|
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, Quyển 4 (Phần 4)
35. Văn tế ông Thịnh Dần Hoài (viết thay sư Liễu Dư)
Nhân ngày… tháng… năm…, bạn phương ngoại[1] là Liễu Dư kính cẩn dùng lễ hương, trà, cỗ chay đến tế trước vong linh ông Thịnh Dần Hoài như sau: Như ông tuy sanh mà bất sanh, duyên hội họp bèn sanh. Tuy ông diệt nhưng chẳng diệt, duyên hết bèn diệt. Nếu triệt ngộ tự tâm thì sanh diệt khác gì hư không. Nếu chưa thấu hiểu cái sẵn có, đến - đi nào khác trăng trong nước? May nhờ túc nhân sâu dầy, bẩm tánh chân thành; điều đáng than thở là duyên với Phật hãy còn sơ sài, tiếc chưa được nghe bí quyết “hoành siêu Tịnh Độ”. Luận nơi nhân hiện tại, ông sáng suốt, liêm khiết, công bình, chánh trực, lai báo[2] ắt tại cung điện chư thiên, hoặc nhà vương công, phiệt duyệt[3]. Tuy tạm hưởng huyễn phước nhân thiên, khó khỏi hoa tàn, trăng khuyết. Xin hãy đem phước đời hồi hướng Cực Lạc tịnh vực, ắt được từ phụ Di Đà duỗi cánh tay sắc vàng nghênh tiếp. Từ đấy, giã biệt mãi mãi đời ác ngũ trược, thường hưởng ngũ thanh, ngõ hầu chẳng phụ tình tôi quen biết ông đã lâu, cũng an ủi [tôi] lúc cuối cùng chưa nói lời thành thật cùng ông được. Thượng hưởng!
36. Văn tế cư sĩ Hàn Sơn Hy (viết thay cho Thường Trụ Pháp Vũ, cư sĩ phẩm hạnh đoan chánh đáng đứng đầu giới thương nhân)
Ôi! Tâm ông trung hậu, hiền từ, tốt lành; hạnh ông liêm khiết, đoan chánh. Sống trong cõi trần nắm giữ quyền chánh, gió đức trọn khắp mọi xứ, khiến kẻ xa xỉ liền cần kiệm, kẻ yếu ớt trở thành mạnh mẽ, kẻ hung ác biến thành hiền lành, kẻ phóng đãng hết cuồng, dốc lòng tin tưởng Phật thừa, lắm cách hoằng dương, hộ trì, tán trợ. Xét ngược lại tám mươi bốn năm trước, vốn chưa từng sanh; còn như hiện tại đây, lại nào đã mất. Đến - đi tuy không có tướng nhất định, chủ nhân ông vốn tự lộ rành rành. Nếu suy nhân để nghiệm quả thì nếu chẳng hưởng phước chốn cung trời, chắc cũng hầu đấng Nguyện Vương nơi thế giới Cực Lạc. Phải biết: Phước trời dễ hết, sự vui Cực Lạc đến tận cùng vị lai trọn chẳng phải cầu! Kính xin hãy phát trọn ba tâm, lên thẳng Thượng Phẩm, ngõ hầu triệt chứng cái mình sẵn có, để vĩnh viễn làm thuyền bè cho chúng sanh đang chìm đắm trong biển khổ. Thượng hưởng!
37. Văn tế bà nội ông Hồ Gia Khoa (viết thay)
Than ôi! Nghĩ tổ mẫu ta, mẫu đức đáng làm thầy, mỗi khi nghĩ đến lòng liền bi thương. Nêu gương lành cho nữ giới, làm bậc hướng dẫn tốt lành cho chốn khuê các, quả thật đã học được hạnh của ba bà Thái đời Châu, hai bà phi của vua Ngu[4], nuôi nấng vỗ về đứa cháu bất tiếu châu đáo, thiết tha như trời che đất chở chẳng sót. Những mong cháu học thành tài, lập được đức; ra làm quan sẽ là bậc phù tá nước nhà, sống trong làng xóm sẽ thành gương mẫu. Ngờ đâu cháu bất tài, lại không tu đức, chẳng học thành điều gì. Ngửa lên trông trời, cúi xuống nhìn đất, hổ thẹn khôn cùng. May nhờ đi khắp nơi học lung tung, đọc tràn lan, gặp được văn từ phổ độ chúng sanh của Như Lai, mới biết một niệm tâm tánh của chúng ta cùng với chư Phật thật chẳng hai, chẳng khác, hằng cổ, hằng kim, chẳng chuyển dời. Chỉ vì mê trái, chạy theo cảnh sanh tham, khởi Hoặc tạo nghiệp, đến nỗi phải thọ quả báo trong tam đồ lục đạo, nhưng thật ra bổn tánh chẳng giảm hào ly! Pháp môn tu trì vô lượng vô biên đều chẳng thích hợp bằng cậy vào Phật từ lực hoành siêu tam giới (siêu thoát tam giới theo chiều ngang). Vì nếu có thể sanh lòng tin, phát nguyện, dùng tâm chí thành niệm “nam mô A Di Đà Phật”, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, quyết định cảm ứng đạo giao, được Phật tiếp dẫn vãng sanh trong ao bảy báu cõi Tây Phương. Ngũ Nghịch, Thập Ác, lâm chung tướng địa ngục hiện, niệm Phật mấy tiếng liền được tiếp dẫn dự vào Hạ Phẩm Hạ Sanh. Huống chi tổ mẫu ta đức đẹp, hạnh lành, đôi bề trọn vẹn. Tưởng nghĩ: Vua Vũ là bậc đại thánh, chẳng cứu nổi thần thức ông Cổn[5] đọa trong Vũ Uyên, hóa làm con Hoàng Nãi (con ba ba có ba chân) khôn ngăn buồn - vui lẫn lộn, như cuồng, như si! Bởi lẽ “Tây Phương có bậc đại thánh nhân”, lời ấy thốt từ đức Chí Thánh Tiên Sư Trọng Ni đất Lỗ. Kính nguyện tổ mẫu ta hãy tin chắc chắn, đừng nghi ngờ, thì ngay lập tức được nhờ cậy Phật từ. Lại nguyện tổ phụ ta và ông bà nhiều đời cùng phát tâm sợ hãi nỗi khổ sanh tử để cảm Phật từ bi, y theo đó tu trì, ngõ hầu dẫn nhau cùng dự vào Liên Trì hải hội, thân cận Phật Di Đà, hầu hạ thánh chúng. Nhờ đấy, triệt ngộ Phật tánh sẵn có để viên chứng vô thượng đại Bồ Đề. Thượng hưởng!
38. Tán dương tượng Phật A Di Đà
Buồn thay chúng sanh không nơi nương tựa, lẻ loi lênh đênh như đứa con bỏ trốn. Dù nghe Phật pháp y giáo tu hành, tự lực yếu kém, khó phá vô minh. Cao đẹp thay! Đức Thế Tôn tâm từ bi tha thiết, bốn mươi tám nguyện, bình đẳng nhiếp ba căn, khiến cho khắp chúng sanh tín nguyện trì danh, cậy Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh. Dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm, cảm ứng đạo giao như nam châm hút kim. Như Lai ân đức dẫu khen ngợi hết kiếp chẳng trọn. Chỉ mong hàm thức đều nương theo Phật nguyện.
39. Bài tán dương bức hình Quán Âm ở đầu cuốn sách Quán Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
Cao đẹp thay Đại Sĩ, thệ nguyện khó thể tuyên nói. Vận lòng Bi đồng thể, khởi lòng Từ vô duyên, tầm thanh cứu khổ, tùy loại hiện hình, hiện mọi sắc thân ứng khắp hữu tình, vô tình. Nếu có chúng sanh gặp các khổ nạn, vừa xưng danh Ngài, liền thấy cứu giúp. Giàu, thọ, con cái, hễ có sở cầu, lễ bái, cúng dường, tùy nguyện đáp ứng. Vì sao xưng danh liền được cảm thông? Vì tâm Bồ Tát đã chứng Chân Không từ thuở lâu xa. Cái tâm vô tâm ấy khế hợp tâm chúng sanh và tâm của Phật. Chúng sanh mê trái, chẳng được thọ ân. Do gặp tai nạn dốc lòng khẩn thiết, vừa phát lòng thành, bèn cảm ứng đạo giao! Như trăng trong mát sáng tỏ giữa trời, hiện bóng trong mọi dòng nước, không đâu chẳng trọn. Nếu như chẳng tín, không thể cảm được. Như nước đục ngầu, xao động, bóng trăng chẳng tỏ. Lỗi tại nơi nước, phải đâu trăng không chiếu! Nếu nước trong lặng, ắt hiện sáng ngời. Cũng như nắng xuân nẩy nở các mầm; gặp phải thứ rễ khô, càng thêm mục nát. Mưa ngọt xối khắp, thảo mộc cùng được tốt tươi. Chỉ có thứ không rễ chẳng thể sanh thành. Yếu chỉ nhập đạo, Tín là bậc nhất. Muốn được Ngài từ bi cứu giúp, không tin chẳng được! Kính nghĩ Bồ Tát sao lại có thể được như thế? Là vì có nguồn cội sâu xa, nên mới được như vậy. Nguồn cội sâu xa là gì? Ngài đã viên chứng ba giác, hiệu là Chánh Pháp Minh, phước - huệ cùng đủ, tuy trụ Tịch Quang, bi nguyện chưa thỏa, lại hiện thân Bồ Tát phù tá Pháp Vương. Trong mười pháp giới thân, không thân nào chẳng hiện. Theo chiều dọc cùng tột ba đời, theo chiều ngang trọn khắp mười phương. Công đức của Bồ Tát khó thể tán dương trọn hết. Nêu bày đại lược, làm ánh sáng trong đêm dài; riêng cầu cư sĩ [Hứa] Chỉ Tịnh ở Giang Tây, đọc khắp kinh điển trong Đại Tạng, soạn thành bài tán tụng, cung kính mô phỏng [vẽ] thánh tượng để lưu truyền trọn khắp pháp giới, khiến cho hàm thức đều được che chở.
40. Bài tán dương bức hình vị Tăng bị điên[6]
Kẻ gian Tần Cối nhận hối lộ gây rối nước, rối dân; khiến thầy ta nhọc lòng cầm chổi quét. Một cây chổi chống đỡ trời đất, mấy câu pháp ngữ trấn càn khôn. Tiếc là gã chìm đắm đã quá sâu đậm, tuy được chỉ dạy chẳng buồn hỏi han, đến nỗi thần hồn đọa A Tỳ! Tượng sắt muôn đời quỳ trước mộ họ Nhạc[7]!
41. Tịnh Độ Vấn Đáp và Lời Tựa
Lớn lao thay giáo pháp Tịnh Độ! Tâm này làm Phật, tâm này là Phật, pháp Trực Chỉ Nhân Tâm phải thua pháp này về mặt kỳ đặc (đặc biệt, lạ lùng). Mười niệm, một niệm liền lên Bất Thoái. Dù trải bao kiếp tu chứng vẫn ngưỡng mộ phong thái cao xa của pháp này. Độ khắp thượng trung hạ căn, thống nhiếp Luật, Giáo, Thiền Tông. Mưa đúng thời nhuần thấm mọi vật, như biển cả thâu nạp muôn sông. Hết thảy pháp Thiên, Viên, Đốn, Tiệm, không gì chẳng lưu xuất từ pháp giới này; hết thảy hạnh Đại, Tiểu, Quyền, Thật, không hạnh nào chẳng quy hoàn pháp giới này. Chẳng đoạn Hoặc nghiệp, được dự vào Bổ Xứ. Ngay trong một đời này, chứng Đại Bồ Đề. Chúng sanh chín pháp giới lìa pháp này thì trên chẳng thể viên thành Phật đạo. Mười phương chư Phật bỏ pháp này thì dưới chẳng thể lợi khắp quần sanh. Do vậy, Hoa Tạng hải chúng đều tuân theo mười đại nguyện vương. Hội Pháp Hoa xưng niệm một tiếng đều chứng Thật Tướng các pháp. Lực dụng lớn lao như thế, chư Phật cùng tuyên dương. Phát huy tột bậc đến như vậy, chư Tổ đều cùng như thế. Thật có thể nói là lời cực đàm (bàn luận đến tột cùng) của cả một đời giáo hóa, là đại giáo Nhất Thừa vô thượng vậy! Chẳng trồng cội đức, dù trải bao kiếp cũng khó được gặp gỡ! May được nghe ngóng, un đúc, gắng sức tu trì, sợ lũ cuồng đồ vô tri kia chê là thiển cận, cho nên y giáo khen ngợi, thuật bày để họ phụng hành vậy! Hỏi: Pháp môn Niệm Phật người ngu cũng tu được, Luật, Giáo, Thiền Tông kẻ trí còn khó hiểu được, sao lại nói pháp này thống nhiếp các pháp kia? Đáp: Muốn biết nghĩa này, cần phải hiểu kỹ sự lớn - nhỏ, hơn - kém giữa Phật lực và tự lực thì hết thảy nghi hoặc sẽ ào ạt tiêu tan, cởi gỡ ngay! Phật và chúng sanh tâm tánh tuy đồng, nhưng nếu luận về lực dụng thì khác biệt vời vợi như trời với đất. Ấy là vì chúng sanh có đủ vô lượng phiền não ác nghiệp, nên công đức - trí huệ chẳng thể hiện tiền. Phật đầy đủ vô lượng công đức - trí huệ, phiền não ác nghiệp hết sạch không còn sót. Phật và chúng sanh mê - ngộ bất đồng, cho nên lực dụng hơn - kém thật khác! Luật, Giáo, Thiền Tông đều cậy vào tự lực để liễu thoát sanh tử. Vì thế, trải kiếp dài lâu vẫn khó thoát khỏi. Pháp môn Niệm Phật hoàn toàn cậy vào Phật lực kiêm thêm tự lực để liễu thoát sanh tử. Vì thế, hết một đời này liền lên Bất Thoái. Hỏi: Tự lực, Phật lực nghĩa như thế nào, xin giảng rõ cho! Đáp: Luật, Giáo, Thiền Tông thoạt đầu phải hiểu sâu xa giáo lý, y giáo tu hành, công tu hành sâu, đoạn Hoặc chứng Chân mới thoát sanh tử. Nếu chẳng hiểu giáo lý thì là tu mù luyện đui. Nếu không, được chút ít đã cho là đủ, liền bị ma dựa, phát cuồng. Dẫu cho hiểu lý, công sâu, cũng phải đoạn Hoặc. Nếu còn mảy may chưa đoạn sạch thì vẫn y như cũ chẳng thoát khỏi vòng khổ. Đến khi nào Hoặc nghiệp hết sạch mới có thể lìa khỏi sanh tử, nhưng vẫn còn cách địa vị Phật rất xa. Lại phải trải qua bao kiếp tấn tu mới có thể viên mãn Phật quả. Ví như thứ dân sanh ra thông minh, trí huệ, đọc sách học văn nhọc nhằn nhiều năm, học vấn đã thành, thi đậu làm quan. Do có tài năng lớn, cho nên từ chức nhỏ được thăng lên dần, cho đến làm tể tướng, làm quan cực phẩm, không thể thăng lên được nữa. Trong quần thần địa vị bậc nhất, nhưng nếu so với thái tử, quý - hèn một trời một vực, huống gì [sánh với] hoàng đế? Suốt đời làm bầy tôi, phụng hành mạng vua, cúc cung tận tụy, giúp vua cai trị quốc gia. Nhưng địa vị tướng quốc ấy thật chẳng dễ dàng, nhọc nhằn cả nửa đời người, nai lưng chịu đựng, rồi đến rốt cuộc chẳng qua chỉ như vậy! Nếu học vấn tài năng hơi kém cỏi hơn, chẳng đạt được như vậy ắt có đến trăm ngàn vạn ức người! Đấy là tự lực. Học vấn tài năng ví như hiểu sâu giáo lý, y giáo tu hành. Địa vị đến chức Tể Tướng ví như công tu hành sâu dầy, đoạn Hoặc chứng Chân. Chỉ có thể xưng là thần, chẳng dám xưng là vua (Bầy tôi nhất định chẳng dám xưng là vua. Bầy tôi muốn làm vua trừ phi thác sanh trong cung vua, làm hoàng thái tử. Tu các pháp môn khác cũng có thể thành Phật, nhưng so với pháp Tịnh Độ thì khác biệt còn gấp nhiều lần [sự khác biệt] giữa ngày và kiếp. Người đọc phải khéo hiểu ý này, đừng chấp chặt vào từ ngữ. Nhưng theo như phần cuối kinh Hoa Nghiêm, Đẳng Giác Bồ Tát còn dùng mười đại nguyện vương để hồi hướng vãng sanh, rất giống với ý nghĩa thác sanh trong hoàng cung, làm hoàng thái tử. Pháp môn Tịnh Độ có được kinh Hoa Nghiêm giống như biển cả dung nạp vạn con sông, như thái hư bao trùm vạn tượng. Cao đẹp thay! Lớn lao thay!) ví như tuy thoát sanh tử, nhưng còn chưa thành Phật! Những kẻ học vấn chưa đầy đủ, chẳng thể [đạt được] như vậy rất đông; ví như những người chưa đoạn sạch Hoặc, chẳng thể thoát khỏi biển khổ sanh tử rất nhiều. Trong pháp môn Niệm Phật, dẫu chưa hiểu giáo lý, chưa đoạn Hoặc nghiệp, chỉ cần tín nguyện trì danh cầu sanh Tịnh Độ, lúc lâm chung quyết định được Phật đích thân rủ lòng tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Khi đã sanh về Tây Phương, thấy Phật nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn, ngay trong một đời này quyết định bổ vào địa vị Phật. Đây là Phật lực lại kiêm tự lực. Nói “tín nguyện trì danh” chính là do tự lực có thể cảm được Phật. Thệ nguyện nhiếp thọ, rủ lòng Từ tiếp dẫn chính là Phật lực có thể ứng với ta. Do cảm ứng đạo giao cho nên được như thế. Nếu lại hiểu sâu xa giáo lý, đoạn Hoặc chứng Chân thì phẩm vị vãng sanh càng cao, viên thành Phật đạo càng lẹ! Do vậy, Văn Thù, Phổ Hiền, Hoa Tạng hải chúng, Mã Minh, Long Thọ, tổ sư các tông đều nguyện vãng sanh. Ví như thác sanh trong hoàng cung, vừa ra khỏi thai mẹ đã sang quý lấn át quần thần, đấy là nhờ vào sức vua. Đến khi khôn lớn, học vấn, tài năng mỗi mỗi đều đầy đủ, bèn có thể kế thừa ngôi vua, bình trị thiên hạ. Hết thảy bầy tôi đều phải nghe chiếu dụ. Đấy chính là vương lực, tự lực đều cùng có. Pháp môn Niệm Phật cũng giống như thế. Chưa đoạn Hoặc nghiệp, cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương, liền thoát khỏi sanh tử. Ví như Thái Tử mới sanh đã sang quý lấn át quần thần. Đã được vãng sanh thì Hoặc nghiệp tự đoạn, quyết định bổ vào địa vị Phật, như Thái Tử khôn lớn, thừa kế ngôi vua, bình trị thiên hạ. Lại nữa, những vị đã đoạn Hoặc nghiệp như Mã Minh, Long Thọ, tổ sư các tông, những vị đã đạt tới địa vị Bổ Xứ như Văn Thù, Phổ Hiền, Hoa Tạng hải chúng đều nguyện vãng sanh. Ví như thuở xưa, trấn giữ chốn biên cương quê mùa, chẳng thể kế thừa ngôi báu; nay sống tại Đông Cung chẳng bao lâu sẽ đăng cực (lên ngôi vua). Xin hãy bỏ sạch thói cũ, đối với pháp môn này sanh lòng tín nguyện cùng cực, chuyên tinh tu tập thì vô tận phiền não nhanh chóng đoạn sạch chẳng khó khăn gì, vô lượng pháp môn tự nhiên chứng nhập. Viên thành vô thượng Phật đạo, độ thoát vô biên chúng sanh như trao bằng khoán ra lấy lại vật cũ. Hãy nên cố gắng! Hãy gắng sức lên!
42. Vì tại gia đệ tử lược nói Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện
Buồn thay chúng sanh từ vô thủy đến nay luân hồi lục đạo, lưu chuyển tứ sanh, không được cứu giúp, không nơi quay về, không chỗ nương nhờ. Như con côi mất cha, như người cùng quẫn tan cửa nát nhà. Đều là do phiền não ác nghiệp, cảm lấy khổ quả sanh tử này; đui mù không có con mắt Huệ, chẳng thể tự thoát! Đức Đại Giác Thế Tôn thương xót, thị hiện sanh trong thế gian vì chúng sanh thuyết pháp, dạy thọ lãnh Tam Quy làm cái gốc để đổi tà về chánh, dạy trì Ngũ Giới để làm nguồn đoạn ác tu thiện, dạy hành Thập Thiện để làm cái gốc thanh tịnh ba nghiệp thân - khẩu - ý. Từ đây, không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Ba nghiệp đã tịnh thì sau đấy mới có thể tuân tu đạo phẩm hòng trái trần hiệp giác, chuyển phàm thành thánh, đoạn cội rễ tham - sân - si phiền não, thành đại đạo Giới - Định - Huệ Bồ Đề. Vì thế, đức Phật nói ra pháp Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ, ba mươi bảy phẩm Trợ Đạo v.v… vô lượng pháp môn. Lại muốn cho [chúng sanh] mau thoát sanh tử, chóng thành Phật đạo, nên bèn nói pháp môn Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Độ, khiến [họ] chẳng mất nhiều sức lực lại được thành tựu ngay trong đời này. Ôi! Ân Thế Tôn có thể nói là cùng cực; dẫu thiên địa phụ mẫu cũng chẳng đủ để sánh ví. Bất Huệ thọ ân rất sâu, không cách nào báo đền. Nay các ông nghe lầm lời người, chẳng nề hà cách xa mấy ngàn dặm đến đây, muốn thờ tôi làm thầy; nhưng tôi tự xét mình vô đức, đôi ba lượt khước từ, các ông vẫn chẳng nghe theo. Nay bất đắc dĩ đem ý nghĩa đức Như Lai xuất thế thuyết pháp độ sanh thuật đại lược cùng các ông, cũng như đem Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện và pháp môn Tịnh Độ giải thích đại lược ý nghĩa, khiến cho các ông có cái để học theo, có cái để tuân thủ. Tứ Đế cho đến ba mươi bảy phẩm Trợ Đạo không phải là những pháp mà trí lực các ông có thể biết được. Vì thế, lược đi không viết. Nếu các ông y giáo phụng hành thì đấy chính là tôn Phật làm thầy, huống gì Bất Huệ! Nếu chẳng y giáo phụng hành thì ân Bất Huệ còn phụ bạc, huống chi ân Phật?
1) Tam Quy (chữ Quy 歸 còn viết là Quy 皈. Quy (皈) là trở về với cái trong trắng, theo ý nghĩa chuyển nhiễm thành tịnh vậy): Một là quy y Phật, hai là quy y Pháp, ba là quy y Tăng. Quy là gieo vào, trở về, Y là nương gởi. Như người té xuống biển, chợt có thuyền đi tới bèn lội đến bên thuyền; đấy là ý nghĩa của chữ “quay về, gieo vào”. Lên thuyền ngồi yên là nghĩa “nương nhờ”. Sanh tử là biển, Tam Bảo là thuyền. Chúng sanh quy y liền lên bờ kia. Ðã quy y Phật, thờ Phật làm thầy thì từ hôm nay trở đi cho đến lúc mạng chung, chẳng được quy y thiên ma, ngoại đạo, tà quỷ, tà thần. Ðã quy y Pháp, lấy Pháp làm thầy thì từ nay trở đi cho đến lúc mạng chung, chẳng được quy y điển tịch của ngoại đạo (Pháp chính là kinh Phật và các pháp môn tu hành. “Điển tịch” chính là kinh sách vậy). Ðã quy y Tăng, thờ Tăng làm thầy thì từ hôm nay trở đi cho đến lúc mạng chung, chẳng được quy y đồ chúng ngoại đạo.
2) Ngũ Giới: Một là chẳng sát sanh. Hai là chẳng trộm cắp. Ba là chẳng tà dâm. Bốn là chẳng nói dối. Năm là chẳng uống rượu. Loài vật cũng như ta ham sống sợ chết; ta đã ham sống thì lẽ nào loài vật lại muốn chết hay sao? Cứ theo đó mà suy thì có nên giết hại sanh mạng hay chăng? Hết thảy chúng sanh luân hồi trong sáu nẻo, tùy theo nghiệp lành, dữ sẽ bị thăng lên, giáng xuống, vượt lên hay chìm xuống. Trong nhiều kiếp, ta cùng với chúng thay phiên làm cha mẹ, con cái; phải nên nghĩ cách cứu vớt, lẽ nào nỡ giết hại? Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật trong đời vị lai. Nếu ta đọa lạc thì còn mong [được họ] cứu giúp! Hơn nữa, đã tạo nghiệp sát ắt sẽ đọa ác đạo, đền trả nợ cũ, giết hại lẫn nhau chẳng biết bao giờ mới thôi! Lấy đó mà suy, sao dám giết hại? Nguyên do của sát sanh là vì ăn thịt. Nếu đã biết nhân duyên như trên vừa nói sẽ tự chẳng dám ăn thịt nữa. Kẻ ngu còn cho thịt là ngon, chẳng hề biết thịt vốn do tinh - huyết tạo thành, trong chứa đầy phẩn, tiểu, ngoài lẫn chất dơ, tanh tưởi, hôi bẩn, ngon ở chỗ nào? Thường nên quán bất tịnh thì ăn vào ắt sẽ phát ọe. Thêm nữa, chúng sanh gồm có con người, cầm thú, giòi tửa, cá, tôm, muỗi mòng, rận, rệp. Hễ có sanh mạng thì đều là chúng sanh; chẳng thể bảo hễ con vật lớn thì chẳng nên giết, con vật nhỏ thì giết được. Kinh Phật đã dạy tường tận về lợi ích công đức của việc tránh sát sanh và phóng sanh. Người đời không đọc được những kinh ấy thì nên xem tác phẩm Vạn Thiện Tiên Tư của An Sĩ tiên sinh, ắt sẽ biết được đại khái. Chẳng trộm cắp: Thấy giới này liền nghĩ được nghĩa, nếu chẳng cho thì chẳng lấy. Chuyện này người biết liêm sỉ bèn có thể không phạm. Như bàn tỉ mỉ thì nếu ai chẳng phải là bậc đại thánh, đại hiền đều khó khỏi không phạm. Dùng của công vào việc tư, tổn người lợi mình, cậy thế đoạt của, dùng mưu đoạt vật, ganh tị sự phú quý của người khác, mong cho người khác nghèo hèn, phô trương làm lành để lấy tiếng, gặp các việc lành tâm không sốt sắng. Hoặc như khi lập nghĩa học (trường học làm nghĩa, không thâu học phí) lại chẳng chọn thầy nghiêm khiến cho con em người khác bị lầm lạc. Hoặc khi thí thuốc men, chẳng xét thật - giả khiến người ta bị hại mạng. Phàm thấy nạn gấp mặc kệ chẳng cứu ngay; lề mề, hời hợt, thờ ơ đến nỗi làm hỏng việc, chỉ làm tắc trách cho xong việc, lãng phí tiền tài người khác, trong lòng chẳng coi là khẩn yếu. Những điều như thế đều gọi là trộm cắp vậy. Do các ông đang sống trong thiện đường[8] nên trích ra những điều tốt lành hay tệ hại để nói đại lược vậy. Chẳng tà dâm: Người đời nam nữ lập gia đình sanh con đẻ cái thì trên là vì phong hóa, dưới là để [có người] thờ phụng tổ tiên. Vợ chồng hành dâm không phạm vào điều cấm; nhưng phải nên kính nhau như khách, chỉ cốt tiếp nối giòng giống [để có người] thờ cúng tổ tiên, chẳng nên vì khoái lạc mà chạy theo lòng dục đến nỗi mất mạng. Tuy là vợ mình nhưng nếu tham lạc quá thì cũng là phạm giới; nhưng tội ấy vẫn còn nhẹ, nhỏ. Nếu chung chạ bừa bãi với người chẳng phải là vợ mình thì gọi là tà dâm; tội ấy rất nặng! Hành tà dâm là đem cái thân người làm chuyện súc sanh; khi báo hết mạng dứt, trước sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, sau sanh trong súc sanh đạo ngàn vạn ức kiếp chẳng thể xuất ly. Hết thảy chúng sanh đều do dâm dục sanh ra cho nên giới này khó giữ dễ phạm; ngay cả bậc hiền đạt có lúc còn vấp ngã, huống là kẻ ngu. Nếu lập chí tu trì thì trước hết phải hiểu rõ lợi - hại và phương pháp đối trị: Như thấy rắn độc, như gặp oán tặc, sợ hãi e dè thì dục tâm tự tắt. Phương pháp đối trị đã được ghi nhiều trong kinh Phật. Nếu người đời chẳng có duyên xem đến thì nên xem cuốn Dục Hải Hồi Cuồng của An Sĩ tiên sinh, ắt sẽ biết được đại khái (Lợi: Cái lợi do chẳng phạm, hại là họa hại do phạm giới này vậy) Chẳng nói dối: Tức là lời nói đáng tin, chẳng thốt ra lời dối trá. Nếu thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy bảo thấy, lấy dối làm thật, có nói là không v.v… phàm khi tâm và miệng chẳng tương ứng, muốn dối gạt người thì đều là nói dối cả. Nếu lại có kẻ chưa đoạn Hoặc mà bảo là đã đoạn Hoặc; tự chưa đắc đạo bảo là đắc đạo thì gọi là đại vọng ngữ; tội ấy rất nặng, sau khi mạng chung quyết định đọa thẳng vào A Tỳ địa ngục, trọn chẳng có kỳ ra. Hiện nay, có nhan nhãn những kẻ tu hành nhưng chẳng hề biết đến giáo lý Phật pháp cho nên phải thống thiết răn đe; rất quan trọng vậy. Bốn điều trên đây chẳng luận là xuất gia hay tại gia, đã thọ giới hay chưa thọ giới, hễ phạm phải đều có tội lỗi vì thể tánh [của những sự ấy] là ác. Người chẳng thọ giới tội lỗi một tầng; người đã thọ giới tội nặng gấp đôi: ngoài tội làm điều ác còn thêm tội phạm giới. Nếu trì mà chẳng phạm thì công đức vô lượng vô biên. Vì vậy, cần phải gắng công giữ giới! Chẳng uống rượu: Là vì rượu có thể làm mê loạn lòng người, hư hoại hạt giống trí huệ. Uống vào khiến người điên đảo, hôn cuồng, làm điều xằng bậy nên Phật chế giới cấm hẳn. Phàm người tu hành đều chẳng được uống. Thêm nữa, đối với các thứ hành, hẹ, giới (nén) (薤 đọc là Giới, là một loại tỏi nhỏ ), tỏi… năm thứ hăng nồng (ngũ huân), mùi vị hôi hám, thể chất chẳng thanh khiết. Ngũ huân hễ ăn chín thì phát sanh lòng dâm, ăn sống thì thêm nóng giận; phàm là kẻ tu hành đều chẳng được ăn. Tuy nhiên, đối với người chưa thọ giới này thì uống rượu, ăn ngũ huân đều chẳng bị tội; còn nếu đã thọ giới rồi còn uống rượu, còn ăn ngũ tân thì mắc một tầng lỗi, tức là tội phạm Phật giới. Phật đã cấm ngăn mà các ông lại phạm nên có tội (Ngũ Huân[9]: Tây Vực có đủ năm thứ, ở đây (Trung Hoa) chỉ có bốn loại).
3) Thập Thiện: Một là chẳng sát sanh, hai là chẳng trộm cắp, ba là chẳng tà dâm, bốn là chẳng nói dối, năm là chẳng nói thêu dệt, sáu là chẳng nói đôi chiều, bảy là chẳng ác khẩu, tám là chẳng keo tham, chín là chẳng nóng giận, mười là chẳng tà kiến. Trong những giới này, ba giới đầu tiên là thân nghiệp; bốn giới giữa là khẩu nghiệp; ba giới sau cùng thuộc về ý nghiệp. Nghiệp là sự. Nếu giữ gìn chẳng phạm thì gọi là Thập Thiện; nếu vi phạm chẳng giữ được thì gọi là Thập Ác. Thập Ác chia ra làm thượng, trung, hạ; sẽ cảm thân trong ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thập Thiện cũng chia ra làm thượng, trung, hạ, được thân trong ba đường lành: trời, người, A Tu La. Nhân lành cảm quả lành, nhân ác cảm quả ác, quyết định không nghi, tơ hào chẳng lầm. Những điều “giết, trộm, dâm, nói dối” đã giảng trong phần nói về Ngũ Giới. Nói thêu dệt là nói lời vô ích, phù phiếm, bóng bảy, đẹp đẽ, bàn soạn chuyện dâm dục khiến người ta nghĩ bậy v.v… Nói đôi chiều là đến người kia nói chuyện người này, hướng đến người này nói chuyện kẻ kia; khêu gợi thị phi, đòn xóc hai đầu. Ác khẩu là ngôn ngữ thô ác như đao, như kiếm, phơi bày những điều xấu người ta muốn giấu, chẳng biết kiêng dè. Nếu lại còn mạo phạm đến cha mẹ người thì gọi là đại ác khẩu; tương lai sẽ mắc quả báo súc sanh. Ðã thọ Phật giới thì nên cẩn thận chớ phạm. “Keo tham” (xan tham) là chẳng chịu thí của cải của chính mình cho người thì gọi là Keo. Ðối với của cải của người ta chỉ muốn đoạt về mình thì gọi là Tham. Nóng giận là phẫn hận, giận dữ: Thấy người đạt được điều gì thì lo buồn, phẫn nộ; thấy người bị mất mát, lòng khoan khoái sung sướng. [Nóng giận] cũng có nghĩa là cậy thế lực, buông lung tâm tánh, khinh rẻ cả người lẫn vật. Tà kiến: Chẳng tin làm lành được phước, làm ác mắc tội; nói là không có nhân quả, chẳng có đời sau; khinh miệt lời của hiền thánh, hủy kinh giáo của Phật. Thập Thiện này bao gồm hết thảy mọi sự. Nếu có thể tuân hành Thập Thiện thì không ác chi chẳng dứt được, không điều lành chi chẳng tu. Tôi sợ kẻ sơ tâm chẳng thể hiểu rõ nên nay nêu đại lược một hai việc: a. Một là nên hiếu thuận phụ mẫu, chẳng trái, chẳng nghịch, mềm mỏng, uyển chuyển, khuyên cho cha mẹ nhập đạo, bỏ mặn, ăn chay, trì giới, niệm Phật, cầu sanh Tây phương liễu thoát sanh tử. Nếu cha mẹ tin nhận thì không điều lành nào lớn hơn nữa! Nếu như cha mẹ nhất quyết chẳng làm theo thì cũng chớ ép buộc vì sẽ mất đạo Hiếu; chỉ nên đối trước Phật thay cha mẹ sám hối tội lỗi; đó mới là điều nên làm. Với anh em bèn hết dạ; với vợ chồng thì tận kính; với con cái thì cực lực giáo huấn khiến cho chúng tốt lành. Cẩn thận chớ mặc tình kiêu hãnh quen thói đến nỗi thành phường trộm cướp. Ðối với xóm giềng làng nước nên hòa mục, nhún nhường. Vì họ nói nhân quả, thiện ác khiến họ đổi ác, hướng lành. Ðối với bằng hữu thì tận tín; với tôi tớ thì từ ái. Ðối với việc công cũng tận tâm hết sức như làm việc tư. Hễ thấy người thân, kẻ quen biết thì gặp cha bèn nói về lòng từ; gặp con liền nói về hiếu. b. Về làm ăn tuy là bỏ vốn kiếm lời, cũng chẳng nên dùng đồ giả, gạt gẫm người khác. Nếu phong hóa này được thạnh hành ở một làng, một ấp sẽ tiêu được cái họa loạn khi chưa chớm, đến nỗi hình phạt thành ra vô dụng thì có thể nói là ngoài nội tận trung, sống ở nhà mà tham dự quyền cai trị vậy.
43. Dạy bà tỳ-kheo-ni X… (Bà này là người xuất gia thuộc dòng dõi thế gia, viết thay cho bạn)
Quang âm nhanh chóng, thời thế đổi dời trong từng sát-na, chẳng ngừng nghỉ dẫu chỉ một niệm. Đấy chính là tạo vật hiện tướng lưỡi rộng dài vì khắp hết thảy chúng sanh như bà với tôi mà nói “mạng người vô thường, vinh hoa chẳng tồn tại dài lâu, hãy gấp đi theo diệu pháp vô thượng để khỏi bị trầm luân”. Bà đã nhàm bỏ vinh hoa cõi thế, phát tâm xuất gia, ắt phải nỗ lực siêng tu, chớ nên chần chừ để ngày tháng trôi qua. Một hơi thở ra khó thể giữ lại, thở ra không hít vào được nữa liền thuộc vào đời sau. Hãy nghĩ hình chất tuy thuộc Ngũ Lậu[10], nhưng tâm tánh vốn đủ Tam Đức. Đau đáu gột rửa tập khí nữ nhân từ bao kiếp, tận lực trì thánh hiệu Di Đà, quán cõi Sa Bà này trược ác còn hơn chuồng xí, tin cõi Cực Lạc kia chính là quê nhà ta vốn sẵn có. Chẳng cầu những phước lạc trời - người đời này, đời sau, chỉ nguyện báo hết mạng tận được Phật tiếp dẫn vãng sanh. Sáng sao chiều vậy, niệm đâu nghĩ đấy, niệm cực công thuần, cảm ứng đạo giao, đến lúc lâm chung ắt được thỏa nguyện. Đã sanh về Tịnh Độ đốn ngộ Vô Sanh, nhìn lại phú quý thế gian khác nào ánh nắng dợn, hoa đốm trên không, hệt như ngục tù, biển độc! Nhưng muốn sanh Tịnh Độ trước hết phải đối trị nhiễm tập (những tập khí nhơ uế). Kinh Phật thường dạy: “Phú quý khó học đạo, nữ nhân cũng khó học đạo”. Ấy là vì kẻ phú quý, kiêu mạn thành tánh, xa xỉ đầy lòng, còn chưa thể khiêm cung tiếp nhận sự vật để tự chăn giữ chính mình, sao có thể dứt nghĩ, quên duyên, hư tâm cầu đạo? Nữ nhân chỉ cậy bóng sắc, thường ôm lòng ghen ghét, chẳng biết dẫu là hạng sắc nước hương trời vẫn cứ là đãy phân, túi da y như cũ! Đã tham luyến thân huyễn, sao ngộ được diệu tánh? Nhằm trị bệnh này, đức Như Lai dạy tu quán Tứ Niệm Xứ: Một là quán thân bất tịnh, hai là quán thọ là khổ, ba là quán tâm vô thường, bốn là quán pháp vô ngã. Quán này nếu thành thì tập khí yêu mến cái thân, ỷ thế sẽ tiêu diệt không còn sót, chẳng khác lò lớn nung tan mảnh tuyết. Bà vốn là nữ nhân phú quý xuất gia, phàm những tập khí kiêu ngạo, xa hoa, đẹp đẽ, bóng bảy phải triệt để vứt bỏ, chẳng để cho mảy may nào chứa chấp trong lòng thì tương lai mới có phần thoát khổ. Hiện thời, pháp yếu ma mạnh, thầy lành bạn tốt thật chẳng dễ được, phải nên tôn kính cổ nhân, lấy cổ nhân làm thầy. Tỳ Kheo Ni Truyện, Thiện Nữ Nhân Truyện, Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục hãy nên thường đọc kỹ, ngõ hầu có cái để học theo, không do đâu bị đọa vào bè ma. Gần đây Tăng - Ni đa phần không đúng pháp, chớ nên lạm thâu đồ chúng, hoại loạn Phật pháp, đấy thật là điều thiết yếu nhất. Hãy nên tận lực giữ gìn Thanh Quy, tận lực tu Tịnh nghiệp, sống làm gương cho nữ nhân, chết dự vào Liên Trì, mới khỏi phụ công trốn khỏi hầm lửa vạn trượng, đích thân làm đệ tử Như Lai. Hãy gắng sức lên, chớ quên lời ta.
44. Giới Đường Tiểu Thực Bảng[11]
Thể Tam Đức viên dung được tỏ lộ bởi Giới. Thân do Tứ Đại huyễn thành, sống nhờ ăn uống. Tiến đến Bồ Đề hoàn toàn nhờ vào Giới Độ; tinh tu đạo phẩm ắt phải dựa vào cái ăn. Các ông đã phát Vô Thượng Đạo Tâm, muốn đắc Tam Tụ Tịnh Giới[12], hãy nên dốc cạn tâm lực gieo lòng thành lễ sám. Các vị thầy ngoài Giới Đường và các vị hộ pháp chỉ sợ các ông thân tâm nhọc mệt, đạo nghiệp khó thể hoàn thành, nên trước bữa cơm trưa, đặc biệt lập ra bữa Tiểu Thực để các ông đỡ lòng hòng được yên ổn. Phải biết bữa ăn này về Thể chính là Thiền Duyệt[13], vô sanh vô diệt, chính là Sắc, chính là Không, giống như cơm thơm của ngài Tịnh Danh (Duy Ma Cật) thì Hoặc mới tiêu được đôi chút. Nó chính là chất Kim Cang[14] trong kinh Hoa Nghiêm, dù kiếp hoại [Kim Cang] vẫn không hoại. Nếu các ông hiểu được [như vậy] thì tam luân thể không, liền giác được lục trần, nhất niệm chẳng sanh, mười cõi tiêu mất. Thức ăn, pháp, tâm, cảnh mỗi mỗi bình đẳng. Giống như hư không hợp với hư không, như nước đổ vào nước, biến mất nhưng chẳng hoại, trở thành một thể. Như vậy mới xứng là người trì tịnh giới, mới gọi là người báo đáp được ân. Nếu không, hạt gạo to như núi làm sao ăn cho tiêu được, tương lai chắc phải có ngày khoác lông đội sừng đền, các ông ai nấy hãy cố gắng!
45. U Minh Giới Điệp[15] (Bốn chữ “hiện tọa đạo tràng” chỉ Phổ Đà mới có thể dùng, những chỗ khác nên dùng chữ “tầm thanh cứu khổ”)
Thể của Tâm vốn tịnh, nhân mê vọng mà phiền hoặc bèn sanh. Thế giới vốn trong sạch, do huyễn nghiệp mà trược ác liền nhanh chóng hiện ra. Một phen mê thì mãi mãi mê, từ kiếp này sang kiếp khác trầm luân trong cõi sanh tử, chìm mất trong trần lao. Quán chiếu chưa khởi, sao biết được Ngũ Uẩn vốn không? Tham nhiễm thành tánh, nào rõ lục trần chính là giác! Ôm bảo châu vô giá oan uổng chịu khốn khổ, sẵn đủ Phật tánh thường trụ lại cam chịu luân hồi. Đức Đại Giác Thế Tôn thương xót thị hiện thành Chánh Giác, chế ra giới pháp. Trên từ Tam Thừa Thập Địa, dưới đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, phàm những ai có tâm thảy đều nên thọ trì. Ấy là vì hết thảy chúng sanh đều đầy đủ trí huệ, đức tướng của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí liền được hiện tiền. Do sức của Tam Tụ Tịnh Giới này, ngay lập tức dứt ác ngừa quấy, bỏ vọng theo chân, dơ hết, sáng hiện, vi trần vỡ, kinh lộ ra, cái tâm nghiệp thức biến thành Như Lai Tạng, khôi phục chân tâm thường trụ chẳng dời chẳng biến, chứng Pháp Tánh tịch diệt không giảm không tăng; nhập địa vị chư Phật, làm con đấng Pháp Vương, đến tận cùng đời vị lai độ thoát chúng sanh, ngõ hầu mình cùng người đều thành giác đạo. Cao quý thay đức Thế Tôn! Dùng Giới độ sanh, khiến cho lìa khổ được vui, khiến cho phàm phu trở thành thánh. Từ ân bát ngát, pháp lợi mênh mông. Dẫu thiên địa, phụ mẫu cũng chẳng thể sánh ví được muôn một. Nay có tín sĩ X… sống trong huyện… phủ… tỉnh… của Trung Hoa Dân Quốc, thuộc Nam Thiệm Bộ Châu trong tứ thiên hạ, thờ Phật, tu nhân, siêu tiến vong linh vãng sanh liên bang, kính vì [hương linh]… sanh năm… tháng… ngày… giờ… hưởng thọ… tuổi, trong ngày… tháng… năm… đột nhiên qua đời. Đau đớn nghĩ: Thân lìa trần thế, thần thức vào chốn u minh, chưa liễu nhất tâm, khó thoát lục đạo. Muốn cậy nhờ Phật lực dẫn dắt thần thức vãng sanh Cực Lạc, nên đến chùa này, xin thuyết giới để trước hết gột sạch căn thân. Do vậy, kính vâng theo lời Phật sắc truyền, lập đàn tác pháp, phụng thỉnh Sa Bà Giáo Chủ Thích Ca Thế Tôn, Cực Lạc Đạo Sư A Di Đà Phật, Phật Thuyết Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh, U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Bồ Tát, Hiện Tọa Đạo Tràng Quán Âm Đại Sĩ, thập phương tam thế vô tận Tam Bảo giáng đàn chứng minh, rủ lòng từ gia bị khiến cho giới pháp vô tác mầu nhiệm tốt lành từ đảnh môn nhập vào thân tâm, thành tựu pháp khí, tiếp nối hưng thạnh dòng giống Phật. Do vậy, trước hết dạy [vong linh] quy y Tam Bảo, phản tà quy chánh, kế đó, dạy sám hối nghiệp chướng, thanh tịnh căn thân. Tiếp đó, dạy phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, thượng cầu hạ hóa. Sau đó, mới vì [vong linh] nói Tam Tụ Tịnh Giới khiến cho thân - khẩu - ý nghiệp có chỗ nương tựa. Từ đấy, đoạn ác tu thiện, tự lợi, lợi tha. Nếu tự có thể mạnh mẽ không ngừng nghỉ, sẽ phá được Ngũ Trụ, thoát khỏi nhị tử, viên mãn Tứ Hoằng, chứng Tam Đức nào có khó gì! Phải biết: Sa Bà trược ác, gặp phải duyên bèn gây chướng đạo; Cực Lạc thanh tịnh, thấy cảnh tâm bèn sáng tỏ. Đem công đức thọ giới vô thượng này hồi hướng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Phát trọn vẹn ba tâm, xưng danh mười niệm, chắc chắn được Phật Di Đà đích thân tiếp dẫn, thánh chúng đều đến đón. Trong khoảng khảy ngón tay liền sanh sang cõi kia, gởi thân nơi thai sen, vĩnh viễn lìa các khổ, nghe pháp thọ ký, đốn chứng Vô Sanh. Rồi từ đó nương theo nguyện luân của chính mình, trở vào Sa Bà, ứng trọn khắp các căn cơ, hiện thân hình tùy theo từng loại để thành tựu trọn các duyên, xiển dương pháp “tự tánh chính ngay nơi tâm”, khiến cho chúng sanh trong khắp pháp giới đều cùng vào trong Di Đà nguyện hải, đáng gọi là Phật tử tối thượng, là bậc đại trượng phu thật sự! Tác pháp đã xong, cấp cho điệp văn. Nhờ công đức này liền được sanh về Tịnh Độ.
46. Dạy Trần Sanh (ông này sống nhờ tại trường học Hóa Vũ ở Phổ Đà, cha ông ta dạy học tại trường này)
Mạnh Tử cho rằng bậc quân tử có ba điều vui[16] còn hơn làm vua thiên hạ, điều thứ ba chính là được dạy dỗ bậc anh tài trong thiên hạ. Có thể thấy rằng chuyện giáo dục anh tài rất lớn lao, trách nhiệm rất nặng, quan hệ thật chẳng phải nông cạn. Ấy là vì nếu bậc anh tài được giáo dục sẽ nối tiếp được thánh nhân đời trước, chỉ bảo cho người học đời sau, giữ yên đất nước, khiến đời yên dân lành. Nếu không được giáo dục thì bậc thượng do không có khuôn phép [để noi theo] nên chẳng thể siêu quần xuất chúng, trở thành một kẻ tầm thường; còn bậc hạ sẽ bầu bạn với kẻ gian, đàn đúm với kẻ trộm cướp, làm quấy, làm ác, hoặc hãm thân trong phường gian thần tặc tử mà chẳng tự biết! Bất Huệ khi trẻ chẳng nỗ lực, đến già chẳng thành trò trống gì, trên phụ tấm lòng sư phụ dạy dỗ, dưới bị mất đi niềm vui giáo dục bậc anh tài. Chỉ mong anh tài trong thiên hạ đều được giáo dục, cùng hưởng cái tâm vui sướng ấy, chưa từng một ngày nào quên đi điều đó! Ông tướng mạo xuất chúng, thông minh hơn người, nếu chịu phát phẫn học hỏi, tương lai nhất định đạt đại thành tựu chẳng thể suy lường được! Chỉ sợ ông ham chơi, luống uổng thời gian, đến nỗi tài vén mây ngút trời trở thành cái tài quẩn quanh trong gang tấc. Bài thơ đã nói chiều qua, sợ ông chưa thể nhớ được, nên hôm nay chép lại đưa cho ông, mong giúp phần tạo nên cái tâm phát phẫn học hành cho ông ngõ hầu trở thành bậc đội trời đạp đất vô song trong cả cõi đời. Thơ rằng: Thiếu niên thanh xuân tự quá câu, Song tiền sự nghiệp cánh hà như, Dục vi thiên hạ vô song sĩ, Tu độc nhân gian vạn quyển thư, Vũ lộ nan tư khô căn thảo, Phong lôi đản hóa hữu lân ngư, Tương Như[17] bất phẫn đề kiều chí, Yên đắc cao thừa tứ mã xa, (Tạm dịch: Tuổi xuân như bóng bạch câu[18], Bên song sự nghiệp biết đâu mà lường? Muốn thành thiên hạ vô song, Hãy nên đọc lấy muôn vàn quyển văn, Cỏ khô rễ đẫm sương vô ích, Cá có vảy sấm gió mới thành, Bên cầu phẫn chí ghi thề, Tương Như mới có ngựa xe dập dìu!) Lại nói: Tam xích Long Tuyền, vạn quyển thư, Lão thiên sanh ngã ý hà như? Sơn Đông tể tướng, Sơn Tây tướng, Bỉ trượng phu hề ngã trượng phu! (Long Tuyền[19] ba thước, sách vàn muôn, Trời sanh ra tớ, há chuyện xuông? Sơn Đông tể tướng, Sơn Tây tướng[20], Người trượng phu, ta cũng trượng phu!) Hai bài thơ ấy của cổ nhân nhằm khích lệ tấm lòng anh tài, có thể nói là thân thiết, khẩn thiết đến cùng cực không chi hơn được nữa! Mong ông hãy đọc kỹ, nghĩ chín chắn thì may mắn lắm thay!
47. Dạy những nghĩa lý về pháp môn Tịnh Độ và cách đối trị nóng giận
Đức Như Lai ra đời vốn nhằm làm cho các chúng sanh đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử mãi cho đến khi thành Phật mới thôi! Nhưng vì chúng sanh căn tánh không đều nhau, cho nên Như Lai phải thuận theo cơ nghi, nói ra hết thảy các pháp Đại - Tiểu, Quyền - Thật, Thiên - Viên, Đốn - Tiệm. Pháp tuy đủ mọi loại bất nhất, nhưng đều nhằm để thành thục thiện căn cho chúng sanh, khiến cho họ rốt ráo thành Phật. Nhưng đoạn Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử há phải dễ dàng ư? Nếu chẳng phải thuộc hai loại người, [tức là] hạng đã gieo trồng [hạt giống] từ trước đến nay chín muồi và hàng Pháp Thân thị hiện, thì dù có tu trì cũng chẳng thể ngay trong đời này, hoặc trong một hai đời giải quyết nhanh chóng được! Kẻ căn cơ độn dù trải qua kiếp số lâu xa vẫn khó thể liễu thoát bởi lẽ chỉ cậy vào tự lực! Như Lai nghĩ thương chúng sanh tự lực liễu thoát khó khăn, nên bèn đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ cần đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật thì tuy là tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cực nặng sắp đọa địa ngục A Tỳ vẫn được vãng sanh. Huống chi những ai không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện ư? Huống gì những Phật tử thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới ư? Pháp môn Tịnh Độ thích hợp khắp ba căn, chính là để tiếp dẫn căn khí Thượng Thượng, và là tiếp dẫn kèm thêm hạng trung hạ. Kẻ ngu thường hay chê [pháp này] là thiển cận, Tiểu Thừa, nói chung là vì do chưa đọc kinh luận Đại Thừa, chưa gặp được bậc thông suốt có đầy đủ con mắt, dùng cái tâm điên đảo, chấp trước của chính mình để dò lường đạo thông suốt từ ban đầu cho đến chung cục của Như Lai. Như kẻ mù nhìn mặt trời, như kẻ điếc nghe sấm, cố nhiên bọn họ chẳng thấy, chẳng nghe, cho nên mới bình luận lầm lạc! Phải biết: Một pháp Tín Nguyện Niệm Phật chính là lời tuyên thuyết phát xuất tâm từ bi triệt để phổ độ chúng sanh của đức Như Lai; chỉ có các vị Bồ Tát như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v… mới có thể gánh vác rốt ráo. Bọn họ thấy ngu phu, ngu phụ đều có thể niệm Phật bèn coi [pháp này] là thiển cận, là Tiểu Thừa, có khác gì thấy ngôi sao treo nhỏ tí trên không trung bèn cho trời là nhỏ nhoi, thấy con trùng bé xíu bò trên đất bèn cho là đất cỏn con hay chăng? Nếu có thể tin tưởng được pháp này thì chính là nhiều đời nhiều kiếp đã gieo sâu thiện căn. Nếu có thể dùng lòng tín nguyện sâu xa trì danh hiệu Phật, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối thì chính cái tâm phàm phu ấy sẽ biến thành Như Lai Tạng, như người nhiễm mùi hương thân có mùi thơm. Hiện tại được tiếp xúc với khí phận của Phật, lúc lâm chung lẽ nào chẳng cảm ứng đạo giao, được Phật tiếp dẫn hay sao? Những pháp như nhiếp tâm niệm Phật và tùy phận tu trì, tùy duyên hóa đạo, cũng như duyên do của Thiền Tông, Tịnh Tông, Phật lực, tự lực lớn - nhỏ, khó - dễ đã được trình bày tường tận trong Ấn Quang Văn Sao, xin hãy lắng lòng đọc kỹ ắt sẽ tự biết, nên ở đây không ghi lại cặn kẽ. Chỗ quan trọng trong việc tu hành chính là đối trị tập khí phiền não. Tập khí ít đi một phần thì công phu tiến thêm được một phần. Có người càng ra sức tu hành, tập khí càng dấy động là vì chỉ biết tu trì theo mặt sự tướng, chẳng biết phản chiếu hồi quang, kiên quyết trừ khử những vọng tình trong tâm họ mà ra. Nếu ngay trong lúc bình thời đã đề phòng sẵn, thì lúc gặp cảnh đụng duyên, phiền não sẽ chẳng phát khởi. Nếu bình thời biết được thân tâm ta đây hoàn toàn thuộc về huyễn vọng, cầu lấy thực thể, thực tánh của Ngã hoàn toàn chẳng thể được thì đã không có Ngã, nào còn có nhân cảnh (cảnh nơi nhân), nhân nhân (đối tượng con người nơi nhân) mà hòng sanh khởi những chuyện phiền não! Đây chính là phương pháp giải quyết tối thiết yếu từ trên căn bản vậy! Nếu như chẳng thể hiểu chắc thật Ngã Không, hãy nên nương theo pháp Ngũ Đình Tâm Quán đức Như Lai đã dạy để đối trị (Ngũ Đình Tâm nghĩa là dùng năm pháp này để điều hòa, ngưng lặng cái tâm, khiến cho tâm an trụ, chẳng bị chuyển theo cảnh nữa!) Có nghĩa là: Chúng sanh nhiều tham thì hành Bất Tịnh Quán; chúng sanh nhiều sân thì hành Từ Bi Quán; chúng sanh nhiều tán loạn thì hành Sổ Tức Quán; chúng sanh ngu si thì hành Nhân Duyên Quán, chúng sanh nhiều chướng thì hành Niệm Phật Quán. Tham có nghĩa là thấy cảnh bèn dấy lòng yêu thích. Chúng sanh trong Dục Giới đều do dâm dục mà sanh. Dâm dục do ái sanh. Nếu có thể quán sát mỗi mỗi kỹ càng thân mình, thân người từ ngoài vào trong thì chỉ thấy hờm đất, mồ hôi, đờm rãi, tóc, lông, móng, răng, xương, thịt, máu, mủ, đại tiện, tiểu tiện, thối như xác chết, bẩn như chuồng xí, ai có thể sanh lòng tham ái đối với vật này cho được! Tham ái đã dứt thì tâm địa thanh tịnh. Dùng tâm thanh tịnh niệm danh hiệu Phật, như chất ngọt được trộn lẫn, như vải trắng ăn màu, dùng Nhân Địa Tâm khế hợp Quả Địa Giác, sự giảm được nửa mà công gấp bội, lợi ích khó nghĩ suy! Sân là thấy cảnh khởi tâm bực bội, chán ghét. Người phú quý thường hay nóng giận. Phàm mọi chuyện muốn được như ý phải có người [để sai bảo], hễ hơi chút sai trái liền sanh phẫn nộ, nhẹ thì buông lời dữ ác, nặng thì roi vọt vụt đánh, chỉ cốt khoái ý mình, chẳng đoái hoài người khác đau lòng! Lại nữa, tâm sân nếu khởi lên thì vô ích cho người, tổn hại cho mình, nhẹ thì cũng khiến cho tâm ý bực bội, xáo động; nặng thì gan lẫn mắt đều bị tổn thương. Hãy nên giữ sao cho trong tâm thường có một khối nguyên khí thái hòa thì bệnh tật tiêu diệt, phước thọ tăng trưởng. Xưa kia vua A Kỳ Đạt (A Xà Thế) cả đời thờ Phật, giữ vững năm giới, khi lâm chung do người hầu cầm quạt đuổi ruồi, quạt lâu mệt mỏi, hôn trầm, đánh rơi cây quạt rớt trúng mặt vua, tâm vua sanh phiền hận, ngay lập tức mạng chung. Do một niệm ấy liền mang thân mãng xà. Do sức túc phước, còn biết được nhân ấy bèn cầu sa-môn dạy cho Tam Quy, Ngũ Giới, liền thoát thân mãng xà, sanh lên trên trời. Do vậy biết thói nóng giận gây hại rất lớn. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Một niệm sân tâm khởi, trăm ngàn cửa chướng mở!” Cổ đức nói: “Sân là lửa trong tâm, cháy trụi rừng công đức. Muốn học đạo Bồ Đề, nhẫn nhục phòng tâm sân”. Như Lai dạy chúng sanh nhiều sân tu Từ Bi Quán như sau: Xem hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai. Đã là cha mẹ trong quá khứ thì nên nghĩ đời trước họ có ân đức sanh thành, dưỡng dục, thẹn chưa thể báo đáp, há có nên vì chuyện trái ý nhỏ nhặt bèn ôm lòng phẫn nộ ư? Đã là vị lai chư Phật ắt sẽ rộng độ chúng sanh. Nếu ta chưa giải quyết được sanh tử, vẫn mong họ đến độ thoát! Chẳng những chuyện trái ý nhỏ nhặt không nên nổi nóng, dẫu là chuyện táng thân mất mạng cũng chỉ sanh hoan hỷ, chẳng sanh sân hận! Vì vậy, lúc Bồ Tát xả đầu, mắt, tủy, não, đều xem người xin những thứ ấy như thiện tri thức, coi như ân nhân, coi như người thành tựu đạo Bồ Đề vô thượng cho mình. Xem phẩm Thập Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm sẽ tự biết. Lại nữa, một niệm tâm tánh của chúng ta và chư Phật không hai. Chỉ vì mê trái bổn tâm, chấp chặt Ngã Kiến nên hết thảy các duyên đều thành đối đãi. Như cái bia để bắn đã lập thì các mũi tên đều nhắm vào. Nếu biết được tâm ta vốn là tâm Phật, Phật tâm không, vô sở hữu. Giống như hư không: Sâm la vạn tượng không gì chẳng bao gồm. Cũng như biển cả: Trăm sông mọi nguồn nước không gì chẳng dung nạp. Như trời che chở khắp, như đất nâng bình đẳng, chẳng coi chuyện che chở, nâng đỡ là đức. Nếu ta do chuyện nghịch ý nhỏ nhặt bèn sanh nóng giận thì chẳng những khiến cho tâm lượng chính mình thành hẹp hòi, mà còn tự đánh mất cả đức. Tuy có đủ Phật tâm lý thể nhưng khởi tâm động niệm toàn là xử sự theo phàm tình, coi vọng là chân, biến tớ thành chủ; suy nghĩ như thế há không hổ thẹn ư? Nếu bình thời thường nghĩ như thế thì tâm lượng sẽ rộng lớn, không gì chẳng dung được, coi muôn loài như chính mình, chẳng thấy đây - kia. Điều nghịch xảy đến còn thuận chịu được, huống gì những chuyện trái ý nhỏ nhặt mà lại sanh nóng giận ư? Ngu si nghĩa là hoàn toàn không có tri thức, tức là nói thế nhân đối với cảnh duyên thiện - ác chẳng biết đều là do túc nghiệp chuốc lấy, do hành vi trong hiện tại cảm lấy, lầm lạc bảo là không có nhân quả báo ứng, và những chuyện đời trước, đời sau v.v… Hết thảy chúng sanh không có con mắt Huệ, nếu không chấp Đoạn thì lại chấp Thường. Chấp Đoạn là nói con người bẩm thụ khí chất của cha mẹ mà sanh ra, trước lúc được sanh ra vốn chẳng có vật gì, đến lúc chết rồi, hình hài đã mục nát thì hồn cũng phiêu tán; làm gì có đời trước cũng như đời sau! Những nhà Nho câu nệ, hẹp hòi cõi này đa phần nói như thế. Chấp Thường là nói con người thường làm người, súc vật thường làm súc vật; chẳng biết nghiệp do tâm tạo, hình tùy tâm chuyển. Thời cổ có kẻ cực độc từ ngay nơi thân ấy biến thành mãng xà, có kẻ cực tàn bạo, ngay từ chính nơi thân ấy biến thành cọp. Ngay trong lúc nghiệp lực đang mạnh mẽ, dữ dội, còn có thể biến đổi được hình thể, huống chi nhằm lúc sau khi chết đi, trước lúc được sanh ra, thức do nghiệp lôi kéo mà chuyển biến ư? Do vậy, đức Phật nói mười hai nhân duyên chính là lời luận bàn xuyên suốt cả ba đời. Nhân trước ắt cảm lấy quả sau, quả sau ắt có nhân trước. Báo ứng thiện - ác, phước - họa xảy đến đều do tự mình làm, tự mình chịu, nào phải trời giáng xuống! Chẳng qua do hành vi của người ấy mà trời đứng ra làm chủ mà thôi.[21] Sanh tử tuần hoàn chẳng có cùng cực, muốn khôi phục bổn tâm để liễu sanh tử mà bỏ tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương thì chẳng thể được! Ba thứ Tham - Sân - Si là căn bản của sanh tử. Ba thứ Tín - Nguyện - Hạnh chính là diệu pháp để liễu sanh tử. Muốn bỏ ba thứ ấy thì cần phải tu ba pháp này. Ba pháp này tu đắc lực thì ba thứ ấy tự tiêu diệt. Pháp quán Sổ Tức không nhất thiết phải dùng, bởi lẽ trong lúc niệm Phật nhiếp tai lắng nghe thì sự nhiếp tâm ấy tương tự Sổ Tức, nhưng lực dụng khác Sổ Tức một trời một vực. Về pháp quán trong khi Niệm Phật chỉ cần xem Ấn Quang Văn Sao và những trước thuật Tịnh Độ sẽ tự biết. Hỏi: Nếu như nói: “Dẫu táng thân mất mạng cũng chỉ sanh hoan hỷ, chẳng sanh nóng giận”, thì giả sử như có người ác đến hại mình cũng chẳng bận tâm, mặc cho họ giết chóc ư? Đáp: Phàm người tu hành có người là phàm phu, có vị là Bồ Tát đã chứng Pháp Thân. Lại có người lấy việc duy trì thế đạo làm chủ, có người lấy liễu giải tự tâm làm chủ. Nếu chỉ nhằm liễu giải tự tâm và là bậc Bồ Tát đã chứng Pháp Thân thì giống như trên đã nói: Coi muôn vật và ta như nhau, sống - chết hệt như nhau. Nếu là kẻ phàm phu, lại muốn duy trì thế đạo thì suy nghĩ nên giống như Bồ Tát từ bi lớn lao, sâu xa, không gì chẳng dung nạp, nhưng xử sự thì vẫn phải y theo lẽ thường của thế gian, hoặc làm chuyện ngăn cản, chế ngự để nhiếp phục, hoặc dùng nhân từ để cảm hóa. Sự việc chẳng nhất loạt giống nhau, nhưng tâm nhất quyết chẳng được có lòng sân độc, kết thành oán hận! Những điều chỉ dạy trong đoạn văn phía trước chính là để dạy người “dùng chuyện giả dụ nhằm tiêu diệt tập khí nóng giận”. Nếu pháp quán này thành thục thì tập khí nóng giận tự diệt. Dẫu gặp phải cảnh hại thân thật sự cũng vẫn giữ được tấm lòng thản nhiên, hành đại bố thí. Nhờ vào công đức ấy liền sanh về Tịnh Độ. So với chuyện giết chóc lẫn nhau, bao kiếp dài lâu báo đền thì chẳng phải là cách biệt như trời với đất ư?
48. Biện định về sự sai ngoa trong việc sát sanh tế lễ tại Chiêu Văn Cổ Hội (tức hội tế lễ Chiêu Minh Thái Tử ở Y Huyện, tỉnh An Huy)
Thế tục mê hoặc, coi ác là thiện, xem tạo nghiệp là tu phước, đa số là như vậy! Chuyện mắt nhìn thê thảm, tâm đau xót nhất không gì bằng chuyện mở hội tế thần. Nhà giàu có sang cả ắt giết những con vật lớn để tế. Một là để cầu được nhiều phước, hai là để phô phang sự giàu có. Dẫu cho nhà nghèo cùng, nhỏ nhoi cũng phải giết gà, giết vịt để mong thần thường ban ân che chở, khiến cho phước thọ tăng trưởng, mọi chuyện như ý. Chẳng biết trời đất lấy hiếu sanh làm đức, thần thánh làm chủ tể các sự cho trời đất, lẽ nào tâm họ lại trái nghịch trời đất, vì bản thân hưởng một kỳ tế lễ lại khiến cho vô số sanh mạng cùng chịu nỗi khổ cắt chặt, há còn đáng gọi là một vị chánh thần thông minh chánh trực, thưởng thiện phạt ác nữa ư? Nguyên do là vì kẻ ngu phu tham ăn mượn danh tế thần giết chóc loài lớn, loài nhỏ cho sướng khoái bụng miệng, tập quen thành thói, chẳng biết là đã tạo thành đại ác nghiệp! Nói là “để tế thần” chứ thần có ăn đâu? Huống chi đã gọi là “thần” thì ắt phải có đức thông minh chánh trực, ắt phải lấy chuyện làm thiện hay làm ác làm chuẩn mực để giáng phước hay gieo tai ương. Lẽ nào sát sanh cúng ta, tức là làm ác [ta] cũng giáng phước; không sát sanh cúng ta chính là làm thiện [ta] cũng giáng họa hay sao? Nếu như vậy thì tâm hạnh của vị thần ấy có khác gì bọn vô lại tiểu nhân đầu đường xó chợ đâu? Sao còn xứng danh là một vị thần thông minh chánh trực được nữa? Đã là vị thần thông minh chánh trực chắc chắn chẳng làm chuyện yêu ma quỷ quái, không tuân theo chuyện đạo đức nhân nghĩa ấy! Huống chi thái tử Chiêu Minh là vị thâm nhập Phật pháp, triệt ngộ tự tánh, nhận lãnh đại giới của Phật, cả đời ăn chay ư? Xét ra, thái tử họ Tiêu, tên là Thống, tên tự là Đức Thí, là con trưởng của Lương Võ Đế. Lúc sống thông duệ, nhân từ, khoan thứ, cung kính, cần kiệm, dốc lòng tin tưởng Phật pháp, tận lực tu Tịnh nghiệp, xem khắp các kinh, thấu đạt sâu xa đế lý, thọ Bồ Tát Giới, vốn thường ăn chay. Trong cung lập riêng một điện Huệ Nghĩa, chiêu tập danh tăng giảng luận huyền áo. Ngay cả Võ Đế cũng ăn chay nhiều năm, cúng tổ tiên thì dùng bột mì để chế thành những con vật hiến tế. Sở ngộ, sở chứng của thái tử vượt trỗi Võ Đế gấp mười lần, xưa nay trong hàng cư sĩ chẳng thấy được mấy người! Sự tích, lời lẽ của Ngài chép trong bộ Lương Thư và Quảng Hoằng Minh Tập cùng Cư Sĩ Truyện[22]. Há lẽ nào khi sống trì giới, nhân từ như thế, chết đi bèn trở thành vị thần tham muốn ăn thịt, nếu người ta sát sanh để tế thì bèn giáng phước, nếu không, bèn giáng họa hay sao? Ấy là vì thế nhân chỉ nghĩ ăn thịt là ngon, bèn dựa vào ý kiến tham ăn những thứ hôi nhơ tanh tưởi của chính mình nghĩ rằng thần cũng giống như thế. Từ đấy, đây kia bắt chước nhau, chẳng biết là sai. Ví như giòi tửa ăn phân, cho là thiên tiên cũng sẽ tham vị ngon lành này, bèn thường muốn dâng cúng để cầu được ban tặng phước khánh! Những con vật bị giết ấy phần nhiều đều là những người đời trước sát sanh tế thần ngõ hầu chính mình được ăn thịt nay phải đền trả quả báo sát sanh! Những kẻ ngu cứ nghe nói sát sanh tế thần bèn hoan hỷ, hớn hở, cho là làm phước, chẳng biết tương lai bị biến thành những sanh mạng ấy, lúc bị người ta giết, có miệng mà chẳng nói được, không cách gì trốn thoát! Huống hồ đối với bậc cao nhân lỗi lạc thâm nhập Phật pháp, nhận lãnh đại giới của Phật, cả đời ăn chay lại đặt điều trắng trợn “Ngài là hạng tham ăn thịt” để rồi giết vô số sanh mạng cúng tế. Cái tội trái trời nghịch lý, vu khống miệt thị thánh hiền càng đáng bị trong đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn làm những loài vật bị giết hại ấy, há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Cư sĩ Lô Trí Duệ ở Y Huyện thuộc tỉnh An Huy thương xót cho nỗi thảm sát sanh tế thần trong làng mình, sợ hãi sâu xa rằng hạng ngu nhân vô tri do vì sát sanh mà tương lai phải tự thọ báo, xin tôi giảng rõ chân lý để chỉ dạy, ngõ hầu bậc quân tử hiểu rõ lý cùng nhau thổi gió Từ vãn hồi kiếp vận, khiến cho hết thảy sanh mạng có linh thức đều được an nhàn sanh trưởng, loài nào loài nấy hưởng hết tuổi trời trong vòng trời đất. Do vậy, bèn thuật bày duyên do, mong sao bọn họ biết mình hết sức sai trái, tận lực sửa đổi để làm nền móng cho thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc. Đã biết sát sanh tế thần là sai thì chuyện sát sanh để cúng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ, đãi khách, tự cung phụng mình là sai trái cũng không cần phải khuyên dạy nữa! Nếu có thể vui vẻ lãnh hội thì lợi ích ấy chỉ có mình đức Phật mới biết được, xin hãy suy nghĩ kỹ!
49. Bài chúc tụng nhân việc khánh thành ngôi chùa mới của Thế Giới Phật Giáo Cư Sĩ Lâm
Chân Như Phật Tánh mọi hàm thức đều có, hiềm vì chẳng biết, mê cái đầu nên phát cuồng bỏ chạy[23]. Vì vậy, đức Thế Tôn ta thị hiện sanh trong thế gian khiến cho khắp các chúng sanh ai nấy ngộ được tánh thiên (bầu trời tánh đức). Do căn cơ bất nhất khiến cho cách giáo hóa bất đồng, bèn mở ra Luật, Giáo, Thiền, Mật, Tịnh tông. Các tông khác đều là tự lực, còn Tịnh tông kiêm thêm Phật lực, liễu thoát ngay trong hiện đời, thật là bậc nhất. Pháp môn lớn lao thay! Thông trên thấu dưới, Đẳng Giác, nghịch ác cùng hướng về, cùng hành theo. Pháp truyền sang Đông Độ, mở đầu tại Lô Sơn, một ngàn mấy trăm năm hoằng truyền khắp cõi. Xuất gia tứ chúng, tại gia bốn loại, những người được vãng sanh nhiều khó thể kể xiết! Gần đây vận đời ngày càng suy hoại, muốn vãn hồi ngọn sóng cuồng loạn, ngoại trừ Phật ra thì không thể dựa vào ai khác được! Các đại cư sĩ cực lực đề xướng lập ra ngôi Cư Sĩ Lâm mới đứng sừng sững tại đất Hỗ (Thượng Hải), các tông đều hoằng nhưng chú trọng Tịnh Độ, pháp nào cũng viên thông, noi theo quy củ chư Tổ. Quang vốn là một ông Tăng tầm thường, không có sức hoằng pháp noi theo dấu thơm ấy, tâm thật vui sướng, dốc tấm lòng ngu thành của tôi để chúc tụng: Theo chiều ngang trọn khắp, theo chiều dọc tột cùng thảy đều bắt chước theo!
50. Bài tụng phổ hồi hướng việc quyên mộ khắc kinh Hoa Nghiêm
Lớn lao thay kinh Hoa Nghiêm, là vua trong các kinh! Pháp môn và công đức hai thứ đều chẳng thể lường. Đức Như Lai thành Chánh Giác, nói thẳng vào pháp đã chứng. Những người dự pháp hội ấy đều là Pháp Thân Bồ Tát. Tuy Nhị Thừa cũng tham dự, vẫn chẳng thấy chẳng nghe, huống gì các phàm phu lại được dự nghe, un đúc hay sao? Do tấm lòng đại từ bi, đức Phật thâu tóm chỗ cạn cợt vào chỗ sâu nhất, chỗ quy tông cuối cùng [của kinh Hoa Nghiêm] dạy thân cận đức Di Đà. Chỉ có mình pháp lạ lùng, đặc biệt này là phàm - thánh đều nên tuân hành, thâu nhiếp trọn vẹn Đẳng Giác và quần manh trong lục đạo. Người độn căn đời Mạt đoạn Hoặc thật khó. Người tín nguyện niệm Phật quyết định ngự lên chín phẩm sen. Sức công đức của kinh này hệt như châu Ma Ni, tùy ý tuôn ra các thứ báu thảy đều phù hợp các ý nguyện. Các thiện tín giúp khắc kinh ai nấy đều ước nguyện khác nhau, cầu siêu cho người thân hoặc cầu phước, không ai chẳng được cảm thông. Cầu con liền được con, cầu sống lâu liền được sống lâu, túc chướng đều tiêu diệt, việc làm đều như ý. Ví như ánh nắng Xuân rọi đến, cây cỏ đều tươi tốt; cũng như mặt trời mọc lên giữa trời, mọi việc đều nhờ đó được thành. Dẫu cầu phước thế gian rốt cuộc cũng thành nhân xuất thế, như bệnh gặp được thuốc tiên, ngay khi ấy liền thành chân [tiên]. Nguyện những người thí tiền của sở nguyện đều đạt được. Đến ngày xả báo, cùng sanh về cõi Cực Lạc, diện kiến Phật A Di Đà, được Phật đích thân thọ ký, chứng Vô Sanh Pháp nhẫn, làm công việc Phật làm. Muốn thuật công đức trải bao kiếp khó thể tán dương. Những ai tin nhận được đều cùng chứng vô lượng quang!
51. Đề từ cho tập sách Hám Sơn Đại Sư Lục Vịnh (Khế Chân là pháp danh của Lý Quốc Tùng)
Hám Sơn đại sư đại quyền thị hiện, công hoằng pháp sâu dầy, bị kẻ đố kỵ vu hãm, phải đầy đi làm lính thú đất Quảng Châu, chế ngự được họa loạn. May gặp quan Thái Sử nhìn Ngài bằng con mắt đặc biệt; hoằng pháp Tào Khê, nối lại huệ mạng đã đứt. Thuyết pháp xứng cơ, tệ lớn tiêu diệt. Hộ quốc an dân công vượt trội ngài Văn Hiến; mất rồi, nhục thân chẳng hoại, chẳng biến đổi! Đất Việt (Quảng Đông), đất Cám (Giang Tây) tranh giành, đưa [nhục thân] về bên Tào Khê. Lục Tổ, Thất Tổ lừng danh trong ngạn ngữ đương thời, Phật nhật thêm sáng, làm thành lũy pháp. Trước thuật hoằng truyền, nhật nguyệt sáng ngời; Đại Tạng lưu thông, tiếc rằng chỉ được một nửa[24], bị lạc mất thì nhiều, cũng có khi xuất hiện. Diệu kệ Lục Vịnh, bút pháp mạnh mẽ, văn nghĩa siêu diệu, càng đọc càng phơi phới. Hơn ba trăm năm, may sao chẳng bị tàn khuyết. Phật tử Khế Chân tìm được tác phẩm này tại các tiệm ở đất Hỗ (Thượng Hải), muốn biểu lộ chí hướng mênh mông của đại sư, nên cho in thành những tập sách nhỏ, cậy Quang đề từ để nêu khuôn phép. Do vậy, bèn lược thuật đại cương để mong cho những người thông sáng sau này được thấy nghe.
52. Đề tại Tâm Phật Các (Cư sĩ Tiền Dưỡng Nguyên ở Giang Tô xin đề từ cho ba mục Tâm Phật Các. Trước chưa gặp gỡ, sợ ông ta chấp lý phế sự, lầm nhận tin tức, chánh - tà hỗn loạn, nhân đấy bèn kéo dài thành ba bài ca, mong sao ông ta sẽ trừ bỏ được màng mộng, trừ sự lòa tối, chánh - tà phân minh, lý - sự viên dung. Đối với luật lệ thanh vận tôi không hiểu rõ, mong hãy nhìn vượt ra ngoài chữ nghĩa, lời lẽ, thì may mắn lắm thay!)
Chúng sanh, Phật bình đẳng chỉ một tâm này, do mê - ngộ bất đồng nên thăng trầm. Muốn khôi phục Chân Như Phật Tánh sẵn có, phải phụng sự đấng Đại Giác viên chứng. Kiền thành lễ kính tội nghiệp diệt. Khẩn thiết ức niệm phước huệ sâu. Một mai Hoặc tận, Thường Quang hiện. Soi tỏ thiên địa và xưa nay.
53. Đề Minh Tâm Kiến Tánh Trai[25]
Đêm vắng, trai phòng thanh tĩnh, kiệt lực tham cứu. Tham đến thấu triệt trước lúc cha mẹ chưa sanh ra, Tứ Đại, Ngũ Uẩn đều rớt mất. Lục căn, thất tình đều tiêu vong. Phiền hoặc hết sạch, biển lặng sóng. Chân thường hiển lộ, mặt trời sáng rực giữa trời. Hiểu được tâm thấu được gốc như thế, chẳng phụ mang tên tự là Dưỡng Nguyên.
54. Đề từ cho sách Tiên Phật Hợp Tông
Tiên - Phật khác tông, sao hợp được? Một đằng tham cứu cái tâm, một đằng chấp vào cái vỏ. Trường sanh rốt cuộc cũng phải kết thúc. Vô sanh rốt ráo chẳng diệt mất. Nếu bảo tam giáo là một nhà thì tôn ty trong một nhà thật rõ ràng. Giống như trong cùng một thân người đây, há có thể lẫn lộn giữa đầu và chân ư? Phải biết chúng sanh và Phật tâm bình đẳng, trăm ngàn đạo khác chưa giác ngộ thấu triệt, riêng mình đức Phật đại giác Thích Ca ta viên chứng tâm này thật siêu việt, lại thương chúng sanh trong pháp giới mê trái tâm này như anh chàng Diễn Nhã, nên tùy cơ rộng diễn các pháp môn, lắm cách gỡ niêm, cởi trói. Hoặc Thiền, hoặc Giáo, hoặc Luật Nghi, rốt ráo đều đưa về một chỗ, nếu trong đương niệm lìa được Năng - Sở thì trăng rạng giữa trời, nước dồn vào khe. Nếu như căn độn, cơ chưa chín, nên lấy Tịnh Độ để nương tựa. Như Lai tâm triệt để đại bi, rất sợ trung hạ căn luân lạc mãi, nói pháp chẳng thể nghĩ bàn này, khác nào diệu dược A Già Đà. Sanh tín, phát nguyện trì danh Phật, chỉ cầu lâm chung sanh Cực Lạc, như con nhớ mẹ không gián đoạn, cảm ứng đạo giao khó suy lường! Được Phật tiếp dẫn liền vãng sanh, vĩnh viễn tạ từ biển ác khổ sanh tử, thấy Phật, nghe pháp, ngộ Vô Sanh. Viên minh Ngũ Nhãn, tuyệt màng mộng. Nương Phật từ lực và nguyện luân của chính mình, trở vào Sa Bà độ ngũ trược, khiến cho khắp vô tận các hàm thức khôi phục nguồn tâm, đều thành Phật. Đấy chính là bậc đại trượng phu lỗi lạc, thật sự có bản lãnh tự lợi, lợi tha. Một pháp nhiếp khắp hết thảy pháp, pháp ước lược chính là pháp rộng rãi, pháp rộng rãi chính là pháp ước lược. Phật pháp rộng lớn không ngằn mé, điều thiện nhỏ nhặt nào trong thế gian cũng bao hàm, chỉ có phép trường sanh luyện đan trọn chẳng có một lời nào dạy con người học. Hãy thử đọc bộ Hộ Pháp Luận của ngài Thiên Giác, Ngài phê phán thẳng thừng, sắc bén, văn từ, lý lẽ rộng rãi, há nào phải nhà Nho riêng xu nịnh Phật, mà chỉ là thấy điều thiện bèn đề cao, không chi không thích đáng! Một bộ sách Tiên Phật Hợp Tông là do tà nhân hủy báng Phật nên xuyên tạc xằng bậy, trích dẫn lời Phật, bẻ cong ý nghĩa để chứng minh phép luyện đan: Chất trầm độc và cam lộ đựng trong cùng một bát! Ma kinh Huệ Mạng cũng giống như thế, đọc vào bị mù chánh nhãn. Những phường như vậy còn chẳng phải là đồ đệ của Lão Tử, đã tước sạch thể thống đạo đức, huống gì đối với tối thượng thừa của đức Như Lai, làm sao họ có thể liễu giải rồi sanh lòng cung kính tận lực tuân thủ? Họ lầm lạc dùng ý nghĩ nhặm lẹ của chính mình để vu báng, kẻ đui dẫn lũ mù đi vào vạc lửa. Giá như có bậc đại lực vì khắp thế gian này gõ mõ gỗ, khiến cho họ ra khỏi nẻo tà trở về đường chánh, ai nấy thân tâm được giải thoát. Nếu cho là lời tôi chẳng đáng nghe, cứ mặc tình bay lên trời và hóa thành hạc. Ông xem đó: Người có trí trong thế gian, ai lại đem Ma Ni bắn sẻ vàng. Kiếp xưa nếu đã gieo thiện căn thật sự quyết chẳng bỏ lời dài dòng này, nắm tay kéo đi cũng không được, chấp thuận hay không mặc lòng ông châm chước!
55. Vì chủ rạp hát X…. thượng đường[26]
Tam giới vốn là một hý trường (sân khấu diễn tuồng), mọi người hãy gấp trở về quê nhà, đừng đợi đến khi chiêng, trống đều ngưng bặt, chẳng biết nẻo về, phải bơ vơ oan uổng! Pháp không có tướng nhất định, gặp được duyên nào bèn đề cao pháp ấy. Sơn tăng một gậy tùy thân, chẳng ngại gặp sân khấu bèn diễn tuồng, ứng theo căn cơ người đến hỏi khiến cho họ biết đường trở về nhà. Phải biết: Tánh thấy - nghe - hay - biết trong một niệm hiện tiền của chúng ta và tánh tịch diệt thường trụ của mười phương tam thế hết thảy chư Phật không hai, không khác. Chỉ vì tâm mê chạy theo cảnh, trái giác, hiệp trần, đến nỗi luân hồi lục đạo, trọn chẳng có lúc ra. Do thiện nghiệp mà tạm được thăng lên nhân thiên, theo ác nghiệp phải đọa vĩnh viễn trong tam đồ! Vạc sôi, lò than, thai lừa, bụng ngựa, hứng chịu muôn nỗi khổ, một linh tánh vĩnh viễn bị mê muội. Tưởng cái thân nghiệp báo trong lục đạo là bổn mạng nguyên thần của chính mình, cậy vào Phật tánh hằng cổ hằng kim chẳng dời chẳng biến để hứng chịu nỗi khổ thoạt chìm, thoạt nổi, chợt thăng, chợt đọa. Hoa trong gương, trăng dưới nước trọn không có Thật Tướng, chẳng khác gì diễn tuồng trên sân khấu, kép, đào, hề, vua, quan, hầu cận thay vai, nhưng bản lai diện mục chủ nhân ông chẳng biến đổi mảy may. Tiếc cho chúng sanh mê ngay trong cuộc, coi huyễn là chân, trái bỏ cái mình sẵn có, bị luân hồi oan uổng. Chư Phật, Bồ Tát thương xót, dùng Như Huyễn Tam Muội Du Hý Thần Thông chẳng thể nghĩ bàn thị hiện sanh trong thế gian để đồng sự với họ, ứng cơ thuyết pháp, hát lên ca khúc trở về quê hương, chỉ ra con đường trở về nguồn cội, khiến họ đều hiểu cảnh, minh tâm, trái trần, hiệp giác, tự thấy được bản lai diện mục, triệt chứng Phật tánh chân thường. Lại sợ kẻ căn cơ kém cỏi, chưa thể nhanh chóng thoát khỏi trần lao, nếu thọ sanh khó tránh khỏi bị đắm chìm như cũ, liền mở ra phương tiện lớn lao, dạy họ vãng sanh Tây Phương, thoát khỏi sân khấu trở về ngồi yên trong nhà, vĩnh viễn lìa khỏi các khổ, chỉ hưởng những sự vui. Tuy nhiên, nhân mừng dịp vui trai hội, bèn khen một câu, diễn trò một chút (dộng trượng nói): Ôi! Phùng trai nhược hội khất phạn nhân, Kham hiện thần thông du hý thân. (Gặp hội xin cơm kìa mấy kẻ, Hãy hiện thần thông du hý thân)
56. Lời chúc dành cho dịp xuất bản Đại Vân nguyệt san
Nhà lửa hừng hực, ngọn lửa thật mạnh. Lại còn tà thuyết giúp thêm uy thế. Bác không nhân quả, ai nấy mưu toan tự lợi, anh em trong nhà đánh nhau, trọn chẳng đoái hoài, kiêng dè! Xót thay đồng bào không được che chở, dẫu muốn thoát lìa chẳng biết về đâu! Bèn có bậc Khai Sĩ (Bồ Tát) riêng phát hoằng thệ, đề xướng Phật pháp để cứu tế. Ví như mây to tuôn xuống mưa lớn, khiến cho lửa dữ tắt ngay lập tức. Nhân quả tuần hoàn nêu cặn kẽ lý ấy, dạy “lợi người chính là lợi mình”, khiến cho biết được tự tâm và Phật đồng thể, hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, phải nên nâng đỡ như anh, như em. Cạnh tranh tiêu diệt, lễ nghĩa, nhân nhượng hưng khởi, tấn tu Tịnh nghiệp, thổi khắp liên phong. Sống dự bậc thánh, mất lên cõi Phật. Chỉ mong báo này lưu thông khắp cõi. Mong mấy lời chúc tụng này thích hợp với những điều báo đang đề cao.
57. Diễn từ hoan nghênh hội Phật giáo Đông Doanh (Nhật Bản) đến thăm núi
Như Lai đại pháp trọn khắp pháp giới, tam thừa lục phàm không đâu chẳng nương tựa. Bổn ý đức Phật là khiến cho khắp tất cả đều được thành Phật. Do căn cơ bất nhất, đối bệnh phát thuốc, Đại - Tiểu, Quyền - Thật, Thiên - Viên, Đốn - Tiệm, Tông, Giáo, Luật, Mật đều thích nghi. Như bốn cửa thành vào bằng cửa nào đều được! Theo đường về nhà đỡ tốn tâm lực. Bình, mâm, thoa, xuyến vốn cùng là vàng; trăm ngàn pháp môn chẳng lìa tự tâm. Chứng được tự tâm thì gọi là thành Phật; đạt cái không thể đạt được, viên mãn ba giác. Nhưng các pháp ấy đều cần tự lực, nghiệp tận tình không mới đạt được lợi ích thật sự. Kẻ lợi căn sẽ đạt được ngay trong hiện đời; nếu độn căn kém cỏi, trải bao kiếp khó đạt được! Do vậy, đức Như Lai riêng rủ lòng từ mẫn, mở ra môn Tịnh Độ để cứu vớt hết thảy. Bất luận thượng thánh cùng với hạ phàm đều cùng trong đời này lên chín phẩm sen. Pháp tuy vô lượng nhưng năm tông này nhiếp trọn. Cầu lấy pháp ổn thỏa, chỉ có Tịnh Độ là tối thắng. Dùng Quả Địa Giác làm Nhân Địa Tâm, nhân quả bao gồm trọn khắp, mầu nhiệm không gì sánh bằng. Do vậy, kinh luận không gì chẳng tán dương rộng rãi, những người gánh vác pháp đạo làm cho khắp mọi người quyết định thành tựu. Đại pháp truyền sang Đông gần hai ngàn năm, Luật, Giáo, Thiền, Mật hoằng truyền khắp cõi. Một tông Tịnh Độ bắt nguồn từ Lô Sơn, mãi cho đến nay hết sức hưng thạnh. Một nước Nhật Bản tuy ở phía Đông, núi sông un đúc, đời nào cũng có bậc cao hiền. Xét từ thời Đông Tấn, pháp truyền sang cõi ấy. Từ đấy, người sang đây học chẳng đếm nổi số, tam giáo ngũ tông, Đông Lâm, Nam Sơn, Kim Cang, Bí Mật đều do từ đây mà truyền. Những trước thuật của cổ đức phần nhiều được bảo tồn, khiến cho các nước cầu pháp tìm được cửa. Bởi lẽ đó, nhân tài đông đảo, bờ cõi tuy nhỏ lại xưng hùng toàn cầu. Năm ngoái hội Phật giáo [Nhật Bản] mời sang thăm viếng, tiếp đãi ân cần, quà tặng nồng hậu. Năm nay đến thăm núi, thẹn chẳng có vật báu để biếu khách quý hầu thỏa tấm lòng. May có bộ sách mới tên là Quán Âm Tụng, nhờ đây biểu lộ chút lòng thành, dùng làm quà tặng. Từ ân của Đại Sĩ trọn khắp pháp giới, chuyện nhỏ nhặt như thế này làm sao thể hiện lòng cảm kích cung kính cho được? Chỉ nguyện các vị đều vốn sẵn lòng từ của Phật, giúp vua hoằng pháp, chỉ thực thi lòng nhân từ. Phàm những gì thuộc về quốc dân đều coi như một thể, chẳng phân chia khu vực, chẳng có chút riêng tư. Người đã được gội ân, trời tự mến đức mà ban điều lành, đạt được phước vĩnh cửu chẳng sai! Người giàu tặng của, người nhân tặng lời, thẹn chẳng thật có hai thứ ấy, chỉ dâng lời xuông. Chú trọng đến quyền thế, lợi lộc, trải bao kiếp bị trừng phạt; chú trọng đến đạo nghĩa Bồ Đề ắt sẽ thành tựu. Lời nói xuông chẳng trống rỗng, pháp đạo lưu thông, các nước bắt chước theo, tiếng tăm vô cùng!
58. Bài minh trên bia mộ của Hoàng Thái Phu Nhân mẹ ông Lý
Sách Luận Ngữ chép: “Thiên hạ loạn lạc, thất phu có trách nhiệm”, bởi lẽ thiên hạ do mỗi một nhà hợp thành. Nếu chồng vợ từng nhà đều biết đạo nghĩa cũng như nhân quả, giữ vẹn bổn phận, trọng luân thường, tận tụy thực hành chẳng thiếu sót thì con cái do họ sanh ra sẽ quen thấy quen nghe, như nước trút vào đồ đựng, như vàng được đúc khuôn, tánh tình tự thành hiền thiện, ắt chẳng đến nỗi bạo ác, phóng túng, coi làm ác là chuyện đương nhiên. Nhưng con người có hiền hay không là nhờ nơi mẹ, so với cha [con chịu ảnh hưởng của mẹ] nhiều hơn lắm. Do lúc trong thai bẩm thụ khí chất của mẹ, lúc nhỏ được mẹ chăm nom nên chẳng mong như vậy mà lại thành vậy. Vì thế Châu Tử viết sách Tiểu Học, trong chương mở đầu bèn nói về chuyện thai giáo. Văn [Vương], Võ [Vương], Châu Công, Khổng, Mạnh đều nhờ hiền mẫu gầy dựng cái gốc nên thành đức đạt tài trở thành thánh nhân. Do vậy, biết rằng quyền của đàn bà giúp chồng dạy con thật ra chẳng kém gì đạo trị nước yên dân của đàn ông. Nhưng cõi đời hiểu lầm, thực hành ngược ngạo, chẳng dốc sức nơi đây lại lo tham chánh làm quan. Nào có khác gì cầm đao phía lưỡi bén, chẳng bị đứt tay ngay lập tức ư? Ông Lý Nguyên Hiền thuộc giới buôn bán, có phong cách của nhà Nho, dốc lòng tin tưởng Phật pháp, tận lực hành đạo hiếu hữu, chuộng thiện, ưa thí, ấn tống thiện thư. Quang đoán trong gia đình ông về mặt giáo dục ắt phải có người lỗi lạc. Nay ông gởi cho xem hành trạng của mẹ, xin Quang viết lời minh cho bia mộ, mới biết mình đoán không lầm. Căn cứ theo bài tường thuật thì phu nhân họ Hoàng, người làng Thủy Ma, huyện Vĩnh Xuân, lúc nhỏ mẹ chẳng phải nhọc công dạy dỗ, tánh tình nhân hiếu, từ hòa, hiểu việc đời sâu xa. Năm hai mươi sáu tuổi lấy ông Lý Kế Như. Ông Như mồ côi từ nhỏ, nhà nghèo, lênh đênh trơ trọi. Phu nhân vui theo mạng trời, siêng năng dệt cửi kiếm sống để ông Như yên tâm kinh doanh, khỏi phải bận tâm việc nhà hòng tạo thành sự nghiệp. Thường mấy năm mới quay về, vợ chồng kính trọng nhau như khách. Thoạt đầu không có con, bèn nuôi con nuôi là Nguyên Xuân, xem như do chính mình đẻ ra. Về sau, sanh được Nguyên Hiền và con gái là Cầm Nương, đều thương yêu như nhau, trọn chẳng hề phân biệt thân sơ. Đến khi hai con khôn lớn, nhà đã hơi khá giả, phu nhân vẫn siêng năng, tiết kiệm, ôn hòa như cũ. Ông Như thấy thế, vui vẻ, bảo với hai con: “Nhà ta được như ngày nay đều là do mẹ các con siêng năng, tiết kiệm, chăm chút giữ gìn mà được vậy!” Cuối thời Quang Tự nhà Thanh, ông Như quay về dựng nhà, gã thổ phỉ ở địa phương biết ông giàu có, toan nuốt trộng, bèn kiện lên quan. Phàm những việc thuê nhân công, mua vật liệu, tính toán chi dụng đều do phu nhân đích thân trông nom. Do phu nhân bình thời giúp nạn cứu nghèo, giúp đỡ kẻ mồ côi, góa bụa, sửa cầu, chữa đường, chấn hưng công ích, khiến xóm làng cảm động, bội phục, cho nên thiện nhân quân tử đều muốn cứu giúp. Gã thổ phỉ sợ mọi người giận dữ, khó thể xâm phạm nên đành ỉm việc ấy đi. Do đây mà biết được tài đức, kiến thức của phu nhân vậy. Đến khi ông Như mất đi, phu nhân liền trì trai niệm Phật, dạy các cháu đọc sách. Cầm Nương sớm góa bụa, nhà nghèo, cụ liền cho đón về nhà nuôi, khuyên răn những đại nghĩa như thủ tiết nuôi con côi, và tụng kinh, niệm Phật, mẹ con giúp nhau tu trì làm lệ thường. Tuổi già, cháu chắt quanh quần dưới gối. Nguyên Hiền lại kế tục nghề cha, phu nhân càng ráo riết khuyên răn chớ tự mãn, hãy khiêm tốn, chẳng để cho người trong nhà kiêu ngạo, xa hoa và sát sanh. Phàm ra ngoài đều cầm theo tiền bạc để mong gặp người nghèo cùng thì châu cấp cho. Thói ưa thiện chuộng thí xuất phát từ thiên tánh. Cụ làm chuyện lành rất nhiều, tạm nêu một hai chuyện: Cầu Đông Quan trong ấp là con đường trọng yếu trong ấp, bị gió lốc phá hủy, gặp lúc thế đạo loạn lạc, không ai hỏi đến. Phu nhân đi qua đó, nôn nao thương cảm, lập tức bảo Nguyên Hiền chọn ngày tu bổ, phí tổn lớn lao nhưng không tiếc nuối chút nào. Cầu xây xong, nhân sĩ trong ấp làm hoành phi, câu đối ca tụng. Nguyên Hiền buôn bán ở Tinh Châu (Singapore). Năm Dân Quốc thứ 10 (1921), do địa phương không yên ổn, bèn đón mẹ xuống phương Nam. Hoa kiều ở Tinh Châu muốn lập Hoa Kiều Y Viện (bệnh viện của kiều bào người Hoa), phu nhân liền quyên ra một vạn đồng để xướng suất. Về sau, phí tổn lớn quá, không thể thực hiện được, phu nhân sai đem khoản tiền ấy để lo cho việc bình thiếu[27] và trường học trong ấp. Cụ thường sợ hai con chẳng thấu hiểu ý, bèn nói: “Không phải là mẹ không mong nhà mình giàu có, nhiều lần đem những khoản tiền lớn ra làm việc nghĩa chính là vì các con trừ họa, tích đức đấy, hãy khéo hiểu ý mẹ!” Đến năm Dân Quốc 12 (1923), tức năm Quý Hợi, nhằm giờ Thân ngày Mười Chín tháng Năm, cụ mất tại chỗ trú ngụ bên Tinh Châu. Cụ sanh vào giờ Tuất ngày mồng Hai tháng Mười năm Kỷ Mùi, nhằm năm Hàm Phong thứ chín (1859), hưởng thọ sáu mươi lăm tuổi. Vào ngày… tháng… năm Dân Quốc 16 (1927) hợp táng với Kế Như tại núi Đại Bằng ở ấp nhà. Hai con trai, một con gái, tám cháu trai, năm cháu gái, chắt năm đứa. Ôi! Như phu nhân có thể nói là giữ đức hạnh người nữ, giúp đỡ chồng, làm thầy nữ giới, nêu gương cho bạn khuê các, trọn hết đạo làm mẹ, chẳng nhục đấng sanh thành. Nếu những kẻ làm mẹ trong cõi đời đều được như phu nhân thì nào đến nỗi người trong nhà đánh nhau, giết hại lẫn nhau khiến cho vận nước nguy ngập, dân không lẽ sống, cũng như đủ mọi thiên tai thường thấy xảy ra! Tôi thường nói: “Quyền trị quốc bình thiên hạ, nữ nhân chiếm quá nửa!” Lại nói: “Dạy con là cái gốc để trị quốc bình thiên hạ, nhưng dạy con gái lại càng thiết yếu!” Ấy là vì đời thiếu hiền nhân là do cõi đời thiếu hiền mẫu. Có hiền nữ ắt sẽ có hiền thê, hiền mẫu! Có hiền thê, hiền mẫu thì chồng con họ chẳng thành hiền nhân cũng hiếm hoi lắm! Những ai muốn vãn hồi thế đạo, chánh nhân tâm hãy nên dốc sức nơi việc này! Minh rằng: Cao đẹp thay cụ Lý! Bẩm tánh hiền thục, nhân hiếu từ hòa vốn sẵn tánh trời. Giúp chồng dạy con thảy đều thích đáng. Phước do đức lớn, họa do lìa nhân từ. Cứu nạn giúp nghèo, giúp đỡ kẻ mồ côi, góa bụa. Phàm có chuyện nghĩa không gì chẳng hỷ xả. Dựng cầu lợi người, phí tổn lớn lao chẳng tiếc. Y viện chưa lập, đem tài khoản giúp người cùng quẫn. Biết giàu chiêu họa, nhiệt tâm làm việc nghĩa, tích đức để làm kế sách vĩnh viễn chẳng bị suy sụp. Dốc lòng tin Phật pháp, tu trì nghiêm cẩn, mẹ con đồng tâm, |