhân đêm nằm mộng thấy người thiếp đã mất ấy đến cảm tạ ân cần. Cô lại dẫn bà đi về phương Tây, thấy có một cái ao báu kích thước rộng lớn. Trong ao có một cái hoa to, quang minh thù thắng. Người thiếp bảo: “Đấy là chỗ phu nhân sẽ sanh về. Tất cả những hoa chung quanh đều là [hoa của] những người được phu nhân giáo hóa hay được lần lượt truyền dạy mà phát tâm đấy!” Phu nhân tỉnh giấc, buồn vui chen lẫn. Không lâu sau, gặp đúng dịp sanh nhật, bà đứng niệm Phật qua đời.

Giấc mộng của người bạn [ông Dịch Viên] gần giống với chuyện này, nhưng Uông Phu Nhân không có được công phu và quyền lực giáo hóa chỉ dạy như Kinh Vương phu nhân nên cảnh tượng phải kém xa. Người bạn Tịnh nghiệp chưa thuần thục nên chỉ thấy được bức vẽ, chứ chẳng thể đích thân thấy được cảnh. Dùng nhân như thế sẽ cảm được quả như thế. Nhân chẳng luống uổng, quả chẳng lãng phí, do vậy càng thêm tin tưởng. Nguyện những ai thấy nghe đều gắng sức lên!

 

27. Bài ký về chuyện vãng sanh của Dương Thái Phu Nhân mẹ ông Từ

 

Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật. Bất luận thiên, nhân, A Tu La, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, bất luận nam, nữ, sang, hèn, trí, ngu, hiền, tệ, thăng trầm lục đạo, luân hồi chẳng ngơi, đều là do mê sâu hay cạn, do nghiệp thiện hay ác làm thành nhân duyên, nhưng một niệm Phật tánh chưa từng do vậy mà bị tăng hay giảm. Do mê không biết nên chẳng những không được thụ dụng, trái lại còn dùng sức công đức của Phật tánh làm cái gốc để khởi Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp cảm khổ, há chẳng đáng buồn lắm ư? Đức Như Lai xót thương dạy cho bỏ mê về với ngộ, đoạn Hoặc chứng chân, cho đến khi tự chứng được Phật Tánh sẵn có mới thôi! Lại do chúng sanh không có sức đoạn Hoặc, dẫu có tu trì cũng chẳng thể liễu thoát sanh tử ngay trong một đời này, thọ sanh lần nữa đa phần đều mê mất cho nên đến tận đời vị lai không có lúc nào được giải thoát. Do vậy, vì lòng đại từ bi, đặc biệt mở ra pháp môn tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương để hết thảy dù phàm hay thánh đều cùng trong đời này cậy vào Phật từ lực liễu sanh thoát tử. So với những kẻ chuyên cậy vào tự lực thì khó - dễ, chậm - nhanh, khác biệt như trời với vực. Vì vậy, từ cổ đến nay, Tăng - tục tứ chúng tu pháp môn này vãng sanh Tây Phương nhiều chẳng kể xiết, ngay cả mấy lúc gần đây cũng vẫn thường thấy.

Bà Dương Thái Phu Nhân mẹ của ông Từ ở huyện Thạch Đãi, tỉnh An Huy, chính là mẹ đẻ của cư sĩ Từ Quốc Trị, tánh tình hiếu thuận, hiền từ, mềm mỏng, hiền lành, minh mẫn, quả quyết, thờ cha mẹ, phụng dưỡng bố mẹ chồng, giúp chồng dạy con, chăm sóc nhà cửa, mỗi việc đều đáng làm gương mẫu cho bạn khuê các, làm bậc thầy mẫu mực cho hàng nữ lưu, chẳng thẹn sánh với những hàng liệt nữ, mẫu nghi, hiền nhân, minh trí thời cổ. Từ nhỏ đã tin Phật, đến già càng sốt sắng, có ba người con là Quốc Hoa, Quốc Quân và Quốc Trị, đều theo đuổi quan trường hay thương nghiệp. Quốc Trị sống ở Thiên Tân muốn được hầu hạ dưới gối dài lâu, nên vào năm Dân Quốc thứ 10 (1921) đón mẹ về Thiên Tân phụng dưỡng. Bà bèn ăn chay trường, thọ giới Ưu Bà Di, từ đấy niệm Phật càng thêm tinh tấn. Bà thấy được chút điềm lành, nhưng tôi sợ có người ngu chẳng cầu nhất tâm chỉ chuyên mong mỏi tướng lành trở thành bệnh nên không ghi lại. Mùa Thu năm ngoái, tỉnh An Huy vừa bị nạn lụt lẫn hạn hán, tỉnh trưởng đánh điện điều Quốc Trị về lo việc cứu tế, bởi tám năm ở tại kinh đô ông đã có thành tích trong chuyện này. Quốc Trị chẳng nỡ cách xa mẹ, phu nhân đem đại nghĩa quở trách, bắt ông phải đi cho nhanh để cứu giúp dân chúng đang bị tai họa. Quốc Trị ở đất Hoàn hơn năm, phu nhân bị bệnh, chẳng cho viết thư báo tin, sợ ông từ phương xa trở về sẽ lỡ làng việc cứu tế. Bà lại còn dặn dò Quốc Hoa, Quốc Quân quyên mộ, dốc hết tiền dành dụm ra để giúp đỡ, được Đại Tổng Thống đề tặng biển ngạch, tặng cho huy chương Từ Huệ. Năm Dân Quốc 11 (1922) việc cứu trợ xong xuôi, chính quyền đất Hoàn[3] lưu giữ Quốc Trị, nên ông lại đón mẹ về phụng dưỡng tại Hoàn Thản. Năm ấy cụ đã bảy mươi bốn tuổi, tinh thần suy yếu, trong thân thích có người khuyên nên thôi ăn chay, phu nhân nói: “Ta thà ăn chay mà chết, chứ chẳng ăn thịt để được sống!”

Đến mùa Xuân năm nay, bệnh ngày càng nặng, thần trí vẫn sáng suốt, niệm Phật không bỏ sót, bảo Quốc Trị rằng: “Thế sự gian khổ mẹ đã nếm đủ cả rồi nên chẳng luyến tiếc, trong tâm chỉ có mỗi một chuyện niệm Phật mà thôi!” Lại nói: “Mỗi một lần phát sốt, đau khổ dị thường, hễ tưởng đến Tây Phương Cực Lạc thế giới chợt cảm thấy mát mẻ liền!” Ngày hai mươi mốt tháng Hai, thỉnh Tăng chúng đến nhà niệm Phật để giúp vãng sanh, lại sai đem những quần áo, đồ đạc của chính mình bán hết để cúng dường Tam Bảo, hỏi Quốc Trị: “Ngày nào đi thì tốt nhất?” Quốc Trị đáp: “Ngày mốt là ngày ăn chay, ấy là ngày tốt nhất”. Mấy tiếng sau, cụ nói: “Mẹ đã thấy Thích Ca Mâu Ni Phật và Phật, Bồ Tát đã thờ ở Thiên Tân, nhưng có mình đức Phật Tiếp Dẫn sao không thấy?” Quốc Trị đáp: “Đến lúc sẽ thấy”. Ngày hôm sau, cụ lại niệm Phật theo chư Tăng, đến rạng sáng ngày hai mươi ba, vị sư niệm Phật là thầy Hải Phước nói: “Phu nhân thần chí, khí tượng như thường, chắc trong một hai ngày chưa đi đâu!” Đến giờ Tỵ, Quốc Trị thỉnh hình Phật Tiếp Dẫn thờ trước giường nói: “A Di Đà Phật đến rồi!” Phu nhân nghe vậy vui mừng lớn lao, ngồi dậy chiêm ngưỡng, lớn tiếng niệm “nam-mô A Di Đà Phật” mấy câu, rồi ngồi kết ấn, mỉm cười qua đời. Quốc Trị và chư Tăng cùng quyến thuộc vẫn lớn tiếng niệm Phật ba tiếng đồng hồ nữa rồi mới cử ai (cất tiếng khóc) và tắm rửa, thay áo. Mùi thơm ngào ngạt, có người bạn đến phúng điếu ở ngoài cửa đã ngửi thấy, khen là hy hữu. Ba ngày sau mới liệm, diện mạo so với lúc sống càng tươi tắn hơn, đảnh đầu vẫn còn hơi ấm, tứ chi mềm mại, đem xâu chuỗi đặt vào tay bèn gập ngón tay nắm lấy. Cao đẹp thay!

Như phu nhân có thể gọi là người túc căn sâu dầy, đời này tu hành tinh thuần, lại được người con như Quốc Trị phụ trợ nhiều cách cho nên Tịnh nghiệp chín muồi, toại nguyện vãng sanh. Những người trong đời không niệm Phật thì chẳng cần bàn đến, chứ như người chí tâm niệm Phật lúc sắp mất, con cái khóc lóc, tắm rửa, thay y phục v.v… khiến cho người sắp mất đâm ra bi thương, hoặc sanh sân hận, đến nỗi bị mất chánh niệm, vĩnh viễn luân hồi trong tam đồ lục đạo chẳng thể thoát ra. Những kẻ ấy cho đó là tận hiếu, chẳng biết đã mắc tội gây trở ngại cho cha mẹ, so với tội giết cha mẹ lại càng nặng hơn! Cả thế gian không biết như vậy, thật là bi thương! Quốc Trị bắt chước mẹ nhân từ thờ Phật, nên ăn chay trường, học Phật, nhiều lần đi cứu trợ thảy đều cạn kiệt tâm lực. Mùa Hạ năm nay ông lên núi, kể lại hành trạng của phu nhân, xin tôi soạn bài ký để làm gương cho con cháu đời sau. Tôi viện cớ thô lậu, bận bịu để thoái thác, nhưng về sau ông lại viết thư khẩn cầu. Do vậy, tôi bèn thuật đại lược cuộc đời và kể khá tường tận những sự thực cuối đời để người làm mẹ, người làm con trong đời đều bắt chước theo.

 

28. Bài ký về chuyện cảm ứng của cư sĩ Lục Tây Lâm

(Đầu Thu năm Dân Quốc thứ 15 – 1926)

 

      Quán Âm Đại Sĩ ân trọn khắp pháp giới, tùy loại hiện thân tầm thanh cứu khổ, đa phần được Ngài gia bị sâu xa mà không hay biết. Tháng Năm mùa Hạ năm nay, tôi đã ấn hành bộ Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng, gởi cho cư sĩ Tây Lâm Lục Thọ Từ ở Tô Châu. Ông ta đọc đến phần Cứu Khổ trong quyển thứ hai khôn ngăn cảm xúc, mới biết thuở nhỏ gặp cảnh hoạn nạn mà được sống còn đều là nhờ vào từ lực của Đại Sĩ gia bị, nên bèn lược thuật chuyện ấy, gởi thư cho Quang như sau:

“Nhà con ở Thái Thương[4], thuở nhỏ mồ côi, nhờ bà nội, mẹ góa nuôi dạy. Mẹ ăn chay Quán Âm[5], thường tụng kinh Quán Âm, chú Đại Bi. Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), con được 14 tuổi, gặp phải giặc cướp từ Quảng Đông nhiều phen công hãm các thành, cô là Hồ Thái Quân đem ba mạng trong nhà về quê sống tại nhà bà. Không lâu sau, thành lại bị vây hãm. Con mang cái tráp có bộ Đại Bi Sám[6]; đấy là do mẹ của cô là Trương Thái Quân sai con chép lại chú văn ấy. Do đó, đọc tụng thuộc không quên, hằng ngày niệm chừng đó biến. Đến khi cô đi nơi khác liền ở nhờ nhà người thân thích họ Mao ở Tam Đồ. Đến mùa Thu, giặc dấy lên mạnh mẽ, mặc sức cướp bóc, đốt phá, giết chóc. Một hôm, vào buổi trưa gặp phải lúc giặc tràn đến, bà nội tuổi cao không trốn được, con theo mẹ trốn trong lùm trúc ở vườn sau, giặc cầm mâu đuổi theo sau, mẹ con vội vàng chạy ra sông, gặp phải bộng cây liền rúc vào đó, thấy giặc đâm loạn vào đám trúc một hồi rồi bỏ đi, nghe sau lưng có tiếng người, nhìn lại thấy mấy tên giặc đứng bên bờ sông, phất cờ quát tháo, chừng như chẳng hề thấy mẹ con chúng con, chốc lát giặc bỏ đi, bèn chui ra. Đến nay nghĩ lại vẫn còn run rẩy khôn cùng!

Tháng Mười năm sau, lương thực sắp cạn, vay tiền một ngàn bốn trăm đồng, ngồi thuyền qua Hoàng Kính[7] để gặp ông Tổ trong dòng họ là Trúc Lâu Ông. Chưa đến nơi, trời đã tối, thuyền phu đẩy con lên bờ, quăng hành lý lên bờ rồi chèo đi. Đêm tối cùng đường, không biết tính sao, khôn ngăn đau đớn! Bà lão trong thôn là Viên Thái Quân thương xót, cho ngủ đêm trong nhà. Ngày hôm sau, sai con dẫn đi gặp Trúc Lâu Ông. Ông vốn nghèo, lo việc công, chuộng việc nghĩa, dạy học có tiếng, nhờ vào nghề thuốc đắp đổi qua ngày. Vừa gặp cháu rất mừng rỡ, hứa sẽ tính cách, bảo đợi mấy ngày, nhưng hóa ra ở nhà họ Viên hơn một tháng. Đến khi ông tính toán ổn thỏa, bèn bảo ngồi tàu biển sang Thượng Hải, nhờ thân thích dẫn đến Thúy Vi Tăng Xá ở ngoài cửa Nam. Khi ấy, Lý tướng quốc[8] thống lãnh quân đội đóng ở đây, được tuyển làm người chép thuê. Sau khi giặc tan, bèn dời sang sống tại Tô Châu, gắng tạo thành gia nghiệp, khỏi trở thành thịt thối trong ngòi nước, may mắn thay! Cảm niệm ân đức của cô, bà Viên và tộc tổ (tức Trúc Lâu Ông), khác nào xương khô mọc thịt, trọn đời chẳng dám quên, nhưng vẫn chẳng biết là do sức cảm ứng của kinh chú. Nay đọc các sự tích trong bộ Đại Sĩ Cảm Ứng Tụng mới biết thoát lìa được mũi gươm, mũi tên, mỗi lần gặp phải nạn gấp liền gặp được thiện nhân, đấy đều là do mẹ con trì trai tụng kinh, cảm thần lực đại từ bi của Bồ Tát che chở mà ra.

Phẩm Phổ Môn chép: “Tâm niệm chẳng luống qua, diệt khổ trong các cõi. Trong khổ não nạn chết, thường làm chỗ nương tựa”. Con tin đúng là như vậy nên bèn thuật lại mong sao hết thảy thiện tín chí thành niệm danh hiệu Bồ Tát và kinh Quán Âm, Đại Bi thần chú, sẽ tự có thể gặp chuyện dữ hóa thành chuyện lành, gặp tai nạn biến thành chuyện tốt, cũng như nghiệp tiêu trí rạng, chướng tận phước cao, sống dự vào hàng thánh hiền, mất lên cõi Cực Lạc. Xin pháp sư thương xót lòng con ngu thành, soạn bài ký sự cảm ứng chép thêm vào bộ Văn Sao khiến cho khắp các đồng nhân đều sanh chánh tín, đều được gội từ ân”.

Cư sĩ Tây Lâm xưa đã trồng cội đức, hạnh hiện đời thuần thục, nhiều năm qua ăn chay trường thờ Phật, tu trì Tịnh nghiệp, tuổi đã tám mươi, tinh thần khỏe mạnh, hễ có chuyện công ích dù xa đến mấy dặm cũng đều đi bộ tới, những thứ xe kéo bằng sức người nhất quyết không chịu dùng. Mục lực thật tốt, viết được chữ nhỏ. Tháng Tư, Quang đến đất Tô, mấy lần trò chuyện [cùng cụ], khiêm tốn, nhún nhường như cụ bây giờ chẳng có ai! Từ nhỏ, cụ đã mấy lượt được Đại Sĩ thầm gia bị nên mới có ngày hôm nay, nhưng vẫn chưa hiểu thấu suốt nguyên do. Như vậy, trong đời những người được thọ ân từ bi che chở mà không biết ắt phải là nhiều lắm! Ví như mặt trời rạng rỡ chiếu khắp muôn nước, người mù dù được ánh mặt trời sanh thành, nhưng chưa từng thấy được tướng ánh sáng, bèn bảo là “không có” thật là phụ ân chiếu soi quá lắm! Thương cõi đời ngu mê, nên chép thành bài ký.

 

29. Bài ký về chuyện Ô Vưu Sơn Tự dựng Tàng Kinh Các

(Núi ở tại huyện Lạc Sơn, Gia Định, Tứ Xuyên)

 

      Phật pháp không gì lớn lao chẳng bao trùm, không gì nhỏ nhặt chẳng nêu lên, lớn lao như mười phương pháp giới, nhỏ nhặt như một niệm tâm tánh của chúng sanh, khuôn mẫu tốt lành khiến đời yên dân lành, đường lối tốt đẹp để siêu phàm nhập thánh, không gì chẳng chỉ bày thấu triệt ngọn ngành, kết cuộc, lý do đến cùng cực vậy. Đạo ấy lớn lao, nghĩa lý nhỏ nhiệm, văn sâu, nghĩa rộng, nếu muốn xiển dương chỉ thú ấy thì cạn hết biển mực cũng chẳng thể [diễn tả] tột cùng chỗ mầu nhiệm. Nhưng nếu hiểu thấu được lẽ đạo viên đốn thì tìm lấy một chữ cũng không thể được, dù là bậc thánh nhân vẫn có chỗ không biết đến, há phàm tình có thể suy lường được sao! Do vậy, pháp này được thực hành rộng rãi, thiên - địa, quỷ thần không ai trái nghịch; cho nên xưa nay những người xuất sắc lỗi lạc không ai chẳng siêng năng tu trì, cực lực lưu truyền để mong cho mình lẫn người đều được lợi ích thật sự.

Nói chung, giáo điển trong cả một đời giáo hóa của đức Như Lai chia thành ba tạng. “Tạng” có nghĩa là sâu kín, u viễn, vô cùng, vô tận. Phàm những kinh Tiểu Thừa, Đại Thừa đức Phật đã nói đều gọi là Kinh Tạng. Phàm những luật Đại Thừa, Tiểu Thừa đức Phật đã chế đều gọi là Luật Tạng. Phàm những bộ luận do các vị Bồ Tát, Thanh Văn đã trước tác để thích kinh, tông kinh[9] đều gọi là Luận Tạng. Những kinh sách này đều do thỉnh Phạn bản từ Phật quốc về cõi này phiên dịch ra [tiếng Hán] ước chừng hơn năm ngàn quyển. Từ khi đại pháp truyền sang Đông, các tông quật khởi, đời nào cũng có cao nhân hoặc soạn sớ để giải thích kinh, hoặc do tông kinh mà tạo luận, cũng như các thứ ngữ lục, truyện ký. Phàm là những thứ trước thuật nhằm hoằng dương pháp đạo đều được ghép nối tiếp theo sau [Đại Tạng], gọi là Tục Tạng. Nhưng trước thuật của cổ đức đa phần bị thất lạc, được nhập tạng chỉ là một hai phần trong trăm ngàn phần đó thôi, vậy mà cũng đã nhiều đến hơn hai ngàn quyển; huống chi những tác phẩm chưa được nhập tạng nhưng được lưu hành rộng rãi trong cõi đời thì càng khó thể biết được số lượng! Núi nghĩa vòi vọi, biển pháp mênh mông, tùy theo thiên bẩm của mỗi người mà nghiên cứu đến cùng tận, không ai chẳng thấy được Chân Không, thấu triệt nguồn pháp, khôi phục lại Phật tánh sẵn có.

Ô Vưu Sơn Tự là nơi thù thắng trứ danh của Tây Thục (Tứ Xuyên), là đạo tràng hóa hiện của Quán Âm. Từ khi Huệ Tịnh thượng nhân đời Đường khai sơn đến nay trải hơn một ngàn năm, tông phong chẳng suy sụp, dù cung ngọc điện tía đã lùi vào dĩ vãng, nhưng thừa lẫn giới đều đề cao, dốc cạn lòng thành lễ tụng, xưa - nay chẳng khác, há chẳng đáng gọi là “hễ địa linh ắt có nhân kiệt” hay sao? Truyền Độ đại sư trụ trì núi này, phàm trăm thứ bị bỏ phế, suy sụp, Sư đều dần dần tu bổ, đã dựng điện Di Đà để làm nơi chuyên tu Tịnh nghiệp, lại dựng gác này để thờ tạng kinh Tần Già[10] vừa thỉnh, ngõ hầu làm căn cứ nghiên cứu Phật pháp. Tạng kinh này chữ nhỏ, chẳng tiện cho người già, mong rằng sau này có bậc đại thí chủ sẽ lên kinh đô thỉnh Đại Tạng bằng tiếng Phạn để mọi người được đọc tụng nghiên cứu rộng rãi. Từ chỗ này đã có thể thấy được đại khái lòng thành vì pháp, vì người của Sư.

Gác ấy gồm năm gian, hai tầng, hết sức trang nghiêm, phí tổn ước chừng ba ngàn mấy trăm đồng, đều là do đàn-việt xa gần cảm đức của sư Truyền Độ nên hoan hỷ bố thí. Xây dựng xong, gởi thư cho Quang sai soạn bài Ký. Trộm nghĩ: Giáo pháp trong Đại Tạng nghĩa lý vô tận, nhưng pháp chẳng thể tự hoằng, phải do con người hoằng pháp. Ví như vị trưởng giả cực giàu, có rất nhiều kho lẫm; nếu như con ông ta không biết đến sẽ không thể nào thụ dụng được, so với con nhà nghèo hèn nào có khác gì! Nếu như biết được, ắt sẽ tự dùng và châu cấp cho hết thảy mọi người, không ai chẳng được thỏa lòng mong muốn, mà kho tàng ấy vẫn chẳng bị giảm bớt mảy may. Bởi lẽ kho tàng này chính là vô tận tạng, lấy mãi không hết, dùng hoài chẳng cùng, đến tột cùng đời vị lai chẳng bị khánh kiệt. Nguyện hết thảy tứ chúng đều cùng thăm dò tạng báu này để tự lợi, lợi tha, từng ngọn đèn nối tiếp nhau, sáng mãi không dứt, ngõ hầu chẳng phụ một phen Như Lai nói kinh, chư tổ hoằng pháp, thầy Truyền Độ dựng gác, đàn tín giúp đỡ tha thiết vậy. Phàm những ai cùng hàng với tôi đều hãy gắng lên.

 

30. Bài ký tháp Phổ Đồng ở Ô Vưu Sơn

 

      Một niệm tâm tánh của chúng sanh và một niệm tâm tánh của Phật không hai. Do vọng chấp nên thành khác biệt như trời với vực, đức Như Lai thương xót, dạy tu quán Tứ Niệm Xứ: Một là quán thân bất tịnh, hai là quán thọ là khổ, ba là quán tâm vô thường, bốn là quán pháp vô ngã. Nếu quán thành thục thì Ngã Chấp bị phá. Ngã Chấp đã phá thì Pháp Chấp cũng mất. Hai Hoặc Kiến và Tư do đấy liền đoạn, liền có thể siêu phàm nhập thánh, liễu thoát sanh tử, vãng sanh cõi Phật thanh tịnh, tu tập hạnh nguyện Bồ Tát để mong được trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh mới thôi. Có những kẻ căn cơ hèn kém, trong đời hiện tại chẳng thể đạt được như vậy thì đợi cho đến khi chết đi, hỏa thiêu thân xác, khiến cho họ hiểu rõ Ngũ Uẩn vốn không, Tứ Đại chẳng có, linh tánh chân thật được phô bày trọn vẹn triệt để, đã chẳng thuộc vào thấy - nghe - hay - biết, mà cũng chẳng thể nói là nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả, ắt thoát khỏi nghiệp chất chứa, tự chứng chân thường. Vì thế, những người tại gia thông suốt thời xưa đa phần y theo cách tống táng này, chứ không riêng gì Tăng chúng mới vậy.

Dùng cách này khiến cho người mất được giải thoát, lại còn khiến cho người sống ngộ được cái vốn không, lợi ích thật chẳng phải nông cạn! Đã thiêu hóa rồi, nếu là bậc đạo đức cao siêu ắt có xá-lợi kiên cố chẳng cháy, nếu không có xá-lợi thì xương hèn còn sót lại đều được đặt trong tháp Phổ Đồng, cũng giống như sống trong tùng lâm dự vào hải chúng, phàm thánh đồng cư, nhờ vào đó để un đúc. Linh cốt đông đảo, ắt có người đã thần siêu thăng cõi tịnh vực, nghiệp giã biệt trần lao, sen nở hoa thượng phẩm, Phật thọ ký ngay trong một đời. Được sống cùng với người như vậy giống như con nhặng bám vào đuôi ngựa Ký, cũng đi được ngàn dặm; cũng như nước đổ vào biển cả đều mất tên gốc, cùng có một vị mặn. Đấy chính là duyên do của tháp Phổ Đồng vậy.

Chùa Ô Vưu ở Gia Định từ khi đại sư Huệ Tịnh đời Đường khai sơn đến nay đã hơn một ngàn năm; năm tháng đã lâu, tháp Phổ Đồng cũng nghiêng sụp, hư hoại. May được Truyền Độ đại sư trụ trì chùa này, tận lực chấn hưng Liên tông, đã dạy những người còn sống tu trì Tịnh nghiệp để cùng sanh Tây Phương, lại muốn cho người mất được hưởng yên vui, cùng dự vào hải hội. Do vậy, quyên mộ các thiện tín, hoàn thành chuyện này, sai Quang soạn bài Ký nhằm phát huy ý nghĩa. Do vậy, bèn tụng rằng:

      Chúng sanh bị sống chết,

      Đều do chấp có Ngã,

      Do vậy khởi Tam Độc,

      Như bướm tranh vào lửa

      Thử quán khi chưa sanh,

      Nghĩ xem ta ở đâu?

      Đến khi đã mất rồi,

      Ta rốt cuộc là chi?

      Đã không thuộc căn thân,

      Cũng chẳng thuộc thức tâm,

      Do căn không hay biết,

      Thức tâm do vật dời,

      Chúng sanh vì không rõ,

      Theo vọng nên mê giác,

      Lầm tâm vọng tưởng ấy,

      Thường bị sanh tử buộc,

      Như Lai rủ lòng từ,

      Dạy quán Ngã vốn không,

      Đã biết Ngã vốn không,

      Chư pháp tiêu tan hết,

      Huống lại qua lửa gột,

      Tứ Đại đều phân tán,

      Ngũ Uẩn vốn chẳng có,

      Ngã còn do đâu hiện?

      Từ đây chứng Vô Sanh,

      Mới chạm mặt Chân Ngã,

      Nguyện khắp các pháp giới,

      Đều cùng thấy như vậy.

 

31. Bi ký thuật duyên khởi sáng lập Bồ Đề Tinh Xá

 

      Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn thành thủy thành chung để mười phương tam thế chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Bởi lẽ các pháp môn được giảng trong cả một đời giáo hóa của đức Như Lai đều cần phải có công tu trì sâu xa thì mới đạt đến địa vị nghiệp tận tình không, mới có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Nếu Hoặc nghiệp chưa tận thì sanh tử luân hồi quyết định khó thoát, dẫu có tu trì cũng chỉ được phước thế gian và tạo thành duyên chủng đắc độ trong đời vị lai mà thôi. Đấy chính là chỗ khó khăn của việc cậy vào tự lực để liễu sanh tử. Pháp môn Tịnh Độ dùng tín sâu, nguyện thiết trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương, kèm thêm giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, dùng tín nguyện của chính mình cảm lòng từ bi của Phật, cảm ứng đạo giao, cho nên khi lâm chung liền được Phật từ lực đích thân đến tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Vì vậy, bất luận Hoặc nghiệp có hay không, [bất luận] công phu sâu hay cạn, chỉ cần tín chân, nguyện thiết thì dù là kẻ tội nghiệp sâu nặng vẫn có thể thoát khỏi tam giới, ngự lên chín phẩm sen, huống gì những người tu trọn giới thiện, Định lẫn Huệ đều quân bình ư?

Pháp này hoàn toàn cậy vào Phật lực kèm thêm tự lực để liễu sanh tử, vì thế trong các pháp môn của cả một đời giáo hóa, nó được gọi là pháp môn đặc biệt, chẳng được dùng những pháp môn cậy vào tự lực thông thường để bàn luận. Ấy là vì dùng Quả Địa Giác để làm Nhân Địa Tâm, cho nên nhân bao trùm biển quả, quả thấu tột nguồn nhân. Do đó, ngàn kinh muôn luận đâu đâu cũng chỉ quy, vãng thánh tiền hiền ai nấy đều hướng về. Pháp này là đường tắt để liễu sanh thoát tử, là diệu pháp để siêu phàm nhập thánh vậy. Xét từ khi đại giáo truyền sang Đông, Viễn công ở Lô Sơn sáng lập liên xã cùng Tăng - tục một trăm hai mươi ba người tinh tu Tịnh nghiệp đều được vãng sanh. Từ đấy về sau, đời nào cũng có cao nhân đề xướng, nhưng Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh, Đại Trí v.v… là những vị chẳng tiếc sức lực phát huy xiển dương mạnh mẽ nhất. Do vậy, liên phong thổi khắp trong nước, ngoài nước. Do đây, những người thoát Ngũ Trược dự vào hải hội há có thể dùng toán số thí dụ để biết được số lượng ư! Gần đây, thế đạo nhân tâm càng ngày càng đi xuống, phàm những ai có lòng lo cho đời muốn cứu giúp không ai chẳng dốc lòng nơi Phật pháp, đề xướng nhân quả báo ứng và kiêng giết, che chở loài vật, dốc chí tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương.

Cư sĩ Phó Dụ Trai xưa đã trồng cội đức, tánh hạnh thuần hòa, theo đuổi nghề buôn bán, chưa biết đến Phật pháp; năm ngoái sang thăm bạn ở đất Hàng, đêm nghỉ tại Thường Tịch Quang Lan Nhã, nghe tiếng chúng Tăng niệm Phật, khác nào được cam lộ rưới vào đảnh, đề-hồ thấm lòng, vui sướng vô ngần, không thể thí dụ được. Do vậy, xúc động túc căn liền muốn cùng những người cùng chí hướng tùy phần, tùy sức tu trì pháp này, bèn cùng các thương nhân Đinh Cam Nhân, Nghê Đại Xuân, Đàm Bộ Thiều, Nghiêm Tử Lương, Tôn Lương Thần, Phó Dụ Kinh, Phó Đình Phương, Trầm Tấn Dung, Kim Ích Như, Lâm Song Tuyền, Trần Tải Phong, Trang Hải Đào, Lý Thuật Sơ, Ngô Tổ Xương, Đàm Tử Lâm, Đàm Thạch Khanh, Đàm Hải Thu, Đàm Trúc Hinh, La Trĩ Vân, Tạ Sùng Hoa, Điền Ngọc Thụ, Phó Mộng Bật, Đàm Triệu Quý v.v… tính lập một tòa tinh xá ở Tây Hồ, Hàng Châu, để làm nơi tùy sức tu trì trong hiện tại, về già chuyên tâm tu đạo. Ai nấy đều cho đó là lành, bèn tìm mua đất để xây cất, chưa đầy hai năm đã hoàn thành, nhân đó đặt tên là Bồ Đề Tinh Xá.

Khu đất rộng hai mẫu sáu phân bảy ly, gồm có hai phần: Phần trước là đại điện gồm năm gian, chính giữa thờ Tây Phương Tam Thánh, hai bên thờ mười tám vị La Hán, dùng nơi đó làm chỗ niệm Phật, lễ tụng. Phần sau là ngôi gác năm gian ba tầng, ba gian tầng trên, gian chính giữa thờ tôn tượng Tam Thánh, hai bên thờ bài vị tổ tiên của hai mươi bốn người [nói trên] nhằm hiển thị ý dự vào liên trì, thường hầu Phật Di Đà, liền chứng được Thể - Dụng của vô lượng quang thọ, Phật tánh bất sanh bất diệt. Thứ tự trước sau lấy tuổi tác của những người ấy làm chuẩn. Hai gian bên và tầng giữa đều chia thành phòng ốc làm chỗ tịnh tu cho mọi người. Gian dưới làm nhà khách, hai bên làm Dưỡng Tâm Đường để bậc cao nhân triết sĩ tạm thời nghỉ ngơi. Tông chỉ của họ về đại cương gồm năm điều:

1) Tinh xá này vốn do xã hữu[11] ai nấy đều có công việc chẳng thể thường trụ chuyên tu, do vậy bèn lễ thỉnh bảy vị Tăng có giới hạnh chân tâm tu đạo tu trì suốt năm. Mỗi ngày hai thời khóa tụng, ba thời niệm Phật để làm hướng dẫn tốt lành cho các xã hữu nhân lúc rảnh rỗi đến đây tu trì. Tiền chi phí ăn ở hoàn toàn do các xã hữu đảm nhiệm.

2) Tinh xá này do hai mươi bốn người chung sức tạo dựng, cùng quản trị, quyền quản trị được kế thừa trong tương lai thì mỗi người chỉ được truyền một phòng, phải chọn người tánh chất tương ứng với Phật pháp, những con cháu khác đều nhất loạt chẳng được xen vào để tránh cái nạn chi phái đôi co, không thể an cư được, hoặc do mỗi người mỗi ý kiến khác biệt đến nỗi tranh chấp, chia lìa.

3) Tinh xá này vốn vì tự tu mà thiết lập, tánh chất khác biệt với các chùa miếu, chẳng được làm Phật sự kinh sám mang tính chất xã giao đối với người ngoài liên xã. Dẫu gặp dịp tết lễ, cũng chẳng để cho người khác tùy tiện đến thắp hương, chỉ có xã hữu hoặc là cầu thọ, hoặc là truy tiến thì không trở ngại gì.

4) Tinh xá này lấy chuyên tu Tịnh nghiệp, thanh tịnh trì giới làm tông chỉ chánh yếu. Chẳng cho người ăn mặn, uống rượu vào cửa. Tất cả những chuyện như chơi cờ, đánh bài và những chuyện trái nghịch Phật pháp đều nhất loạt nghiêm cấm. Phàm các xã hữu, ai nấy đều nên tự gắng sức.

5) Tinh xá này vốn để cho các xã hữu tịnh tu mà thiết lập, thời hạn cư trụ tùy theo tâm ý, nhưng không được mang theo quyến thuộc nữ nhân và con nít v.v… Nếu như gia quyến muốn đến chiêm lễ, tuy không phải là không được, nhưng phải ra về ngay trong ngày hôm ấy, quyết chẳng để cho phụ nữ ngủ lại để không trở ngại chuyện tinh tu, ngăn dứt lời dị nghị của thế gian, khiến cho hai chữ “Bồ Đề” được khuếch trương sáng rạng, rộng lớn thì may mắn lớn lao thay!

Đem toàn bộ công đức tu trì của Tăng - Tục trên là cầu lịch đại tổ tông, cha mẹ hiện đời của mỗi người được tiêu trừ ác nghiệp từ vô thỉ, tăng trưởng thiện căn thù thắng, dự vào liên trì hải hội, chứng Pháp Thân sẵn có. Lại mong cho tất cả những vị sư niệm Phật trụ tại đây và các xã hữu cùng với các quyến thuộc tam chướng băng tiêu, ngũ phước như mây nhóm, sống dự vào hạng thánh hiền, mất trở về cõi Cực Lạc. Lại mong người thấy kẻ nghe ai nấy bắt chước hành theo, cùng chuyển phàm tâm trở thành thánh trí thì lễ nghĩa, nhân nhượng được hưng thạnh, can qua vĩnh viễn ngưng dứt, trung hậu, khoan thứ khởi lên, thấy ta và vật như nhau, khiến cho thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc. Phong thái thời Đường Ngu thạnh trị lại được thấy trong ngày nay, lời nói “ai nấy đều có thể trở thành Nghiêu - Thuấn, ai nấy đều có thể làm Phật” ắt sẽ được chứng nghiệm thật sự! Đây chính là bản tâm sáng lập tinh xá, đặt tên là Bồ Đề của các cư sĩ. Do vậy, bèn trần thuật đại lược!

 

32. Bi ký ghi công đức sáng lập Tây Phương Tam Thánh Điện

(viết thay thầy Hoa Đức)

 

      A Di Đà Phật chính là Vô Thượng Từ Phụ của chúng sanh trong pháp giới, là vị Đạo Sư (bậc thầy dẫn đường) bậc nhất trong con đường ác hiểm nạn, lúc tu nhân đã phát ra bốn mươi tám thệ nguyện, lúc đắc quả bèn được quang thọ siêu việt mọi số lượng. Ngự yên nơi Liên Bang, phân thân trọn khắp mười phương sát hải, nhiếp khắp hàm thức khiến họ ngay trong đời này chứng được Tam Đức Niết Bàn. Còn như hai vị đại sĩ Quán Âm, Thế Chí thì hiện thân trong các cõi nước nhiều như vi trần, tầm thanh cứu khổ, thâu nhiếp người niệm Phật trở về Tịnh Độ, phò tá Phật Di Đà độ thoát chúng sanh, ban vui dẹp khổ đều được rốt ráo. Ân đức của Tam Thánh sâu rộng vô lượng, dẫu [dùng] trời che đất chở [để thí dụ] cũng không thể sánh ví được một phần vạn. Dẫu tan thân nát xương cũng không cách nào báo đáp được mảy may. Nạp tăng tôi thẹn làm đệ tử, chưa thể xiển dương lẽ đạo rộng lớn, muốn cho Tăng chúng trong cả chùa chuyên tu Tịnh nghiệp, toan dựng Cực Lạc Thế Giới Tam Thánh Bảo Điện, nhưng tài lực thiếu hụt, chẳng được như nguyện. May nhờ có tín sĩ Hồng Khánh Trai và vợ là Qua Diệu Phương xưa đã trồng cội đức dốc lòng tin tưởng Phật thừa, tấm lòng nhân từ, dốc lòng hoằng dương, hộ trì, hướng dẫn con gái là Vương Hồng Thị[12], cháu ngoại là Vương Thiên Tứ khẳng khái bỏ ra nhiều tiền để giúp thành toàn chuyện thù thắng này cho nên kim dung được tỏa sáng, pháp luân thường chuyển, công đức lợi ích làm sao diễn tả trọn vẹn được?

Kính mong Tam Thánh rủ lòng từ, ngấm ngầm hoặc rõ ràng gia bị khiến cho các vị thí chủ này và những vị trợ duyên ai nấy trong đời hiện tại tai chướng ngầm tiêu, hưởng đủ ngũ phước, lâm chung thể xác lẫn tinh thần đều tốt đẹp, cao đăng chín phẩm sen, tổ tiên đã mất đều thăng lên trời Cực Lạc, con cháu đời sau thảy đều nhân từ, sống lâu. Do vậy, bèn ghi lại duyên khởi cho khắc vào đá quý kiên cố để những người an cư tu hành sau này biết được sự rộng lớn của pháp môn Tịnh Độ mà quyết chí cầu sanh, đạo tràng Tam Thánh vì nguyên do nào mà được thành lập thì phước đức cho những đàn-việt lắm thay!

 

33. Bi ký trùng tu miếu Địa Mẫu[13] của chùa Đông Chiếu ở Loa Đầu Miếu

 

      Chở khắp vạn tượng, chẳng sanh phân biệt, sanh khắp muôn vật cho mọi người dùng mà chẳng cậy công, chẳng mong được báo đáp. Ân đức của đất có thể nói là rộng lớn, trọn khắp, mênh mông, dày chắc, lâu dài, không thể nào diễn tả được. Thánh nhân lập pháp: Phàm những ai đem pháp thí cho dân, siêng năng phụng sự đến chết, nhọc nhằn giữ yên đất nước, chế ngự tai họa, dẹp hoạn nạn lớn lao thì đều được lập miếu thờ phụng, huống gì đại địa là nơi cả đời chúng ta nương nhờ vào để sống, sao không lập riêng một ngôi điện vũ, thánh tượng trang nghiêm, thường dùng hương hoa, đèn đuốc cúng dường để bày tỏ chút lòng báo ân, thường nêu lòng thành hệt như thánh nhân đang ngự nơi đấy hay sao? Đấy chính là nguyên do tạo dựng miếu Địa Mẫu của chùa Đông Chiếu vậy.

Địa Mẫu chính là vị được kinh Phật gọi là Chủ Địa Thần. Ấy là vì đất sanh trưởng muôn vật như mẹ nuôi dưỡng con cái nên thế tục gọi là Địa Mẫu, chứ không phải Ngài chuyên hiện thân nữ. Theo phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm trong kinh Hoa Nghiêm thì có các Chủ Địa Thần (thần cai quản cõi đất) nhiều như số các vi trần trong một cõi Phật. Tuy có những vị từ các thế giới phương khác đến, nhưng chỉ riêng đại địa nơi này cũng chẳng phải chỉ có một vị thần làm chủ, do mỗi vị đều có lãnh thổ riêng. Lại nữa, hễ ai thuộc vào hàng thần thánh đều có chuyện thăng lên, giáng xuống, tiến - thoái, giống như quan liêu trong cõi đời: Tuy chức quan, danh hiệu quan vĩnh viễn không thay đổi, nhưng người đảm nhiệm có tiến - thoái, nhậm chức hay từ quan, hoàn toàn không nhất định, không phải như Thương Hiệt, Khổng Tử, Quan Đế, Văn Xương chuyên thuộc một người. Đổng Sự Diệp Xương Vân do thấy miếu Địa Mẫu được tạo dựng đã lâu sắp bị sụp đổ bèn quyên mộ các thiện tín được bao nhiêu đó tiền, trụ trì Từ Khoan lại giúp cho một nửa, nên điện vũ, pháp tướng lại được xây dựng mới, muốn lập một tấm bia bèn xin tôi thuật những nghĩa chánh.

Kinh Dịch chép: “Địa Thế Khôn, quân tử dùng đức dầy để chở vật”. Người có thể suy nghĩ, xử sự giống như đại địa, thi ân chẳng cầu báo, bị nhục không ôm lòng hận, chỉ trọn hết thiên chức của chính mình, chẳng quản người khác thuận hay nghịch. Người như thế sống dự vào hàng thánh hiền, mất lên cõi Cực Lạc. Như Trì Địa Bồ Tát do làm cho mặt đất bằng phẳng nên tâm địa cũng được bình, chứng đắc viên thông, tương lai lại còn thành vô thượng đạo, giáo hóa hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới như trời che khắp, như đất chở trọn, không một ai chẳng được un đúc dưỡng dục. Đấy chính là đại lợi ích của việc nhìn vào tượng [Địa Mẫu], tu đạo, chứng tâm, thành Phật, nguyện những ai đọc đến đều chú ý.

 

34. Bài ký về chuyện vãng sanh của Kim Thái Đại Sư

 

      Kim Thái Đại Sư họ ngoài đời là Phương, người huyện Vu Đô, tỉnh Giang Tây, xưa đã có thiện căn, từ nhỏ đã kiêng giết, ăn chay. Đến khi ngoài 30 tuổi, chán ngán sâu xa ngũ dục nhiều khổ não, ba cõi không yên liền xuất gia tại chùa Báo Ân ở huyện Trường Đinh, tỉnh Phước Kiến. Sau khi thọ Cụ Túc Giới, chuyên chí khổ hạnh, giữ chức Hương Đăng tại chùa Quang Hiếu ở Cám Châu (Giang Tây), tinh khiết, kiền thành, cung kính. Phàm những ai trông thấy đều khen ngợi lòng thành, tiếc của thường trụ như giữ tròng mắt, hằng ngày lấy chuyện lễ niệm tụng trì làm chánh, không để phí thời gian, được đại chúng trong chùa khâm phục, kính ngưỡng. Tiếp đó, Sư muốn chuyên tu Tịnh nghiệp bèn qua hang đá trong núi sâu ở Ninh Đô[14], gác tùng làm tòa, kết cỏ làm đệm, trồng khoai để ăn, chằm các mảnh giẻ làm áo, sự khổ hạnh của Sư khó ai kham nổi. Sư điềm nhiên vui sướng, lấy đạo làm nguồn vui. Lâu ngày, có người đến thăm tặng cho tiền bạc đều khước từ không nhận, nhưng nếu áo rách, thức ăn thô tệ bèn nhận.

Sư bản tánh cô tịch, thanh khiết, chẳng thâu đồ chúng. Có người trọng đức Sư, thay mặt thâu nạp cho Sư bốn đồ đệ, nhưng thật ra không ở chung. Một người đồ đệ tên là Đức Duyên, chùa khá dư dả, nghĩ thầy thanh bần, ba bốn lượt cầu khẩn thầy thương xót tiếp nhận cúng dường. Không lâu sau, Sư lại bỏ qua núi Liên Hoa, tự lấy ván dựng một gian thất nhỏ để sống. Đại chúng trong chùa tôn trọng đạo hạnh của Sư, để Sư được tự do. Sư suốt ngày đóng cửa tụng kinh niệm Phật, trừ hai bữa cơm sáng - tối ra, tiếng mõ, tiếng khánh rền vang không dứt, mấy mươi năm hệt như một ngày. Do vậy, những vị Tăng - tục tin tưởng, hâm mộ, thường thành tâm cúng dường phẩm vật, nếu không khước từ được thì Sư bèn đem cúng Phật, cúng Tăng để tạo công đức cho họ, bản thân chỉ giữ lại mười đồng để làm chi phí hỏa táng khi lâm chung. Sư tự cam chịu thanh bần, giải thoát, không chấp như thế đó. Phàm những ai đến thăm hỏi, bất luận tăng - tục, Sư đều dạy nhiệm vụ trọng yếu là [nhận hiểu] Sa Bà ác trược, Cực Lạc thanh tịnh, hãy gấp cầu xuất ly, nhưng phải hiểu nhân biết quả, tu hành các điều thiện thế gian, cẩn thận giữ gìn giới cấm, tụng kinh, niệm Phật, trong - ngoài như một, từ đầu đến cuối không thay đổi thì mới có hy vọng. Ngoài ra không có một lời lẽ nào liên quan đến phước lạc thế gian.

Năm Dân Quốc thứ bảy (1918), tức năm Mậu Ngọ, Sư được bảy mươi bốn tuổi, đầu tháng Mười thị hiện bệnh nhẹ, đến ngày mồng Bốn bỏ ăn uống, niệm tụng như thường đến khuya mới nghỉ. Rạng sáng ngày mồng Năm, đại chúng trong chùa không thấy Sư thức dậy, gõ cửa chỉ thấy yên lặng không đáp, vào thất xem thì thấy Sư đã đoan tọa thị tịch. Tay trái vẫn cầm dẫn khánh hệt như đang niệm Phật mọi khi, đầu hơi cúi xuống, vẻ mặt tươi cười, không khác gì còn sống. Đại chúng trong chùa trông thấy khen ngợi khôn cùng, đều nói: “Sư bình nhật có công hạnh như thế, cho nên lúc ấy đạt được cảnh tượng như thế, thần thức Sư siêu tịnh vực, gởi chất nơi hoa sen là điều chắc chắn không còn ngờ vực chi”. Học trò Sư là Đức Thân Sâm kể cho tôi nghe như thế. Nghĩ đến Tăng nhân đời Mạt thường hay lười nhác, chỉ tham lợi dưỡng, chẳng tu đạo nghiệp, người như Sư thật có thể làm gương cho đời Mạt, do vậy bèn soạn bài ký.

 

35. Bài ký về chuyện vãng sanh của cư sĩ Triệu Tôn Nhân

 

      Triệu Tôn Nhân pháp danh là Bồi Canh, người ở thành phố Mã Đường Như Cao[15], tuổi ngoài ba mươi, theo đuổi nghề buôn bán, tánh tình thuần hòa, chân thật, không trá ngụy, làm việc quả quyết, thật thà. Mấy năm gần đây được nghe pháp môn Tịnh Độ bèn sanh lòng tin tưởng sâu xa, hằng ngày lấy chuyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương làm chánh, gác qua chuyện buôn bán, chuyên làm chuyện từ thiện công ích hết sức tích cực. Do vậy, đề xướng lập ra Tế Sanh phân hội và Phật Kinh Lưu Thông Xứ. Hễ có các chuyện lành nào đều tận lực lo liệu, không chuyện gì không làm. Đối với đèn đường ở địa phương, đích thân ông sáng thâu về, tối đi thắp lên, chẳng nề mệt nhọc. Người cả một phương đều cảm phục lòng thành của ông. Ông dùng lòng thành để cảm, mọi người dùng lòng thành để ứng. Phàm khi ông quyên mộ, không ai chẳng thuận theo hầu viên thành ý nguyện cho ông.

Mùa Đông năm Dân Quốc 15 (1926), ông mắc phải bệnh ngặt, vẫn gượng đè nén cơn bệnh đề xướng Phật thất để cầu thế giới thái bình, dự định khởi thất vào ngày mồng Hai tháng Chạp, đến ngày mồng Tám là viên mãn, thỉnh sư Phạm Thành chùa Tây Phương ở Quật Cảng[16] làm Chủ Thất, chi phí đều do thiện tín tự đóng góp, người dự hội niệm Phật hơn bốn mươi người. Cư sĩ tuy đang bệnh nặng nhưng niệm Phật càng thêm tinh tấn như người không bệnh. Đến bảy giờ tối ngày mồng Sáu bèn ngồi niệm Phật qua đời. Những người đang tham dự hội càng thêm khẩn thiết niệm Phật, giúp cho ông được vãng sanh. Sau mấy tiếng đồng hồ, đỉnh đầu vẫn còn ấm, vẻ mặt chẳng khác gì lúc sống. Từ đây, ta thấy được Di Đà nguyện lực, chúng sanh tâm lực, cả hai thứ đều chẳng thể nghĩ bàn. Ấy là vì Chân Như Phật Tánh chúng sanh vốn sẵn có, chỉ nhờ vào nhân duyên để khải phát mà thôi! Như hạt giống đã gieo xuống đất, gặp mưa đúng thời bèn nảy mầm. Những kẻ trong cõi đời dùng sức Chân Như Phật Tánh để hằng ngày theo đuổi tham - sân - si, giết - trộm - dâm ví như đem châu Ma Ni tùy ý tuôn ra các thứ báu quăng trong hầm xí, nên chẳng thể thụ dụng được, chẳng đáng buồn ư? Nghe đến phong thái của cư sĩ há chẳng thẹn đến chết ư?

 

36. Bài ký về chuyện vãng sanh của cư sĩ Sa Kiện Am

 

      Ông Sa Kiện Am tên là Nguyên Bỉnh, người xứ Như Cao, tỉnh Giang Tô, phẩm hạnh, tu dưỡng, văn chương, đạo nghĩa thảy đều đáng nêu gương cho đời Mạt. Cái học của ông trọng nơi tận lực thực hành chứ không chuộng từ chương, chí chuyên chú nơi tận hết bổn phận, chẳng hâm mộ vinh hoa, ân sủng. Vì thế, sau khi đỗ đạt bèn ở nhà thờ cha mẹ cho trọn hết phận con, chẳng ra làm quan. Thoạt đầu ông chẳng biết Phật là người như thế nào, kinh có nghĩa như thế nào, bèn theo đuổi những thuyết của Hàn, Âu, Trình, Châu, cho rằng Phật pháp có hại cho thánh đạo, chẳng có ích gì cho nước, cho dân. Đến sau cuộc quốc biến[17] năm Tân Hợi (1911), buồn bã khôn khuây, thường mang ý tưởng vượt thoát cõi đời, bèn thử đọc kinh Phật, thấy nghĩa lý tinh vi áo diệu, viên dung siêu thoát, mới biết Phật là vị đại thánh nhân, giáo pháp của Ngài có những chuyện chẳng thể nghĩ bàn, như thoát ra khỏi hang tối được thấy mặt trời, khôn ngăn mừng rỡ, nhưng lại hết sức bi thương, tiếc cho mấy mươi năm chấp nhặt, hèn tệ. Từ đấy, âm thầm nghiên cứu, thọ trì, đọc tụng để mong đích thân chứng được Phật tánh sẵn có, chẳng đến nỗi thường làm người luân hồi trong lục đạo.

Năm Dân Quốc 12 (1923), tức năm Quý Hợi, tuổi tròn hoa giáp (sáu mươi), tâm yếm thế càng thêm khẩn thiết, gặp đúng dịp pháp sư Đế Nhàn đến đất Như giảng A Di Đà Kinh Yếu Giải, đích thân được nghe giảng, biết được pháp môn Tịnh Độ hoành siêu là đạo để bậc đại thánh Đẳng Giác, tiểu phàm nghịch ác đều cùng trong đời này cậy vào Phật từ lực thoát khỏi Sa Bà lên cõi Cực Lạc, tùy theo căn tánh mà được chứng nhập. Do vậy, bèn chuyên tu Tịnh nghiệp để cầu vãng sanh. Năm sau, Thôi Ích Vinh lên núi quy y, có kể cho Quang nghe về học vấn, tu trì của cư sĩ, do vậy bèn nhờ ông Thôi đem bộ Văn Sao tặng cho ông ta. Năm sau nữa, Trần Chánh Hữu đem bản luận Bài Xích Tệ Ăn Thịt Uống Rượu Trong Tang Lễ do ông Sa soạn đưa cho đọc, thấy trích kinh dẫn sử rõ ràng, khúc chiết, biết cái học của cư sĩ có căn bản, chí mong thành thánh thành hiền, tuy chưa gặp gỡ nhưng tâm hai bên như đã có mối thần giao [cách cảm]. Mùa Hạ năm ngoái, nghe Quang đến đất Hỗ (Thượng Hải) muốn đến gặp mặt, nhưng vì bệnh không ra khỏi cửa được nên chẳng thỏa nguyện, vẫn mong có ngày khác lên núi hỏi han. Đến lúc sắp lâm chung, chuyện trò cùng bè bạn vẫn lấy đó làm điều tiếc nuối. Nhưng đã sanh Tây Phương, thân cận Di Đà, dự vào hải chúng thì chẳng gặp được ông Tăng chỉ biết có cơm cháo này há có thiếu sót chi!

Đến mùa Thu, nách trái ông mọc cái ung, tiếp đó ho ra máu, đến mùa Đông càng nặng. Thuốc Tây lẫn thuốc Tàu đều vô hiệu, há chẳng phải là do sức tu trì nên chuyển báo nặng đời sau thành báo nhẹ trong đời này để giải quyết cho xong túc nghiệp đấy chăng? Đến ngày Mười Một tháng Chạp, nằm bẹp trên giường không dậy được, bèn đem những trước tác lúc bình thời giao phó cho môn nhân là Hạng Bản Nguyên, Hoàng Văn Tuấn, dặn dò đại lược việc nhà, hơi hối hận chuyện trước kia đã phạm lỗi tán thành biến chùa Quảng Phước thành nơi họp hành, dời tượng Phật đi chỗ khác, sai con ông là Tấn bỏ ra ba ngàn đồng sửa chữa Phật điện của Quảng Huệ Am ở Đông Môn để chuộc lỗi trước. Lại bảo quyến thuộc trong nhà ngày đêm thay phiên niệm Phật trước giường đến khi ông lâm chung cũng vẫn như thế, chẳng được tắm rửa, thay áo sẵn cũng như khóc lóc v.v… Liệm bằng vải thô, đừng dùng trừu, đoạn[18]. Đám tang bất luận cúng quải hay đãi khách chẳng được dùng rượu thịt, ta thường soạn luận trách đời, các ngươi chớ tùy thuận thói ác, hãm ta vào tội. Lại thỉnh Tăng trợ niệm để cầu cậy Phật từ lực vãng sanh Tây Phương. Lập hương án trước giường, thờ tượng Phật A Di Đà tiếp dẫn, mặt nhìn vào từ dung, miệng niệm, tâm nhớ, chuyên tinh nhất trí, không đề cập đến chuyện gì khác. Đêm Hai Mươi Bốn, bệnh càng nguy ngập, Tăng chúng đều đến trợ niệm, cư sĩ chánh niệm phân minh, hoặc niệm ra tiếng hoặc thầm niệm theo. Đến ngày Hai Mươi Sáu, tuy chẳng nghe tiếng, miệng vẫn luôn mấp máy. Đến chiều, khí càng suy, người nhà và Tăng chúng càng niệm khẩn thiết. Đến giờ Dậu, chợt qua đời, thoảng có mùi hương lạ. Đại chúng niệm Phật càng mạnh mẽ, hơn hai tiếng sau đỉnh đầu vẫn ấm, đến sáng hôm sau mới dứt tiếng niệm Phật để tắm rửa thay áo tẩn liệm, cất tiếng khóc. Con ông vâng lời dạy không trái nghịch, có thể nói là chân hiếu.

Ôi! Như cư sĩ có thể nói là túc căn sâu dầy, kiến địa cao siêu, ngôn hạnh tương ứng, trong - ngoài như một. Dựa theo mấy năm tu trì ấy và tín nguyện bình sinh, cảnh tượng khi lâm chung, có lẽ là Trung Phẩm Thượng Sanh đó chăng? Bởi lẽ ông hiếu dưỡng cha mẹ, làm điều nhân từ thế gian, đầy đủ tín nguyện thật sự, nhiếp tâm tịnh niệm. Một khi được vãng sanh ắt đạt địa vị Bất Thoái, chứng Vô Sanh Nhẫn, tu tập dần dần cho đến viên mãn Bồ Đề mới thôi, há còn tiếc nuối chi? Ở đây, tôi ghi lại tóm tắt những gì học trò ông là Hạng Bản Nguyên, con ông là Tấn, và học trò của tôi là Thôi Ích Vinh đã thuật, để sau này tập hợp thành Vãng Sanh Truyện và Ẩn Sĩ Sự Tích, nên mới có bài này.

 

37. Bài ký về chuyện thoát nạn của cư sĩ Trầm Dực Tiên

 

      Phật xem hết thảy chúng sanh giống như con một, thương yêu không thiên vị, thường muốn độ thoát. Do hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật, nên dù là kẻ Nhất Xiển Đề hoàn toàn chẳng có tín tâm cũng không có một tâm niệm vứt bỏ. Nếu cơ duyên đã đến bèn tự có thể sanh lòng tin tưởng quy y, y giáo tu trì cho đến khi đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: “Mười phương Như Lai nghĩ thương chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con bỏ trốn, mẹ tuy có nhớ cũng không làm gì được! Nếu con nhớ mẹ như khi mẹ nhớ con thì mẹ con đời này qua kiếp khác chẳng hề xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa. Như người nhiễm hương thân có mùi thơm”. Kinh Pháp Hoa dạy: “Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ não, nghe đến [danh hiệu] Quán Thế Âm Bồ Tát liền nhất tâm xưng danh thì Quán Thế Âm Bồ Tát liền ngay lập tức xem xét âm thanh ấy, [khiến cho họ] đều được giải thoát”. Lại nói: “Vị Quán Thế Âm Bồ Tát này trong chỗ kinh sợ nạn gấp thường ban cho sự không sợ hãi, cho nên thế giới Sa Bà này đều gọi Ngài là bậc Thí Vô Úy”. Ấy là vì tâm chúng sanh và tâm Phật, Bồ Tát xét về Thể hoàn toàn không khác, nhưng vì chúng sanh mê muội, trái giác hiệp trần, đến nỗi đây - kia bị ngăn cách, chẳng được che chở. Nếu có thể trái trần hiệp giác, nhất tâm xưng danh sẽ tự nhiên cảm ứng đạo giao, được các Ngài rủ lòng từ gia bị, dù gặp hiểm nạn cũng được không lo lắng. Cư sĩ Trầm Dực Tiên ở An Huy, trước kia không biết Phật, mùa Xuân năm Bính Dần, xứ Kim Lăng mở pháp hội Kim Quang Minh, bèn dự hội tùy hỷ, đọc kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương[19], nhận thấy nghĩa lý tinh diệu, bèn nguyện thường thọ trì. Nhân đó, thỉnh một bộ, mỗi ngày tụng một quyển, mười ngày hết một bộ, đã hết bộ thì lại tụng từ đầu. Mùa Hạ gia nhập quân đội ở đất Cám, việc quân bề bộn chẳng thể tụng kinh, chỉ thầm niệm thánh hiệu A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát mà thôi. Tháng Tám mặt trận ở đất Cám tan vỡ, toàn quân chết sạch, chỉ mình ông ta được toàn thân mạng, mới biết Phật từ rộng lớn, cảm ứng không sai. Hiềm rằng bao nhiêu chúng sanh chẳng những không sanh lòng tin tưởng, trái lại còn hủy báng, đến nỗi vô duyên đại từ, đồng thể đại bi không cách nào tự nhận lãnh được. Ví như mặt trời rạng rỡ giữa trời, chiếu khắp muôn nước, kẻ đội chậu kia chẳng thấy được tướng ánh sáng, chẳng đáng thương ư? Về sau, đọc được bộ Ấn Quang Văn Sao mới biết pháp môn Tịnh Độ chính là đạo để hết thảy dù phàm hay thánh được liễu sanh thoát tử ngay trong đời này, cậy vào Phật từ lực để vượt ngang ra khỏi tam giới, so với những pháp “thụ xuất” (vượt ra theo chiều dọc) cậy vào tự lực để đoạn Hoặc chứng chân thì khó - dễ khác biệt như trời với vực.

Đầu mùa Đông trở về nhà, dọn riêng một tịnh thất để thờ Phật và thánh tượng Quán Âm, sáng - tối lễ niệm để mong tiêu trừ túc nghiệp, tăng trưởng thiện căn, hầu sống làm người ba nghiệp thanh tịnh, chết ngự lên chín phẩm sen báu. Gởi thư cho Quang, xin viết bài ký, nhân đấy, bèn đem nghĩa lý “Phật, Bồ Tát bình đẳng đại từ đại bi nghĩ thương chúng sanh, và chúng sanh do tin tưởng hay trái nghịch sai khác mà đến nỗi được che chở hay không” viết tặng cho, mong sao người không có lòng tin liền sanh chánh tín, người đã có lòng tin càng thêm gắng tu trì, chăm chú giữ vẹn luân thường, tận hết bổn phận, khắc kỷ, giữ lễ, dứt lòng tà, giữ lòng thành, vâng làm các điều thiện, không làm các điều ác, để sống làm hạng thánh hiền, mất dự vào cõi nước của Như Lai. Nếu ai nấy đều như vậy thì tranh chấp bị tiêu diệt, lễ nghĩa, nhân nhượng hưng thạnh, thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc, may mắn nào hơn? Nguyện những người thấy nghe đều tin tưởng chắc thật, tận lực thực hành.

 

38. Bài ký trùng tu [cầu và đình thờ tượng] Quán Âm và sự linh cảm của Quán Âm Bồ Tát ở Đông Quan thuộc Vĩnh Xuân

 

      Quán Âm Bồ Tát thệ nguyện hoằng thâm, từ bi rộng lớn, trọn khắp các cõi nhiều như vi trần, tùy loại hiện thân, tầm thanh cứu khổ, độ thoát chúng sanh. Do vậy, mọi chỗ giao lộ, đường trọng yếu đa phần dựng miếu vũ để mong người qua lại trông thấy thánh tượng, sanh tâm cung kính, ngõ hầu đều được che chở. Huyện Vĩnh Xuân ở tỉnh Phước Kiến, xưa kia gọi là Đào Nguyên, núi sông đẹp đẽ, dân tình thuần phác. Cách ấp này mười dặm về phía Đông có một chỗ gọi là Đông Quan, giáp ranh với Nam An của Tuyền Châu, có con suối chảy ngang rộng bao nhiêu đó trượng. Thời Tống, dựng cây cầu bằng đá nhằm thuận tiện cho người đi đường. Nước chảy rất xiết, gặp khi mưa gió to, cầu liền bị nghiêng ngửa, hư hoại, cứ mỗi mười năm hoặc một trăm năm lại phải trùng tu cầu, [những lần sửa chữa được] chép đầy đủ trong huyện chí. Người trong ấp sùng mộ Phật giáo, lập đình chính giữa cầu thờ thánh tượng Quán Thế Âm Bồ Tát để người qua lại cùng gieo thiện căn.

Năm Quang Tự 34 (1908) đời Thanh, nhằm năm Mậu Thân, bị nạn lụt to, cầu hoàn toàn bị hủy diệt. Lúc cầu sắp bị phá hủy nhằm đúng nửa đêm, mưa gió dữ dội, đầu cầu có một người chủ tiệm tên là Trần X… đã ngoài năm mươi tuổi, rất ưa điều lành, tin Phật, đã ngủ say rồi, chợt nghe có tiếng gõ cửa rất gấp, kêu rất to: “Mau chạy lên cầu thỉnh tượng Bồ Tát ra”, liền sực tỉnh. Tiếng gõ cửa càng gấp gáp hơn, liên tiếp gọi “đi mau!” Ông vội vàng mở cửa chẳng thấy ai cả, thấy thế nước cuồn cuộn, cây cầu lắc lư răng rắc, sắp sụp đến nơi. Mưa gió táp vào mặt chẳng quản, cứ chạy ào lên ngôi đình trên cầu bưng tượng Bồ Tát ra. Vừa rời khỏi cầu, nghe tiếng sụp đổ ầm ầm, đoạn chính giữa cầu đã bị sóng gió cuốn mất. Ông ta nói: “Thoạt đầu chẳng biết vì sao lại mạnh mẽ đến vậy, ắt là có thần giúp mới được như vậy! Ôi! Lạ lùng thay!”

Một người trong ấp tên là Lý Nguyên Hiền có cha tên là Kế Như buôn bán ở Tinh Châu (Singapore), cửa nhà khá dư giả, nhiệt tâm làm chuyện công ích, bèn đề xướng quyên mộ trùng tu cầu với các bạn kiều bào ở Tinh Châu. Đến năm Giáp Dần (1914) thời Dân Quốc cầu mới xây xong. Đến năm Bính Thìn (1916) lại bị nạn gió lốc, ngôi đình trên cầu cùng gỗ lót cầu đều bị hủy hoại. Dân trong làng bèn rước Bồ Tát về thờ trong ngôi miếu gần đó; thế đạo rối loạn, suy tàn, chuyện xây cầu không ai nhắc đến nữa. Mẹ ông Nguyên Hiền là Hoàng Thái Phu Nhân đến miếu thắp hương, đi qua chỗ này, vô cùng cảm thương, ý muốn trùng tu. Đêm mộng thấy Bồ Tát hiện thân sắc vàng trang nghiêm rạng rỡ, bảo: “Chỉ có bà mới có thể vì ta dựng lại cây cầu này và thờ phụng ta, hãy làm nhanh hòng để phước lại cho con cháu”. Nhìn từ đây, đủ thấy Bồ Tát chỉ luôn tâm niệm lợi ích chúng sanh, vừa thấy được thánh tượng liền gieo thiện căn thành Phật cho tương lai. Vì thế, Ngài đặc biệt dạy sửa chữa cầu cũng như thờ phụng thánh tượng.

Thái Phu Nhân bèn gởi thư khuyên ông Hiền hãy bỏ tiền dựng lại cầu, bèn cử người trong ấp là những ông X…. trông nom. Đến tháng Hai năm Quý Hợi (1923) hoàn tất, nhân sĩ trong vùng soạn hoành phi, đối liễn ca tụng. Lại rước tượng Bồ Tát về thờ trong ngôi đình trên cầu. Do nhân duyên này, hương đèn càng thạnh. Người trông coi khi trước là ông X… gần đây đến Tinh Châu kể lại chuyện linh ứng của Bồ Tát, người trong ấp đều muốn lập bia nơi đình, một là để tỏ rõ dấu tích linh thiêng của Bồ Tát, hai là phát khởi nhiệt tâm cho người đời sau. Do thấy chuyện này có liên quan rất lớn đến thiện căn của người trong ấp nên Nguyên Hiền bèn gởi thư cho Quang xin soạn bi ký. Sách Luận Ngữ có câu: “Không phải cha như thế sẽ không thể sanh được con như thế”. Lại nói: “Muốn biết cha hãy nhìn vào con”. Cầu này thoạt đầu do ông Kế Như xướng suất trùng tu, tiếp đến do Hoàng Thái Phu Nhân trùng tu. Nguyên Hiền kính nối tiếp chí cha, tận vâng lệnh mẹ, chẳng tiếc khoản tiền lớn lao để mong vui lòng mẹ, lợi lạc người trong ấp. Tâm ấy cố nhiên khế hợp với tâm phổ độ chúng sanh của Bồ Tát. Người đời muốn được Bồ Tát gia bị, cầu được tiêu tai chướng, tăng phước thọ, hãy nên cầu nơi việc dốc sức hành hiếu hữu, lợi nhân lợi vật thì cầu gì mà chẳng được!

 

VII. Tạp trước[20]

1. Diễn thuyết tại phân hội Phật giáo Triều Dương – bài 1

(viết thay sư Liễu Thanh)

 

      Đức Đại Giác Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật ta trong trần điểm kiếp trước đã sớm thành Chánh Giác; vì độ chúng sanh nên bao lượt hiện sanh, bao lần hiện diệt. Xét đến lần xuất thế này, nhằm năm Giáp Dần tức năm 26 đời Châu Chiêu Vương[21], giáng sanh nơi Trung Thiên Trúc trong cung Tịnh Phạn Vương[22] nước Ca Tỳ La Vệ. Mẹ Ngài là Ma Gia phu nhân, nhằm ngày mồng Tám tháng Tư vào dạo chơi vườn Lam Tỳ Ni[23], trông thấy cây Vô Ưu[24] nở đầy hoa, dùng tay phải vịn cành toan hái, đức Thế Tôn bèn sanh ra đời từ hông phải của mẹ. Phật một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, mắt nhìn bốn phương, đi đủ bảy bước, nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Đến năm mười chín tuổi, vào nửa đêm ngày mồng Tám tháng Hai cưỡi ngựa Càn Trắc (Kanthaka), vượt thành bỏ đi, vào thẳng núi sâu tu đạo xuất thế. Lại muốn chỉ rõ ngoại đạo đều chẳng phải là chánh pháp nên Ngài lại đi khắp nơi trong suốt năm năm, tham học với khắp các tiên nhân. Sau đó, ngồi một mình quán tâm, ngày ăn một hạt mè hay một hạt lúa mạch, khổ hạnh sáu năm. Ngày mồng Tám tháng Chạp, đúng lúc sao Mai vừa mọc, ngước mắt nhìn chợt hoát nhiên đại ngộ, than rằng: “Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh có đủ đức tướng, trí huệ của Như Lai chỉ vì vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí liền được hiện tiền”.

 Phải biết: Đức Thế Tôn xuất gia, tham học, khổ hạnh, ngộ đạo đều nhằm làm gương cho những người tu hành đời sau, chứ không phải trước đó Ngài thật sự chưa ngộ, đến lúc ấy mới ngộ đâu nhé! Chuyện này vào đúng năm Quý Mùi tức năm thứ hai đời Châu Mục Vương (năm 959 trước Công Nguyên). Từ đấy, tùy thuận cơ nghi độ thoát chúng sanh, thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội, Thiên - Viên, Đốn - Tiệm, Đại - Tiểu, Quyền - Thật, quán sát căn cơ ban giáo pháp thích hợp khiến cho [người nghe] được lợi ích. Đến ngày Rằm tháng Hai năm Nhâm Thân tức năm thứ 52 (909 trước Công Nguyên) đời Châu Mục Vương, do hết thảy chúng sanh căn tánh chín muồi đều đã chứng đạo quả, người căn cơ chưa chín muồi cũng đã tạo được nhân duyên đắc độ, sự nghiệp một đời đã xong, liền thị hiện nhập Niết Bàn, phân Pháp Thân trượng sáu được sanh bởi Định - Huệ thành tám hộc Kim Cang bất hoại xá-lợi, phân bố khắp cõi trời, nhân gian dựng tháp cúng dường, khiến cho khắp mọi chúng sanh đều gieo thiện căn.

Đến năm Vĩnh Bình thứ bảy (64) tức năm Giáp Tý đời Hán Minh Đế, vua mộng thấy người vàng, [phía sau] cổ có viên quang[25], bay đến trước sân điện. Sáng ra hỏi quần thần đó là điềm lành gì? Thái Sử Phó Nghị tâu rằng: “Tây Vực có vị thần hiệu là Phật, vị bệ hạ mộng thấy chắc là Ngài đó!” Vua liền sai quan Bác Sĩ Vương Tuân, Trung Lang Tướng Tần Cảnh, Lang Trung Thái Âm v.v… mười tám người đi cầu Phật pháp, đến xứ Nhục Chi[26] gặp hai vị tôn giả Ca Diếp Ma Đằng, Trúc Pháp Lan, thỉnh kinh tượng Phật, muốn hóa độ phương này bèn thỉnh [hai ngài] cùng sang [Trung Hoa]. Đến năm [Vĩnh Bình] thứ 10 (67) mới về đến Lạc Dương[27], tạm ngụ tại Hồng Lô Tự[28], sau lập nơi đó thành già-lam[29]. Nhân vì dùng ngựa trắng chở kinh, ở nhờ Hồng Lô Tự, nên bèn đặt tên chùa là Bạch Mã Tự.

Vua hỏi ngài Ma Đằng: “Đức Đại Giác Thế Tôn vì sao chẳng sanh tại Trung Quốc?” Ngài Ma Đằng đáp: “Nước Ca Tỳ La Vệ nằm chính giữa đại thiên thế giới, tam thế chư Phật đều sanh nơi đấy, những quốc độ ở chung quanh chừng mấy trăm năm hoặc hơn ngàn năm, thanh giáo[30] sẽ dần dần truyền đến. Cõi này thuộc phương Đông nhưng tự xưng là Trung Quốc vậy!” Do vua hết sức tôn sùng coi trọng Phật pháp là đạo mới truyền đến nên các đạo sĩ các núi thuộc Ngũ Nhạc[31] mang lòng ganh ghét.

Đến năm Vĩnh Bình 14 (71), nhằm ngày mồng Một tháng Giêng, bàn định việc triều chánh xong, [các đạo sĩ] dâng biểu xin tỷ thí, vua chấp nhận. Đến ngày Rằm ở ngoài cửa Nam chùa Bạch Mã, dựng đài đặt kinh lên, dùng lửa để thử. Các kinh Đạo giáo đều bị cháy tiêu, tượng Phật và kinh thảy đều phóng quang. Ngài Ma Đằng thân vọt lên hư không, hiện các thứ thần biến. Ngay khi ấy, tể quan, nho gia, dân chúng, đạo sĩ, phi tần v.v… hơn một ngàn người xuất gia. Vua liền lập mười ngôi chùa, bảy ngôi chùa dành cho Tăng, ba ngôi dành cho ni. Nhưng khi ấy, Đông và Tây chưa hoàn toàn thông thương, người qua lại còn ít, nên Phật pháp chỉ được lưu truyền ở phương Bắc. Đầu thời Tam Quốc có ngài Khang Tăng Hội mới bắt đầu hoằng hóa ở đất Ngô, đến đời Tấn mới truyền bá khắp toàn quốc, lại truyền khắp các nước Cao Ly, Nhật Bản, Tiêm La, An Nam, Diến Điện, Mông Cổ. Phật pháp khởi đầu từ đời Hán, khuếch trương vào đời Tấn, đến đời Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy thì ngày càng hưng thạnh.

Đến đời Đường thì Luật, Giáo, Thiền, Tịnh, Tánh, Tướng các pháp không gì chẳng trọn đủ. Vào thời Ngũ Đại, Phật giáo ở phương Bắc hơi suy, phương Nam vẫn còn hưng thạnh. Đến đời Tống thì khí tượng của pháp môn chẳng kém đời Đường. Đời Nguyên, người Mông Cổ vào ải lên ngôi vua, tôn sùng kính trọng Phật pháp chẳng kém những triều đại trước. Các vua đời Minh vẫn rất sùng tín Phật giáo, chỉ có triều Gia Tĩnh (1522-1566, niên hiệu của Minh Thế Tông) là sùng tín Đạo Giáo, hơn bốn mươi năm pháp vận hơi suy. Từ niên hiệu Vạn Lịch (1573-1620, niên hiệu của Minh Thần Tông) trở đi, lại hưng thạnh trở lại. Cho đến đời Thanh, càng hết sức tôn sùng kính trọng. Thế Tổ Chương Hoàng Đế (Thuận Trị) chẳng xét thời cơ, kính tuân theo chế định của Phật, bãi bỏ lệ thí Tăng độ điệp, cho được tùy ý xuất gia. Đương thời, cao nhân như rừng, [lệnh ấy] quả thật có ích. Từ đời Càn Long trở về sau, pháp đạo ngày càng kém, lại thêm giặc tóc dài, giặc Hồi tàn sát Tăng lữ, thiêu hủy chùa chiền, pháp luân gần như ngừng xoay. Từ đấy, bậc triết nhân ngày càng hiếm hoi, bậc gương mẫu ngày càng ít ỏi, những phường kém cỏi, bại hoại, vô lại do chẳng phải thi làm Tăng nên xen lẫn vào Tăng chúng khá nhiều, buôn bán Như Lai, tạo đủ các nghiệp, khiến cho những người thấy biết nông cạn báng bổ đủ đường, đến nỗi có các hành vi sai trái như đuổi Tăng, phá chùa. Tuy do vô tri cho nên làm bừa, nhưng nói chung là vì Tăng giới không có người, hạnh lẫn giải đều khuyết, chẳng thể dùng pháp để cảm hóa người khác mà ra!

Xét từ khi pháp được truyền sang Trung Quốc, vua chúa các đời không ai không sùng phụng. Chỉ có Tam Võ diệt Phật, nhưng rồi Phật pháp lại được hưng thạnh. Ví như mùa Đông thời ngưng đọng kiên cố chính là để thành tựu cho lúc Xuân - Hạ nẩy mầm tăng trưởng. Mặt trời giữa hư không, một tay bưng bít nổi ư? Ngửa mặt nhổ lên trời, bẩn ngược thân mình! Tam Võ là Ngụy Thái Võ [Đế], Châu Võ Đế, Đường Võ Tông, thoạt đầu đều tin Phật pháp, hết sức tu tập. Ngụy Võ Đế tin lời sàm tấu mê hoặc của Thôi Hạo, Châu Võ Đế nghe lời sàm báng của Vệ Nguyên Tung, Đường Võ Đế tin lời vu báng của Lý Đức Dụ và đạo sĩ Triệu Quy Chân. Hủy diệt chưa bao lâu, người chủ trương, kẻ tán trợ đều mắc phải tai ương thật nặng. Ngụy Võ Đế phế giáo xong, chưa đầy năm sáu năm sau, Thôi Hạo bị diệt tộc mà chính vua cũng bị ám sát. Thái tử nối ngôi lại đại hưng Phật giáo. Châu Võ Đế phế giáo xong, Nguyên Tung bị biếm truất, chết đi; chưa tròn năm năm nhà vua thân mắc phải bệnh dữ, khắp thân lở lói, chết chưa được ba năm, Tùy Văn Đế học Thiền lại đại hưng Phật giáo. Đường Võ Tông phế Phật giáo xong, chưa đầy một năm Quy Chân bị giết, Đức Dụ chết trong khi bỏ trốn, Võ Tông uống kim đan của đạo sĩ, lưng mọc ung nhọt chết tốt. Tuyên Tông lại đại hưng Phật giáo.

Tống Huy Tông lúc đầu cũng rất tin Phật giáo, sau nghe lời yêu vọng của đạo sĩ Lâm Linh Tố, bèn đổi tượng Phật theo hình tượng Đạo Giáo, gọi Phật là Đại Giác Kim Tiên, gọi Tăng là “đức sĩ”, bắt mặc áo đạo sĩ, phàm mỗi khi làm pháp sự phải đứng sau các đạo sĩ. Vua xuống chiếu không lâu, kinh thành bị lụt to hệt như hồ, biển. Vua tôi hoảng sợ, vua sai Linh Tố ngăn nước, càng ngăn nước càng dâng, chợt có Tăng Già đại thánh hiện nơi cung cấm, vua đốt hương van xin, ngài Tăng Già chống tích trượng lên mặt thành nước liền cạn ngay; do vậy, vua bèn sắc truyền khôi phục quy chế cũ cho Phật giáo. Chưa đầy sáu bảy năm, cả cha lẫn con bị giặc Kim bắt đi, người Kim phong Huy Tông làm Hôn Đức Hầu, phong cho Khâm Tông làm Trọng Hôn Hầu. Huy Tông lẫn Khâm Tông đều chết ở thành Ngũ Quốc[32].

Phật chính là tam giới đại sư, là cha lành của bốn loài, là bậc thánh của các thánh, là trời của các trời, dạy người bỏ vọng về chân, trái trần hiệp giác, hiểu rõ Hoặc nghiệp huyễn vọng, khôi phục tâm tánh sẵn có, cảm ân, báo đức, hộ trì, lưu thông còn chưa xuể, há có thể cậy thế lực một thời để diệt con mắt Huệ của chúng sanh, cắt đứt con đường bằng phẳng của trời người, đào hầm sâu địa ngục để chuốc lấy báo ứng nhãn tiền, bao kiếp trầm luân, để lại tấm gương tầy đình cho đời sau chê cười ư? Kinh Thư chép: “Thuận lý dẫn đến điều lành, trái nghịch thì xấu, đều do ảnh hưởng”. Nhân quả báo ứng cũng là mẫu mực thánh trong Nho Giáo, nhưng chưa phát huy sâu xa đến cùng cực. Do vậy, đa phần con người ám muội không hiểu rõ. Từ đời Hán đến nay đã hơn một ngàn tám trăm năm, từ thiên tử cho đến thứ dân, người nương theo Phật pháp để minh tâm kiến tánh, liễu sanh thoát tử nhiều như cát sông Hằng. Đến nay nền Dân Quốc được xây dựng, danh nhân các giới đều biết Phật pháp là nguồn cội của đạo thế gian lẫn xuất thế gian nên bảo vệ, hộ trì, tán trợ.

Xứ Quảng Đông chúng ta chính là cuộc đất hoằng pháp thù thắng đã hơn một ngàn năm, một mạch Tào Khê[33] lưu truyền khắp trong nước ngoài nước. Linh Sơn ở Triều Châu là nơi Đại Điên thiền sư (Sư húy là Bảo Thông, người họ Dương ở Triều Châu, tham học với ngài Nam Nhạc Thạch Đầu Hy Thiên thiền sư được đại ngộ, bèn nối pháp ấy trụ tại Linh Sơn ở Triều Châu. Thứ Sử Hàn Thoái Chi lúc đầu không tin Phật, thường viết văn bài xích, đến năm Nguyên Hòa 14 đời Đường Hiến Tông (819) vì can gián nhà vua làm lễ nghênh đón xương Phật nên bị biếm xuống Triều Châu. Do đó, bèn qua lại với Đại Điên, mới sanh lòng tin tưởng đôi chút) đã nhiếp phục được bậc Đại Nho báng Phật, là nơi đạo tràng thù thắng nhập Phật pháp.

Đến nay pháp vận tuy suy, đất vẫn còn thù thắng như cũ. Các vị cùng quy y thuộc Tăng giới chúng ta ai nấy hãy nên lấy cổ nhân làm thầy, thấy người hiền mong được bằng, tinh tấn dũng mãnh, tận lực tu Tịnh nghiệp, ngõ hầu Tông phong chẳng đến nỗi suy bại sát đất, làm nhục pháp môn. Huống chi ngoại hộ đã có người thì nội tu không chướng ngại, há có nên không tự gắng sức để đẩy lùi cơn sóng hung cuồng nghiêng ngửa, nối tiếp huệ mạng sắp bị dứt, hòng báo ân Phật trong muôn một ư?

 

2. Diễn thuyết tại phân hội Phật giáo Triều Dương – bài 2

 

      Ngày hôm nay, Tăng - tục vân tập, hội tốt lành rộng mở. Danh nghĩa, tông chỉ, sự nghiệp, lợi ích rốt cuộc là như thế nào? Xin trình bày đại lược! Nói đến danh nghĩa thì danh (tên gọi) là “Triều Dương Phật giáo phân hội”. Về nghĩa thì Phật chính là Giác: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn thì gọi là Phật, chỉ cho đức giáo chủ Sa Bà Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chứ không phải quá khứ - hiện tại - vị lai mười phương hết thảy chư Phật. Giáo có nghĩa là lời thánh nhân dạy cho người dưới, là pháp để người trên thi hành, người dưới bắt chước theo. Phật thấy bổn giác diệu tánh của hết thảy chúng sanh không khác gì chính Ngài, nhưng do nhân duyên m