|
Cẩm
Nang Tu Ðạo
Hòa Thượng Quảng Khâm
Mục
Lục
Dẫn Nhập
Tiểu Sử Hòa Thượng Quảng Khâm
Chương I: Tu Hành
1. Tu Hành: Tìm Lại "Bản Lai Diện Mục"
2. Cục Ðá Cột Chân Người Tu
A. Tham, Sân, Si
B. Ngã Mạn
C. Thiện Ít, Ác
Nhiều
3.
Nẻo Chánh Ðể Tu Hành
A.
Trừ Trướng
B.
Xã Bỏ Tâm Phân Biệt
C.
Tâm Kiên Cố
D.
Canh Gác Sáu Căn
E.
Tâm Trường Viễn
4.
Bản Sắc Của Việc Tu
Chương II: Khổ
Hạnh
1.
Vững Lòng Tin, Tu Khổ Hạnh
A.
Khuyến Khích Tu Hành
B.
Hạnh Nguyện
2. Làm Sao Tu Khổ Hạnh
3. Buông Xã Túi Da Thối Này!
Chương III: Rõ Nghĩa
1. Hiểu Biết, Lập Hạnh
2.
Công Phu Khuya và Tối
3. Gõ Chuông
Chương
IV: Pháp Môn Tịnh Ðộ
1. Tây Phương Có Phật Hiệu A-Di-Ðà
2. Niệm Phật
3. Niệm Phật Có Thể Thấy Phật Không?
4. Thầy Quảng-Hóa Tới Tham Phỏng
Chương V: Việc Làm Ba-La-Mật
1. Thẳng Thắn
2. Nhẫn Nại
3. Khéo Léo
Chương VI: Hạnh Xuất Gia
1. Xuất Gia Ðể Làm Gì?
2.
Con Ðường Siêu Thoát Của Người Tu
A.
Trước và Sau Khi Thọ Giới
B.
Vất Bỏ Danh Lợi
C.
Điều Cái Tâm Nầy
3. Tự Ðộ
A.
Chùa Thập Phương
B.
Chỗ Lầm Lẫn
C.
Thăm Viếng Học Hỏi
D.
Quan Hệ Giữa Kẻ Đồng Tu
E.
Nhẫn Nhục
F.
Một Niệm Cách Biệt
4. Ðộ Người
A. Biết điều tốt của thí chủ
B. Tiếp đãi tín đồ
C. Sự nghiệp của
Bồ-tát
5. Ðiểm Tốt Của Việc Tu
6. Ðạo Cao Một Tấc, Ma Cao Một Thước
7. Ni Chúng
Chương VII: Xuất Gia Và Tại Gia
1. Tại Gia
2. Xuất Gia: Báo Ðền Bốn Ân Lớn
3. Ở Ðời
và Ði Tu
Chương VIII: Cảnh Giới Của Chúng Sanh
1. Tâm
Chúng Sanh
2. Thói Quen, Tập Khí
3. Danh Lợi và Chậm Chạp
Chương IX: Nhân Quả Và Sám Hối
1. Nhân Quả
2. Sám Hối
Chương X: Lời Cuối
1. Thời Ðại Ðã Thay Ðổi Rồi!
2. Khai Thị - Ngộ Nhập
3. Pháp Ngữ
4. Lời Của Thầy Truyền-Văn
Tám Quy Luật của Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển
________________________
Dẫn Nhập
Tập Cẩm-Nang này đúc kết tinh
hoa những lời dạy của vị Thánh-tăng cận đại - Hòa-Thượng Quảng-Khâm
(1892-1986). Là người đã giác ngộ, mỗi lời dạy của Ngài trực tiếp
phá vỡ vô minh, khiến ta giác ngộ như Ngài.
Kinh Hoa-Nghiêm dạy rằng: "Chúng
sanh như người bệnh, Thiện-tri-thức như bác-sĩ, lời dạy của
Thiện-tri-thức như thuốc hay. Thuốc hay thì đắng, song trị lành được
bệnh."
Bởi vậy, trong tập Cẩm-Nang này,
bạn sẽ thấy mỗi lời dạy của Ngài đều vô cùng sâu sắc, trực tiếp song
đơn giản; ngắn gọn, dễ hiểu mà hàm súc. Ðây là điểm then chốt dị
biệt giữa lời nói của người đã ngộ Ðạo và kẻ chưa tỉnh giác.
Kẻ còn mê muội thì cần lời
giảng cao xa, sâu sắc, dùng trò chơ trí thức chữ nghĩa, song thiếu
thực dụng nội tại. Những lời dạy của Hòa-Thượng Quảng-Khâm là những
lời mà không ai có thể bắt chước đặng, bởi vì những lời ấy được lưu
xuất từ một nội tâm thâm chứng và một cuộc đời chân thật thực nghiệm,
"sống" trong sự thâm chứng ấy mỗi ngày. Ngài chỉ ăn một bửa ngọ và
chỉ ăn trái cây; ngủ thì ngủ ngồi; áo mặc thì chỉ một vài bộ. Ngài
rất ít lời, không nói chuyện dông dài, bàn luận thế sự tạp nhạp. Cả
đời, vật sở hữu của Ngài hoàn toàn không! Chẳng có xe hơi, chẳng có
trương mục ngân hàng hay thẻ tín dụng, nhà riêng, Tivi, tủ lạnh,
radio.... tất cả Ngài đều không có. Chính bởi vì, và chỉ có, cuộc
sống rỗng không như vậy nên Ngài mới thực sự an trụ trong cảnh giới
Chân Không của tự tâm. Ðây thật là điều quý báu để chúng ta, kẻ hậu
học, nhất là người xuất gia, phản tỉnh và thức tỉnh.
Ðối tượng trọng tâm của tập Cẩm-Nang
này là người xuất gia, song hoàn toàn ứng dụng cho kẻ tại gia. Khi
đọc Cẩm-Nang, bạn hãy hình dung như có một vị Tăng già hiền từ, chín
mươi tuổi ngoài, đang nói chuyện cùng mình vậy.
Sách này, đọc là để áp dụng;
đây không phải là tiểu thuyết; truyện, hay sách nghiên cứu để tăng
kiến thức. Khi được đọc để áp dụng như thuốc lành trị bệnh hay như
gậy đỡ chân, thì tập Cẩm-Nang này sẽ giúp chúng ta đổi cái nhìn, sửa
thói hư tật xấu, trừ suy nghĩ lầm lẫn, hướng dẫn bước tu đúng đắn.
Khi đó, ánh sáng bất tận của Chánh Pháp sẽ chắc chắn tràn ngập nơi
nơi - trong tâm bạn và những gì quanh bạn.
Tiểu
Sử Hòa Thượng Quảng Khâm
Hòa-Thượng Quảng-Khâm sinh vào
đời nhà Thanh, năm Quang-Tự thứ 18 (1892). Ngài họ Hoàng, tên tục là
Văn-Lai, quê ở Phúc-kiến, Trung-Hoa.
Gia đình Ngài rất nghèo, đến độ
anh ruột Ngài không có đủ tiền để cưới vợ. Năm Ngài bốn tuổi, vì
không đủ sức nuôi dưỡng Ngài, cha mẹ Ngài phải đem Ngài bán làm con
nuôi cho gia đình họ Lý ở Tấn-giang. Hai ông bà họ Lý là người rất
tốt, cả đời sống bằng nghề trồng trọt. Họ thương yêu Ngài như con
ruột vậy. Bà Lý là người tin Phật sâu xa, suốt đời trường trai. Bà
thường đem Ngài lên chùa cầu nguyện bởi từ nhỏ Ngài thường bệnh hoạn,
thân thể yếu ớt.
Năm Ngài chín tuổi, bà Lý qua
đời; hai năm sau dưỡng phụ Ngài cũng nối gót từ trần, khiến Ngài
bỗng chốc trở thành cô nhi. Bấy giờ, bà con họ hàng ai nấy đều tranh
dòm, chờ chực để chiếm đất đai ruộng vườn, tài sản của gia đình họ
Lý để lại. Ðiều ấy khiến Ngài, một trẻ thơ, cảm nhận sâu xa mùi vị
chua chát của thói đời và tánh vô thường của mọi sự. Trong đầu Ngài
nảy sinh ý niệm thoát trần: Ngài đem hết của cải đất đai nhường lại
cho bà con, rồi một mình tìm tới Chùa Thừa-Thiên ở Phúc-châu xin
xuất gia.
Bấy giờ, phương trượng Chùa
Thừa-Thiên là Hòa-Thượng Chuyển-Trần, dạy Ngài quy-y, tu Khổ-hạnh
với Thầy Thụy-Phương. Ngài được phân phối cho việc lao tác, trồng
rau, nhổ cỏ....; đây là những việc công quả tập sự dành cho người
muốn xuất gia.
Ðến năm 19 tuổi, do nhiều nhân
duyên đặc biệt, Ngài đã qua Nam-Dương. Ở đây, vì không có trình độ
học vấn nên Ngài phải làm việc lao động chân tay. Một hôm, nhân cùng
đồng bạn lên núi đốn củi, Ngài nói với bạn về trực giác linh cảm của
mình rằng chiếc xe vận tải chở củi sẽ lật ở dốc núi, nhưng không ai
tin. Không lâu, chiếc xe quả nhiên bị lật thật. Ðiều này khiến bạn
Ngài ngạc nhiên, bảo rằng: "Có được trực giác như vậy sao anh không
chịu tu hành, phát triển tâm linh, sau này độ thế?" Nghe qua, Ngài
như chợt tỉnh, liền đáp thuyền về lại Trung-Hoa. Bấy giờ Ngài đã 35
tuổi, sau gần 16 năm sống ở Nam-Dương.
Về lại Chùa Thừa-Thiên, Ngài
chính thức xuống tóc, lạy Hòa-Thượng Thụy-Phương làm Thầỵ Pháp-danh
của Ngài là Chiếu-Kính, tự Quảng-Khâm. Sau khi xuất gia, Ngài chuyên
chú tu Khổ-hạnh, ăn những thức không ai thèm ăn, làm những việc
không ai chịu làm, thường luôn ngồi Thiền, một lòng niệm Phật. Có
một thời gian Ngài giữ trách nhiệm Hương-đăng (thắp nhang, quét tước
điện Phật) và đánh bảng thức chúng mỗi sáng. Nhiều lần Ngài ngủ say
quá nên trễ nãi việc đánh bảng. Ðiều này khiến Ngài vô cùng hổ thẹn,
sám hối sâu xa trong lòng, rồi từ đó lập chí ngủ ngồi.
Năm 1933, sau sáu năm làm Sa-di
tu Khổ-hạnh, bấy giờ Ngài mới đi cầu thọ giới Tỳ-khưu nơi Hoà-Thượng
Diệu-Nghĩa, Chùa từ-Thọ, Phủ-điền. Thọ Giới rồi, Ngài liền xin phép
Phương-Trượng Chuyển-Trần đi ẩn tu; lúc ấy Ngài vừa đúng 42 tuổi.
Bấy giờ, một thân một mình, với ít áo quần và hơn 10 ký gạo. Ngài
nhắm núi Thanh-lương, tỉnh Tuyền-châu, tiến bước. Nơi ấy, ở giữa
sườn núi, Ngài tìm thấy một thạch động đủ rộng để an thân tu Ðạo.
Ðộng này vốn là nơi mãnh hổ thường lui tới; thế nhưng khi gặp hổ,
Ngài chẳng hãi sợ. Ngài bảo cho chúng biết ý định muốn dùng động này
để tu hành và khuyên chúng hãy tìm nơi khác. Lạ thay, hổ như hiểu ý
Ngài, rõ lời người. Ngài lại vì hổ mà thuyết Tam Quy-y; hổ nghe rồi
vẫy đuôi đi mất. Không lâu sau, hổ ấy đem bầy hổ lại: nào hổ mẹ, hổ
con... đùa giỡn, gần gủi với Ngài như gia súc vậy. Bởi thế, sau này
người dân quanh đấy gọi Ngài là Phục Hổ Hòa-Thượng.
Bấy giờ, Hòa-Thượng ở sơn động
ngày ngày tọa Thiền, niệm Phật; chẳng bao lâu lương thực cạn sạch,
Ngài bèn hái trái cây rừng để ăn. Trong núi, ngoài hổ còn có khỉ,
vượn. Bọn ấy, lạ thay, thường hay đến động; chúng lại đem cả hoa quả
cây trái lại cúng dường Ngài nữa!
Hòa-Thượng thường hay nhập Ðịnh.
Có lần Ngài nhập Ðịnh đến vài tháng, không ăn uống, không động đậy
thân thể; thậm chí hơi thở dường như dứt tuyệt. Có người gần đấy
thấy vậy thì lầm tưởng rằng Ngài đã viên tịch, nên tức tốc cấp báo
với Hòa-Thượng Chuyển-Trần để lo việc hỏa táng. May thay, lúc ấy có
vị cao-tăng là Ðại-Sư Hoằng-Nhất đang ở chùa gần đấy, nghe được tin
trên bèn cùng Hòa-Thượng Chuyển-Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi,
Ðại-Sư Hoằng-Nhất biết Ngài đang nhập Ðịnh, liền gõ ba tiếng khánh,
đánh thức Ngài dậy từ trạng thái Thiền-định. Tin Ngài nhập Ðịnh lan
truyền khắp nơi khiến ai ai cũng tán thán.
Tháng ngày qua như tên bắn,
thấm thoát Hòa-Thượng đã ở trên núi Thanh-lương được 13 năm. Bấy giờ
Ngài, đã 54 tuổi (1945), trở về Chùa Thừa-Thiên. Hai năm sau, 1947,
Ngài rời Ðại-lục, đáp thuyền tới Ðài-loan. Ở đây, bắt đầu quãng đời
hoằng Pháp của Ngài:
- 1948, Ngài xây một ngôi chùa
nhỏ ở Ðài-bắc, tên là Quảng-Minh Tự.
- 1951, xây Quảng-Chiếu Tự.
- 1952, Ngài tìm thấy một thạch
động ở núi Thành-phước rất đặc biệt: khi mặt trời và mặt trăng mới
mọc thì ánh sáng chiếu thẳng vào cửa động. Bởi thế, Ngài đặt tên là
Nhật-Nguyệt Ðộng và quyết định ở đấy ẩn tu. Nơi ấy xưa nay vốn không
có nước, song từ khi Ngài vào ở bỗng có một suối nước mát tự nhiên
vọt lên kế bên. Trên đỉnh núi ấy, Ngài dựng một chòi tranh để ở. Một
đêm nọ, có con trăn khổng lồ bò lại chòi tranh cầu Pháp; Ngài liền
vì nó thuyết Pháp và truyền Tam Quy-y.
- 1955, tín đồ ở Ðài-bắc cúng
dường Ngài một cuộc đất do hỏa sơn tạo nên; Ngài bèn xây Thừa-Thiên
Tự ở đó.
- 1963, Ngài hưng kiến
Tường-Ðức Tự; xây Quảng-Long Tự ở núi Long-tỉnh.
Ðến năm 1964, Ngài đã ở
Ðài-loan được 17 năm. Trong suốt thời gian ấy, Ngài đã nhập định ba
lần và mỗi lần lâu hơn cả tháng. Hằng ngày, Ngài chỉ ăn một bửa và
chỉ ăn trái cây; Ngài không ăn đồ nấu nướng hay chiên xào gì cả. Vì
vậy, tín đồ gọi Ngài là Thủy-Quả Hòa-thượng - Ông Thầy Ăn Trái Cây -
Trừ khi trời mưa, thường thì mỗi đêm Ngài đều ngồi tọa Thiền cho tới
sáng ở ngoài vườn hay trong rừng, chứ không ngủ trong phòng như kẻ
khác. Ðấy là những công hạnh đặc biệt của Ngài.
Năm Ngài 80 tuổi, có lần Ngài
biểu thị cho Ðại-chúng biết ý định "Xả Báo" - nhập Ðịnh - của Ngài.
Lúc ấy các đệ tử vô cùng khẩn thiết, cầu xin Ngài tiếp tục từ bi trụ
thế. Bấy giờ Ngài vì tùy thuận chúng sanh nên trì hoãn việc nhập
Ðịnh, tiếp tục công cuộc độ sinh. Từ ấy Ngài đi Nam-đầu, Ðài-trung,
Gia-nghĩa, Hoa-liên, v.v... hoằng Pháp độ chúng.
Ðến năm 84 tuổi, Ngài bắt đầu
cấm túc, ở luôn tại chùa Thừa-Thiên trên núi Thanh-lương không còn
xuống núi nữa. Công cuộc xây chùa vẫn tiếp tục, song do các đại đệ
tử của Ngài chủ động: trùng tu Chùa Thừa-Thiên, xây Quảng-Thừa Nham
(1974), Diệu-Thông Tự (1982).
Năm Ngài 94 tuổi (1985), Ngài
chủ trì Tam Ðàn Ðại Giới, truyền giới cho hơn 2.500 vị Tăng, Ni và
cư sĩ; tạo thành một Pháp-Hội trang nghiêm vĩ đại nhất ở Ðài-loan
lúc bấy giờ.
Bấy giờ tuy đã gần kề trăm tuổi,
Ngài vẫn sống rất đơn giản, đạm bạc; lời nói của Ngài bình dị, khiêm
nhường; bước đi của Ngài vẫn vững chãi, không cần dùng tới gậy chống,
không nhờ người đỡ taỵ Nếu ai gặp Ngài lúc ấy sẽ thấy thân Ngài vô
cùng nhẹ nhàng, linh hoạt; động tác thanh thoát. Ngài vẫn y nhiên
ngủ ngồi, không nằm; và vẫn ngồi ngoài vườn lộ thiên tĩnh tọa mỗi
đêm. Bấy giờ thức ăn trái cây của Ngài phải được nghiền thành chất
lỏng để dễ ăn.
Cuối năm 1985, Ngài trở về Chùa
Thừa-Thiên. Ngài thị hiện có bệnh; cự tuyệt mọi thứ ẩm thực, thuốc
men; cũng không tiếp kiến tín đồ.
Ngày Tết Nguyên-đán năm ấy,
1986, Ngài triệu tập tất cả đệ tử ở các chùa và tu viện khắp nơi lại
để phú chúc, phân phối hậu sự. Ngài chỉ bảo việc hỏa táng, phân chia
linh cốt tại Thừa-Thiên Tự, Quảng-Thừa Nham, và Diệu-Thông Tự, đồng
thời trả lời mọi nghi vấn của tín chúng.
Sáng ấy, sau giờ thọ trai, Ngài
quyết định xuống Diệu-Thông Tự ở Cao-hùng.
Hôm sau, mồng hai Tết, khí lực
của Ngài vô cùng suy nhược.
Mồng ba Tết, thể lực của Ngài
bình phục. Ngài cùng đại chúng lên điện niệm Phật. Ngài lại nói
chuyện một cách thong dong tự tại với các tín đồ đệ tử; tinh thần vô
cùng sáng suốt và lạc quan như không có chuyện gì xảy ra.
Sáng mồng bốn Tết, Ngài gọi tất
cả đệ tử cùng Ngài ra bên ngoài điện đón nắng. Ngài nói với một đệ
tử, Thầy Truyền-Văn, rằng: "Ngươi được rồi đấy; song bọn họ - đại
chúng - còn chưa xong đâu!"
Mồng năm Tết (ngày 13 tháng 2
năm 1986), Ngài ngồi xếp bằng yên định, tinh thần hòa hoãn, chẳng
chút xao động; rồi dạy các đệ tử đồng thanh niệm Phật.
Vào hai giờ chiều hôm ấy, Ngài
bảo đại-chúng: "Vô lai vô khứ, một hữu sự!" (chẳng đến chẳng đi,
chẳng việc gì); rồi nhìn đại-chúng gật đầu, mỉm cười. Không lâu sau,
đại chúng thấy Ngài ngồi yên bất động liền đến bên quan sát kỹ, mới
hay Ngài đã an nhiên theo tiếng niệm Phật, viên tịch rồi.
Nhìn lại cả đời Ngài, xuất thân
tuy nghèo khổ song bản tánh tự an, ngay thật, bình dị; đến khi xuất
gia, Ngài thật sự buông bỏ vạn sự, chân thành ẩn tu, thực hành đủ
thứ khổ-hạnh gian khó. Bởi nhân địa chân thật như vậy, nên kết quả
là cảm ứng bất khả tư nghị - sau khi xuống núi, tới Ðài-loan hoằng
dương Phật Pháp, Ngài đã tiếp độ không biết bao nhiêu chúng sanh, từ
người đến thú, từ dương giới đến âm giới, từ hữu tình đến vô tình...
Và, nhất là sự viên-tịch vô cùng tự do tự tại của Ngài - một minh
chứng hùng hồn nhất về sự diệu kỳ của Phật Pháp, cũng như về khả
năng thành tựu sự giải thoát, đạt Ðạo của những bậc chân tu, thật
hành.
Thầm nguyện Hòa-Thượng sẽ không
xả bỏ đại nguyện, tiếp tục chèo thuyền từ bi trở lại cõi này để
không ngừng đưa lớp lớp chúng sanh tới bờ bên kia, đến nơi an ổn, vô
úy, vô ưu não!
__________________________________
Chương
I: Tu Hành
1. Tu Hành: Tìm
Lại "Bản Lai Diện Mục"
Pháp môn mà ta tu học là pháp
Vô-thượng, là Pháp chẳng có hình tướng gì, bởi vì nó là pháp ở trong
tâm.
Xuất gia tu hành là vì mục đích
tìm lại bản lai diện mục - khuôn mặt thật của mình trước khi được
cha mẹ sanh ra. Khi các bạn chưa sáng tỏ việc này thì trí huệ chưa
khai mở; cũng giống như mặt trăng bị mây đen che kín, không thể hiển
xuất quang minh được.
Tu đạo là vì giải thoát, không bị
chìm đắm trong luân hồi. Coi bạn có thể tu đến chỗ Ngũ Uẩn (Sắc, thọ,
tưởng, hành, thức) đều "không" chăng?
Tu đạo thì cần trừ tham, sân, si;
đạt đến chỗ thân, miệng, ý đều trong sạch.
Từ thuở vô thủy tới nay, nghiệp chướng mà mình tạo ra thì đầy ngập
như núi cao. Ngày nay các bạn xuất gia tu hành thì cần phải tiêu trừ
nghiệp chướng của mình đi. Nếu không khéo tu hành, mà ngược lại, tạo
tội nghiệp, thì núi cao nghiệp chướng kia ngày càng đắp cao thêm;
vĩnh viễn bạn không còn cách gì thoát khỏi vòng sanh tử.
2. Cục Ðá Cột Chân Người
Tu
A. Tham, Sân, Si
Hễ bạn khởi tâm động niệm thì tự
mình đã sai lầm rồi đó, là bởi do cái "ngã", cái "tôi" tồn tại. Ðây
là niệm rất vi tế; chỉ do niệm này bắt đầu khởi dậy, mà tất cả ý
nghĩ khác dấy lên.
Cứ chê kẻ khác sai, kẻ khác xấu,
còn mình thì luôn luôn đúng, luôn tốt; nghe người ta nói mình tốt
thì vui, thì thích; bị kẻ khác chê xấu thì khó chịu, thì rầu; đó đều
là nhân-ngã tướng- thấy thật có mình, có người. Khi tu hành mà còn
có tướng nhân-ngã như thế thì không thể yên ổn tu hành. Khi còn
ngã-tướng thì làm gì cũng thấy có cái "ta", coi cái "ta" này trọng
lắm, phân định ranh giới "ta" và "bọn họ" rõ ràng lắm. Như vậy thì
chẳng có lợi gì cho việc tu, mà ngày ngày lại do đó phát sinh phiền
não.
Nếu bạn đắm trước, chấp chặt vào
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (hình sắc, âm thanh, hương thơm,
mùi vị, chạm xúc, và ý tưởng) thì trí huệ không thể khai phát đặng.
Tai các bạn lúc nào cũng thích
nghe, nghe xem có ai nói xấu mình chăng; mắt lúc nào cũng thích nhìn
hình sắc đẹp đẽ; đó là những thứ chẳng lợi cho việc tu.
Không trừ sạch tham, sân, si, thì
không có cách gì khai trí huệ đâu!
Chỉ cần tham một thứ gì đó là đủ
khiến ta trở lại vòng luân hồi rồi!
Tham một thứ thì nhiều thêm một
thứ. Ít đi một vọng niệm thì bớt đi một chút nghiệp, lại tăng thêm
một phần giải thoát.
Không nên nổi lòng tức giận, dù
nhỏ như sợi lông; nếu không mình chẳng thể nhập đạo đặng.
Nếu bạn vẫn còn lòng yêu đương,
tình ái trong quan hệ phụ mẫu, bạn bè, đồng sự, bà con..., thì trăm
ngàn vạn kiếp bạn vẫn mãi ở trong luân hồi. Nếu có hạt giống Phật
thì sự tu hành tương đối mau hơn.
Không nên để những thứ xấu xa, rác
rến chất đầy đầu não, thật là thống khổ đấy! Không nên yêu thích cái
đẹp; hãy mặc cái y này (chỉ áo cà-sa của chư Tăng, Ni) mà trực tiếp
tới cõi Tây Phương. Nếu bạn thích (mặc áo) đẹp thì sau này khi ở Tây
Phương sẽ tự nhiên có y phục đẹp mặc vào, không cần phải may phải
mua. Có kẻ chưa tới Tây Phương song hiện đã có hình dáng như ở đó
rồi.
B. Ngã Mạn
Không nên học tánh cứng đầu, cố
chấp.
Không nên có ngã-chấp (luôn nghĩ
tới cái "ta", luôn cho rằng "ta" đúng). Có ngã-chấp thì trí huệ
không khai mở. Ðùng nên sanh lòng cống cao ngã mạn bởi vì nó chướng
ngại đường Ðạo.
Không dẹp sạch ý niệm về "ta" và "người"
(nhân-ngã tướng), thì không cách gì giải thoát. Sư-Phụ vốn dạy mình
Pháp-môn Giải-thoát; Ngài nói Pháp không phải để thu nhập nhân tài.
Nếu kẻ có tài năng song không khéo
tu hành, do đó cứ nghĩ lăng xăng, tính toán việc này việc nọ. Tu
hành là tu ở sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; là mặc áo thô, ăn cơm
đạm, coi thử bạn có khả năng tu luyện để đầu óc được thanh tịnh hay
chăng.
C. Thiện ít. Ác nhiều
Trong tâm, thế lực xấu ác thì mạnh
còn khuynh hướng tốt thì yếu.
Thế
tốt thì nói: "Tôi là tốt lắm đây"; thế xấu thì nói: "Tôi là tốt nhất
đây!" Tư tưởng xấu ác luôn đứng đầu, lấn át tư tưởng thiện; nên
thiện chung cuộc bị ác đè bẹp. Ðó là điều không tốt.
Từ thuở vô thủy đến nay, do ý niệm
thiện trong lòng ta ít ỏi còn ý niệm xấu ác lại nhiều, nên tự-tánh
trong sạch (Phật-tánh) bị che phủ, không xuất hiện được. Bởi vì niệm
ác tích lũy ấy mà ta cứ khởi vọng niệm, thích ngủ, thích hưởng thụ...
mà không cách gì đề kháng đặng. Ðó chính là nghiệp chướng; do đó
mình phải tu để chế phục nó. Nếu không, dù bạn đi đây đi đó nghe
giảng, bạn chỉ là nghe vô một đống mà phiền não thì vẫn đầy dẫy,
chẳng chỗ nào thông đạt!
Khi nghiệp chướng tới thì phiền
não khởi. Khi không chánh niệm thì tà niệm khởi.
Lúc
ấy, bạn thấy người nào cũng không hợp nhãn; thấy việc gì cũng chẳng
vừa lòng. Có kẻ vì vậy mà muốn rời bỏ chùa; hoặc có kẻ cảm thấy
không có ý vị gì nên muốn hoàn tục. Thật ra, không cần biết bạn có
lý hay vô lý, hễ bạn khởi phiền não là bạn đã sai lầm rồi đó!
Không sợ hãi thì tâm mới an định.
Khi tâm sợ hãi thì không thể an định.
Sợ
hãi là tâm lý chỉ cho mình cảm nhận thôi, kẻ khác không cảm thấy như
mình; do đó, chỉ có mình là bất lợi. Khi mình không tự chủ thì mới
sợ. Sợ quá, sợ hoài, thì sanh phiền não. Khi ấy, tâm không an định
thì sẽ chẳng còn Ðạo tâm tu hành nữa!
3. Nẻo Chánh Ðể Tu Hành
A. Trừ Tướng
Hỏi: Thưa Thầy, khi thực hành mới
thấy không giản dị!
Ðáp:
Ðừng nói là "không giản dị." Bạn cứ làm thì sẽ hết sức giản dị!
Hỏi:
Song con là kẻ phàm phu cho nên...
Ðáp:
Nói mình là "phàm phu", tức là chấp trước!
Hỏi:
Song con không có tu hành gì...
Ðáp:
Ðừng nên nói không có tu hành (rồi không tu). Bạn cần phải có lòng
tin, rằng: "Tôi cũng có khả năng thành Phật. Tôi cũng có khả năng tu
tới nơi tới chốn." Nghĩ như vậy thì bạn mới tinh tấn hơn. Ðừng nên
cứ thường nói: "Tôi, tôi..."; bởi chính nó (quan niệm về "tôi") tác
quái, làm chướng ngại bạn đấy!
Xưa kia có một vị quan từ chức,
xuất gia tu hành. Ông ta sợ kẻ khác biết được thân phận của mình do
đó không hề tiết lộ thân thế cao quý (kẻ có chức vị cao, ăn mặc đầy
đủ, thì rất dễ bị đọa lạc vì phú quý không thể vĩnh cửu). Ông ta làm
đủ thứ việc thấp kém như lau chùi, quét dọn...; không ai biết thân
thế của ông. Một ngày nọ, ông ta quét dọn rồi khai ngộ! Ông ta biết
ra là xưa kia mình đã từng làm bể bao nhiêu cái chén cái bát của
chùa, do đó cấp tốc bồi thường cho chùa.
Chính
vì ông ta không có ý niệm về cái "tôi" (ngã tướng) nên mới được khai
ngộ. Bởi vậy, hãy trừ sạch ngã-tướng.
Cần phải không có tâm phân biệt
thì mới trừ nỗi ngã-tướng. Khi còn chấp chặt vào ý niệm về "tôi",
thì tu chẳng đến đâu. Trừ được ngã-tướng thì trí huệ mới khai phát.
Tu hành, không thể chấp trước. Chấp trước tức sanh phiền não.
Tu
Ðạo là cần trừ tham, sân, si; đạt tới thân, miệng, ý thanh tịnh.
Muốn trừ cái cái chấp về "tôi" thì
phải từ nơi mặc áo thô, ăn cơm đạm mà dụng công - giảm bớt ham muốn,
không có tâm phân biệt, không suy nghĩ về mình, về người, về chúng
sanh, hay về thọ mạng.
Mọi thứ đều là anh-tôi tranh chấp
mà ra. Coi xem bạn có thể tu đến chỗ chẳng còn anh-tôi, mình-người
chăng?
Bạn
cần tu nhẫn; nhẫn nhục, nhẫn nại là căn bản, gốc rễ của việc tu. Nếu
bạn không thể tu nhẫn, thì chỉ uổng công mang ngoại biểu, hình tướng
kẻ xuất gia!
Ðừng nên cho mình lúc nào cũng
đúng. Thái độ như vậy không thể tu tâm.
Tu hành không cần có ý niệm về "tôi."
Không nên kể lể mình hồi xưa, lúc chưa xuất gia, thì có chức phận
thế này, địa vị thế nọ; nếu làm vậy thì không thể buông bỏ mọi thứ,
không thể tu Ðạo. Khi đã xuất gia thì chẳng còn chức phận, địa vị,
học lực, bằng cấp, tài năng...; mọi người đều như nhau cả.
Tốt thì mỉm cười, xấu cũng mỉm
cười; bởi tốt hay xấu đều do tâm phân biệt đặt bày ra. Do đó, đừng
phân biệt.
Khi
gặp việc khiến bạn cao hứng, vui vẻ, hãy tự hỏi: "Ai đang vui vẻ?"
Khi gặp chuyện phiền não, hãy tự hỏi: "Ai đang buồn lo?"
Khi bạn có ý nghĩ không tốt, hoặc
khi có phiền não, thì hãy hướng về Ðức Phật A-Di-Ðà mà nói. Hễ những
thứ ý niệm xấu ấy đến, thì đập nát chúng ngay.
Do đó
bạn cần niệm Ðức A-Di-Ðà, tự nói rằng: "Phiền não! Hãy mau đi khuất,
chẳng có việc gì cho bây cả!" Ðó là dùng tâm trị tâm vậy.
B.
Xả Bỏ Tâm Phân Biệt
Con đường tu cần phải trải qua
gian khổ; như vậy mới có thể khai ngộ. Không nên hy vọng mọi người
đối với mình tốt; nếu người tu chẳng vậy thì không khác gì kẻ thế
tục.
Tu hành thì phải chịu thiệt thòi,
thua lỗ; có vậy tu mới tiến bộ.
Tu hành là làm những việc mà không
ai chịu làm; luôn dũng mãnh, tinh tấn, chứ không phải tính toán, so
đo rằng: "Việc này đâu phải để tôi làm!"; bởi đó là thái độ chẳng
khác người đời.
Làm những việc mà kẻ khác không
làm, đó là cách tu phước huệ. Tu hành không phải là làm việc tính
toán so đo; không cần phải toan tính, sắp đặt.
Ðiều tốt thì góp nhặt để học; điều
xấu thì vất qua một bên. Tự mình trong lòng thông hiểu là đủ rồi;
thuận theo đây mà tu hạnh Nhẫn-nhục Ba-la-mật. Tu thì đừng hỏi
"đúng" với "sai", đừng kể "hữu lý" hay "vô lý."
Tu thì đừng nói thị phi, ai đúng
ai sai. Dù mình đúng lý mà người khác nói mình sai, mình cũng cứ
tiếp nhận ý kiến ấy. Hễ bạn tự nhận mình sai - dù mình đúng - thì
phiền não sẽ không khởi; bằng ngược lại, tâm bạn sẽ không an, phiền
não sẽ kéo tới.
Trên đường tu, có rất nhiều thứ
không giống với đường đời, thế tục; do đó, đừng nên tranh chấp
"đúng" với "không đúng."
Xưa,
có hai người đồ đệ cùng tọa Thiền, một người ngồi rất nghiêm trang,
còn người kia thì nghiêng qua ngả lại; nhưng Sư-Phụ của họ lại lấy
roi quất người ngồi nghiêm trang. Nếu là người thời nay thì có lẽ y
đã nổi giận, sanh phiền não rồi; song người đệ tử ấy thì lại vô cùng
xấu hổ, thỉnh vấn Sư-Phụ khai thị dạy bảo.
Tu
hành không phải là tranh chấp "đúng" với "sai." Tu hành cần phải có
công phu nhẫn nhục; dù mình đúng mà bị trách là sai, mình cũng phải
nhận chịu.
Nếu bạn thật có lòng muốn tu, thì
đó chính là phước của bạn; do vậy cần tu cả phước lẫn huệ. Mỗi người
cần trừ sạch hết những nghiệp chướng đã tạo xưa kia, rồi đừng tạo
thêm nghiệp mới nữa; như vậy thì phước, huệ sẽ tăng gia.
(Phương
pháp: Niệm Phật, lạy Phật, phát tâm làm việc lao tác ở chùa, không
tính toán. Hễ tính toán thì sanh phiền não, tức là tạo thêm nghiệp
mới.)
C.
Tâm Kiên Cố
Khờ khạo mà tu hành, ngốc nghếch
mà ăn uống, niệm Phật cho nhiều.
Hôm
nay là hôm nay. Ngày mai là ngày mai. Chuyện gì cũng đừng rớ tay, xỏ
mũi vào. Ðó chính là tâm kiên cố, chính là tu hành.
Khi
tu thì cứ tu, cần gì phải suy nghĩ, tính toán nào là đi học Phật-học,
lấy bằng cấp, làm này làm nọ? Ðó đều không phải là chuyện tu hành.
Sau này, khi tôi (Hòa-Thượng Quảng
Khâm) không còn, các bạn đừng buồn; chỉ nghe theo lời tôi mà niệm
Phật, tu Khổ-hạnh. Ðối với hoàn cảnh tốt hay xấu, đều không nên chấp
trước, cần phải tùy duyên.
Tu hành cần phải gạt bỏ cái thân.
áo quần, ăn uống, chỗ ở đều phải giản dị. Cần phải mặc áo thô, ăn
cơm lạt. Nếu quá chú trọng đến ăn, mặc, ở, thì bạn nào khác gì kẻ
thế tục? Khi bạn coi nhẹ việc ăn, mặc, ở, thì mới trừ nổi tham, sân,
si.
Khi
những thứ ấy (áo quần, ăn uống, nhà cửa...) quá sung túc, thì dục
vọng sẽ phừng phừng, lòng tham sẽ cao ngất. Do đó, muốn buông bỏ
thân tâm thì phải từ nơi ăn, mặc, ở hạ thủ công phu.
Khi có chuyện tốt xấu gì bạn cũng
đừng để hiện ra ngoài mặt. Như bạn sanh bệnh thì chớ để kẻ khác biết
bạn bị bệnh. Như tôi tuy có bệnh, song ai nhìn tôi cũng nói: "Trông
Thầy thân thể khỏe lắm"; không ai biết tôi lúc ấy có bệnh cả.
D. Canh Gác Sáu Căn
a) Mắt
Khi thấy khuyết điểm, lỗi lầm của
kẻ khác, đừng nên khỏi tâm phân biệt, so sánh. Hãy quán sát chính
mình. Ai ai cũng có Phật tánh cả.
Không nên tối ngày cứ dòm ngó lỗi
xấu của người. Phải thường xuyên tự nhìm xem mình có lỗi lầm, sai
trái gì hay không. Tu như vậy mới không đi ngược lại vời Ðạo.
Phàm thấy việc gì cũng đừng quá
chấp tướng. Thấy tướng mạo tốt thì chớ sanh lòng vui thích; thấy
tướng mạo xấu cũng chớ khởi phiền não.
b) Tai
Tu hành cần phải tự tại. Ðừng để
tâm vào lời dư luận phê bình bạn này nọ.
Nói
bạn tốt, phê bình bạn xấu: Ðây chẳng phải là người ta sai, mà thật
ra là bạn không an định.
Người khác phê bình bạn: Chính đây
là nơi bạn phải tu.
Tu hành cần có cảnh giới tới thử
thách thì mình mới tu đặng. Tự tu, tự ngộ - phiền não là Bồ-đề. Tu
hành chính là tu ở chỗ đó. Khi có kẻ công kích mà tâm bạn vẫn an
nhiên, bình lặng, không nổi sóng gió; thì đó là tu.
Không
phải nói rằng: "Mỗi ngày tôi lạy Phật bao nhiêu lạy, niệm Phật bao
nhiêu chuỗi"và cho như thế là đủ; phải biết đó là những nhân duyên
thiết yếu (song phải biết tu trong những lúc còn lại).
Khi bạn quét chùa sạch sẽ rồi, có
Thầy lại hằn học nói bạn quét chưa sạch. Nếu lúc đó bạn cùng Thầy ấy
biện bác, giải thích, thì bạn còn tánh tình kẻ tục. Nếu bạn chấp
nhận lời mắng nhiếc, rồi trả lời: "Vâng, tôi sẽ quét sạch ngay"; thì
đó là tu hành.
Khi tu tới chỗ có chánh niệm, lòng
sáng tỏ, thì tai bạn thích nghe lời tốt hay lời xấu, bạn đều cảm
nhận rất rõ. Khi tai bạn chỉ thích nghe lời hay lời tốt, thì hãy đem
lời xấu lại mà tu.
c) Miệng
Khi nói, lời lẽ cần phải tinh (chỉ
nói điểm chính) và giản (đơn giản). Khi lời không cần phải thốt ra,
đừng nói!
Tu hành đừng nên thị phi (chê bai,
nói xấu người khác), đừng đặt điều.
Trong đạo Phật, sợ nhất là nói thị
phi. Kẻ nói chuyện thị phi là kẻ thị phi (không đáng tin cậy), chỉ
tạo khẩu nghiệp. Tu hành chính là ở chỗ này mà tu thành; nếu không
thì là kẻ chỉ biết ăn ngày ba bữa!
Ðừng nói thị phi; vì nói thị phi
thì sẽ dẫn tới thất bại, và khiến kẻ khác không được yên ổn.
Muốn nói gì về người khác, trước
hết hãy tự hỏi lương tâm mình.
Ðừng phê phán người khác là sai,
là có lỗi. Lời nói một khi thốt ra, bạn đã sai trái rồi. Do đó, cái
miệng thật quan trọng lắm!
Mỗi ngày phải tự huấn luyện để
lòng đừng tham, đừng nói lăng nhăng.
Khi
mở miệng, hãy nói về Phật Pháp, cầu sanh Tây Phương. Chủng tử "thói
quen thế tục" bạn đã trồng trong tâm quá đủ rồi; do đó, đừng nên
tiếp tục nói những lời thế tục, thi phi nữa!
Có kẻ khi nói thường làm cho người
nghe phiền não, tâm không thể an định; khiến người nghe không biết
phải xử lý làm sao cho đúng. Ðã vậy, y còn làm người ta phải nghe y
mà chẳng biết y có nghe cho họ chăng? Kết quả là người nghe phiền
não, buồn bực, không cách gì giải khai nổi.
Trong chùa, không được hai, ba
người tụm lại nói chuyện lăng nhăng; hoặc kết bè đảng, phê bình
người này kẻ nọ, thị phi đúng sai, trong lúc họ không hiện diện. Nếu
làm vậy sẽ dễ gây ra sự bất an trong chúng, phạm vào giới quấy nhiễu
đại-chúng.
Tu hành cần phải trong ngoài nhất
trí, không tự mâu thuẫn; nghĩa là không được "khẩu thị tâm phi" (miệng
nói một đằng, tâm nghĩ một ngả).
Tu hành phải chú ý đến khẩu
nghiệp. Miệng tốt thì tâm mới tốt. Ðừng cho rằng: "Tôi miệng tuy
không tốt, song lòng tốt!"
Sau
khi xuất gia rồi, trong chùa vẫn có kẻ nói chuyện thị phi. Song le,
bạn đừng cùng bọn họ nói thị phi là đủ. Ðừng nên cứ mở miệng là thị
phi hoài. Kẻ nào nói phiếm, lẻo mép về chuyện người khác, thì y là
kẻ thị phi.
Hễ có
thời giờ rảnh rỗi, bạn hãy lạy Phật, niệm Phật.
Khi bạn khởi phiền não, buồn lo,
chớ nên kiếm kẻ khác nói này nói nọ. Nói lui nói tới, thế nào bạn
cũng mắc vào thói thị phi lăng nhăng. Tốt nhất là hãy lạy Phật cho
nhiều để giải trừ phiền não.
Hỏi: Nghe Thầy giảng (về tiết thực)
nên con không dám ăn nhiều quá, ăn no quá; song sức lực yếu ớt, con
phải làm sao đây?
Ðáp:
Cần ăn cho đủ. Chủ yếu là không tham, không chấp trước.
Không
phải là hễ thức nào ngon thì ăn nhiều một chút, thức nào dở thì ăn
ít một tí. Ðừng tham cầu hương, vị, xúc, pháp.
Khi bạn khởi ý nghĩ xấu, đừng chấp
trước nó; hãy tự nhủ thầm: "Mình không nên nghĩ ác!" Không thể dùng
hình phạt, bởi vì hình phạt chỉ làm tổn hại chính mình mà thôi.
Sự vật có tướng trạng thì dễ thấy.
Việc vô hình vô tướng thì khó thấy (như nói thị phi...); ta cần có
lòng cứng rắn, đừng để bị chúng lôi kéo.
Hỏi: Có nghiệp mang theo thì làm
sao khai trí huệ?
Ðáp:
Niệm "Nam mô A-Di-Ðà Phật" cho nhiều.
Nếu các bạn noi gương đức hạnh của
Sư-Phụ (Hòa-Thượng Quảng Khâm) thì đi đâu cũng yên ổn cả.
Thân thể giả dối của chúng ta khó
tránh bệnh tật; song, thân bệnh là bệnh nhỏ.
Có
vọng tưởng, tham, sân, si mới là bệnh lớn. Còn vọng tưởng là còn
tiếp nối chuỗi luân hồi, không dứt được vòng sanh tử.
Ðể
bảo đảm có được chánh niệm ở giây phút lâm chung, bình thường mình
cần phải uống thuốc "A-Di-Ðà Phật"; nếu không, chết rồi chẳng biết
về đâu!
Lúc đi, đứng, nằm, ngồi, phải luôn
thể hội Phật pháp, giác ngộ đạo lý; vậy mới không uổng phí thời gian.
Thời gian qua rất chóng, phải tận dụng nó để thể nghiệm. Nếu tu như
vậy, ý nghĩ xấu mới không có cơ hội nảy sanh; không làm vậy, sẽ
không có được chánh niệm.
Khi
miệng không nói thì tâm suy nghĩ; song đừng suy nghĩ những thứ có
sắc tướng, hình bóng; phải suy nghĩ thư ra ngoài sắc tướng.
E. Tâm Trường Viễn (Bền Bĩ Lâu
Dài)
Bạn cho tu hành dễ lắm sao?
Bây
giờ, việc chúng ta làm chỉ là thứ khổ công, khổ tu mà thôi. Bởi vì
hiện tại chúng ta chưa đoạn được tham, sân, si, do đó đây là giai
đoạn tu luyện tâm trí. Chờ khi những thứ ấy bị đoạn không còn một
mảy may, thì mới gọi là nhập Ðạo.
Tu hành không phải là việc dễ "ăn"
như đậu hủ, bỏ vô miệng là có thể ăn ngay!
Các
bạn cần để 10 năm, 20 năm trì một câu "A Di Ðà Phật" không buông lơi,
cộng thêm công phu Tín, Nguyện, Hành mới được.
Nếu các cô có Ðạo-tâm, từ từ tu
tới 40, 50 tuổi, không có quái ngại, trở thành "lão sư bà", thì lúc
đó các cô mới có đặng một chút xíu tự tại; song không phải là tự tại
gì lắm. Nếu các cô không ngộ Ðạo, thì dù đến 40, 50 tuổi, phiền não
sẽ vẫn tràn ngập, dễ thành điên đảo.
Tu hành cần giữ Trung Ðạo (trạng
thái cân bằng). Ðừng quá gấp, đừng chậm; phải như "tế thủy trường
lưu", nước chảy từ từ mà không ngừng.
Tu hành, phải giữ Trung Ðạo bằng
công phu buông bỏ và nhìn thủng. Cần mặc áo thô, ăn cơm đạm, và
không chấp trước vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Song le, phải
hành trì một cách tự nhiên; không phải miễn cưỡng, bày đặt không ăn
cơm, không mặc áo dù trời lạnh, hay không ngủ nghỉ để chứng tỏ mình
là một tay tu hành cừ khôi! Khi tu tới một trình độ nào đó, tự nhiên
bạn sẽ không còn biết đói, không còn cần ngủ nghỉ nữa.
Hãy tinh tấn, dũng mãnh tu hành.
Tu tới lúc bạn không còn nhu yếu về ăn, mặc, ở, thì khi ấy bạn có
thể lên núi bế quan; như thế thì may ra bạn có thể thành tựu. Nếu tu
chưa tới trình độ như vậy mà bế quan, thì sau này sẽ gặp chướng ngại.
Trong quá trình tu hành, nảy sanh
phiền não là việc không tốt. Cần phải không có phiền não, lo âu,
buồn vui, thì mới tốt.
Nếu có thể mỗi ngày yên ổn, bình
tĩnh để niệm Phật, lạy Phật, tu trì, không có chuyện gì xảy ra, là
tốt rồi; chớ nên vọng tưởng chuyện này chuyện nọ.
Khi
không tạo tội lỗi, thì đó là công đức rồi!
Hôm nay là hôm nay. Ngày mai là
ngày mai.
Hôm
nay không xảy ra chuyện bất tường, có thể niệm Phật qua ngày, là đủ
lắm rồi.
Việc
ngày mai, để ngày mai - chớ quái ngại, chớ âu lo.
4. Bản Sắc Của Việc Tu
Trừ bỏ nhân-ngã tướng (ý niệm và
sự chấp trước vào quan niệm có mình và người) là việc mà người tu
phải làm cho thấu. Làm được, đó gọi là công phu thiệt. Nếu không làm
được, bạn đi tới chỗ nào, chùa nào tu cũng vô ích. Tu tới trình độ
như vậy, công phu của bạn mới thành tựu.
Chuyện gì cũng là do "tôi, anh",
mình, người" tranh chấp, phân tranh mà ra. Xem bạn có khả năng tu
tới chỗ không còn "mình, người" chăng?
Cứ nhậm vận mà làm, tùy duyên qua
ngày, thì chuyện gì cũng chẳng quấy nhiễu được tâm bạn. Mọi thứ: ăn,
uống, ngủ, nghỉ, mặc, ở, thị phi, vinh nhục... hãy lạnh lùng buông
bỏ chúng đi. Khi quét sạch được những ngoại duyên ấy, thì trí huệ
trong tâm sẽ tự nhiên khai phát.
Tâm bình thường chính là Ðạo: Mỗi
ngày cứ giữ cho tâm đừng khởi phiền não, âu sầu, cũng không vui vẻ
thái quá. Ðối đãi với mọi người thì không tốt cũng không xấu; cứ tùy
duyên mà kết mối giao hảo với họ. Song, chớ phan duyên, tức là đừng
lợi dụng họ để thủ lợi.
Lúc
nào cũng phải chú ý đến sự khởi tâm động niệm, sự suy nghĩ của mình.
Khi có ý tưởng xấu thì phải lập tức thức tỉnh, dẹp đi.
Tu hành, cần tu với thái độ vô
ngại, ví như con hạc làm tổ vậy. Con hạc không lo lắng gì về ăn uống
cả; nó thích chỗ nào thì làm tổ chỗ đó. Khi nào muốn, nó lại tung
cánh bay đi nơi khác. Ðó là giống chim tự do, tự tại nhất.
Khi
tu, bạn phải có thái độ "vô quái ngại" ở mọi nơi, mọi chốn. Ðược
vậy, thì tâm mới an tĩnh, mới như như bất động.
Tu hành, cần tu tới mức không còn
quái ngại trong hoàn cảnh động hay tĩnh.
Thế
nào là "động và tĩnh không còn quái ngại?" Tức là ở trong hoàn cảnh
động mà tâm bạn không động: Bạn không bị hoàn cảnh động bên ngoài
ảnh hưởng làm tâm bạn lay chuyển, nghĩ ngợi. Và khi ở trong hoàn
cảnh tĩnh lặng, bạn không có ý nghĩ là yên lặng.
Phải
dùng tiếng niệm Phật để quét sạch hai trạng thái bụi bặm đó, khiến
liên hoa khai mở; như vậy mới đắc chánh niệm. Khi niệm Phật, bạn cần
phải chuyển niệm - chuyển hóa, biến ác niệm thành chánh niệm!
Việc gì cũng phải buông bỏ. Buông
bỏ chính là công phu.
Bình
thường, đối đãi với việc gì cũng buông xả hết; không có vướng mắc,
quái ngại vào việc gì. Ðó là để tránh trường hợp lúc lâm chung, giây
phút tối hậu, vọng tưởng nổi lên lôi kéo mình vào vòng luân hồi bất
tận.
Mục đích việc tu là để lúc chết,
bạn không còn vướng bận, không còn quái ngại chuyện gì cả; chỉ thảnh
thơi đem theo linh quang (công đức trí huệ sáng suốt) của chính mình
mà thôi!
Tu hành, cần phải ở chỗ nào cũng
tu như nhau; đâu đâu bạn cũng có thể tự tại. Tu là tu ở chỗ này đây.
Tu hành, cần không để cho ngoại
cảnh bên ngoài ảnh hưởng, lôi kéo tâm mình.
Bạn cần chú ý tự tâm: Cần phải có
niềm vui khởi dậy từ nội tâm chứ không phải là cái vui do hoàn cảnh
tốt đẹp bên ngoài đưa đến. Do đó, bạn phải luôn quan sát tự tâm, xem
xét sự suy nghĩ của mình, và đừng chú ý tới ngoại cảnh. Phải tu tới
độ "tôi chẳng có gì cả" mới được!
Tu hành là tu ở phước lẫn huệ. Tu
tới lúc bạn lớn tuổi, "lão" rồi, thì phước và huệ sẽ đầy đủ; bấy
giờ, mọi người sẽ cung kính bạn (đừng tham được cung kính khi còn
trẻ, lúc còn thiếu phước huệ).
Khi bạn tu chân thật, đúng đắn,
thì dù bạn ở đâu người ta cũng sẽ tìm đến; ai ai cũng vui vẻ muốn
cùng bạn đàm đạo.
Cần tu đến chỗ chánh niệm lúc nào
cũng hiện tiền. Có chánh niệm thì mới có khả năng phân biệt thế nào
là đúng, thế nào là sai; rồi từ đó mà hành động.
Tu hành, là tự mình tu. Tu tới lúc
thể ngộ - ngộ cái khổ ở Ta-bà, cái khổ phải luân hồi. Hễ ngộ một
việc thì một chút trí huệ xuất hiện.
Tu hành, cần tu tới lúc có trí
huệ. Chuyện gì tới tay, bạn đều biết vận dụng nó. Khi nói, cần phải
biết nói sao cho viên dung. Khi mình đã đứng vững rồi thì mới có thể
khiến cho người khác tin theo và vui vẻ tiếp nhận.
Có
trí huệ mới không tạo ác nghiệp. Do đó, phải tập nuôi dưỡng tâm từ
bi và thực hành hạnh Bồ Tát.
Tu hành, cần tu cho có tướng mạo
từ bi. Tu làm sao để người khác có thể thấy được vẻ hiền hòa, từ bi
trong ánh mắt của mình!
Khi một người tu hành thành tựu
thì những kẻ khác sẽ được nhờ phước. Lúc đó, ai ai cũng khởi tâm
dũng mãnh, tinh tấn học theo gương người ấy.
Khi
ai cũng muốn tu hành thì hãy cùng nhau khuyến khích, cùng nhau tu.
Nếu không vậy thì mọi người sẽ khởi chuyện thị phi, sanh lòng đố kỵ,
tranh chấp, và trở nên ngu si; bấy giờ, việc tu ở chùa sẽ không còn
yên ổn nữa.
Tu cho tốt thì tự nhiên có người
ủng hộ; chứ không phải bắt ép người ta mà được.
Ðừng nên hy vọng, mong cầu thí chủ
lại cúng dường này nọ. Ðừng ỷ lại vào thí chủ. Bạn chỉ cần nỗ lực tu
hành; khi tu thành tựu thì Thiên, Long, Bát Bộ đều tới ủng hộ bạn.
Khi ngồi Thiền, thấy cảnh giới tốt
hay xấu đều đừng chấp trước; cũng đừng nói về nó.
Phật Pháp thì không dính mắc,
ngưng trệ nơi cảnh giới Lạc, Minh và Không.
Khi
thân khinh an, nhẹ nhàng, thì tâm sẽ hoan hỷ (Lạc); khi trong lòng
ít vọng niệm thì tâm sẽ sáng suốt (Minh); và khi chẳng có một ý nghĩ
hay vọng niệm sanh khởi thì đạt tới trạng thái không.
Nếu
bạn vướng mắc ở cảnh giớ Lạc thì đọa và Dục-giới Thiên, chấp trước
vào cảnh giới Minh thì kẹt trong Sắc-giới Thiên, và bám chặc vào
cảnh giới Không thì mắc ở Vô-sắc-giới Thiên.
Chương II: Khổ Hạnh
1. Vững Lòng Tin, Tu Khổ
Hạnh
Nhân sinh có Bát Khổ--Sanh, Lão,
Bệnh, Tử, Cầu bất đắc (khổ do mong cầu mà không được toại ý), Ái
biệt ly (khổ vì phải xa lìa người mình yêu thương), Oán tằng hội (khổ
vì phải gần gũi người mình oán ghét), và Ngũ-ấm xí thạnh (khổ do bị
tấm thân Ngũ-ấm này khống chế).
Nếu
bạn có nguyện lực tu Khổ-hạnh thì sau này sẽ có chút thần thông, sẽ
biết được chuyện này chuyện nọ. Lúc ấy, tự mình cảm biết, tự mình
làm chủ.
Nếu ai ai cũng có nguyện tu
Khổ-hạnh, thì ai ai cũng có thể thành Phật, có thể được vãng sanh
Tây Phương, được hóa sanh từ hoa sen. Các vị xuất gia thì tấm cà-sa
chính là y áo Tây Phương đấy.
Cơm của kẻ xuất gia phải đạm bạc;
coi đây chính là một Khổ-hạnh.
Tu hành cần phải chịu cực khổ.
Càng chịu cực khổ thì càng có điều tâm đắc.
A. Khuyến Khích Tu Hành
Việc tu thì dựa vào sự thực hành
của mình. Như uống nước, khi chưa uống thì bạn không biết mùi vị của
nó; uống xong rồi mới biết mùi vị. Có thực hành mới đảm bảo được
việc tu là chân thật.
Ði, đứng, nằm, ngồi--bạn phải dùng
nó để thể hội Phật Pháp. Ngày tháng qua mau như tên bắn, chớ phóng
dật!
"Một ngày đã qua,
Mạng
cũng giảm dần,
Như cá
cạn nước,
Thử hỏi
gì vui?"
Mạng người vô thường--một hơi thở
ra mà không vào lại, đời người tức hết! Bởi vậy, mau mau dũng mãnh,
tinh tấn; chớ buông lung, lơi lỏng! Hãy coi việc niệm Phật là gấp
rút, khẩn trương nhất!
Gia tài, của cải--mọi thứ ta chẳng
đem theo khi sanh ra và cũng sẽ không mang theo lúc chết đi:
"Mọi thứ chẳng đem đặng,
Chỉ có nghiệp tùy thân."
Ðừng nên vì những thứ ở ngoài thân
mình mà lãng phí quãng đời trân quý của mình. Phải mau, sớm tu hành!
B. Hạnh Nguyện
Thứ niệm thiện, nghiệp thiện mình
đem theo (từ kiếp trước) thì ít, mà niệm ác thì nhiều. Bởi vậy, nay
mình cần phải tu Khổ-hạnh để tiêu trừ nghiệp chướng. Vì thế, không
nên tham ngủ, tham ăn...; phải quét cho sạch những thứ niệm xấu ấy!
Có chánh niệm thì sẽ ít phiền não.
Khổ-hạnh là hạnh nguyện của lịch
đại Tổ-Sư, của Ðức Phổ-Hiền, Văn-Thù, Quán-Âm, Ðịa-Tạng, các Ðại
Bồ-tát. Ngày nay mình bắt chước, học theo gương các Ngài.
Khi Hòa-Thượng Hư-Vân đi ba bước
một lạy triều sơn, Ngài một mình, một gậy, một bao ăn tạm qua ngày.
Ngày nào lạy tới đâu thì tính tới đó; chuyện ngày mai thì để hôm sau
tính. Tâm Ngài hoàn toàn không chấp trước vào đâu cả. Do đó Long,
Thiên, Hộ-Pháp đều bảo vệ Ngài. Chúng ta thì chẳng có nguyện gì cả;
nếu có nguyện thì việc gì cũng có thể làm tới nơi tới chốn!
Tu Khổ-hạnh là để nuôi dưỡng cái
nguyện; xem bạn có hay không có nguyện. Kẻ ít nghiệp chướng thì mới
có thể phát nguyện tu Khổ-hạnh. Chư Phật, Bồ-tát thành Ðạo cũng bởi
do nhờ nguyện.
Hỏi: Song tôi không thể phát đặng
nguyện Khổ-hạnh?
Ðáp:
Nguyện không phải là "tôi muốn như thế này, thế nọ"; bởi như vậy thì
vẫn còn cái "ngã", cái "tôi." Nguyện cần phải được phát một cách tự
nhiên, và phải vì lợi ích của chúng sanh.
Như
bản thân tôi, tôi có hề nói tôi ra sao, ra sao đâu? Ngày nay dù có
thành tựu, tôi cũng không biết được!
2. Làm Sao Tu Khổ Hạnh
Thế nào là tu Khổ-hạnh? Tức là
không so đo, tính toán mọi sự. Ðối với chuyện hằng ngày, chớ khởi
tâm phân biệt.
Tu Khổ-hạnh tức là rửa sạch đầu óc,
thay đổi chủng tử.
Khổ-hạnh không phải là việc giản
dị, vì tu Khổ-hạnh là tu tâm.
Khổ-hạnh không phải là việc đơn
giản, là cứ làm "bừa." Làm "bừa" không phải là biện pháp đúng. Nếu
làm "bừa" thì dù có đến hết kiếp, rồi đầu thai trở lại cũng chẳng
tới đâu!
Việc làm Khổ-hạnh không có nghĩa
là làm cho nhiều.
Làm việc là để rèn luyện đầu óc
suy nghĩ của bạn.
Làm việc thì phải thong thả; không
được quá gấp gáp, hấp tấp.
Làm việc lâu ngày thì sẽ quen tay;
khi ấy, bạn có thể khai trí huệ. Bấy giờ, công việc cần làm ra sao,
bạn chỉ cần nhìn qua là tự nhiên biết ngay; không cần phải bóp trán,
suy đi nghĩ lại mới biết.
Muốn tu Khổ-hạnh, cần phải rèn
luyện xem mình có khả năng xả bỏ thân này hay chăng.
Thân
này là giả tạm, nhất định sẽ bị hủy hoại; dù muốn cứu vãn cũng không
có cách gì khôi phục.
"Xả
bỏ thân này" là thế nào? Tức là ăn cơm đạm, mặc áo thô, đắp ba lớp
cà-sa; chẳng kể gì đến ăn ngon, mặc đẹp!
Tôi dạy các bạn dựa vào Pháp-môn
Niệm Phật mà tu.
Xưa,
tôi ở trên núi tu hành thì chỉ tùy duyên. Hễ thức gì mọi chúng sanh
ăn được thì loài người cũng có thể ăn được; đó gọi là đồ cúng dường
tự nhiên của trời đất.
Nếu
quá đói mà bạn cứ bướng bỉnh nhẫn chịu, thì thân thể sẽ hư hoại. Tu
hành thì cần phải dụng tâm; không nên tu luyện những thứ cực đoan
như không ăn uống như vậy.
Tôi tu đến ngày nay, lòng cảm thấy
rằng nếu vạn nhất, chẳng may mà tu trật tu sai, thì thật nguy hiểm.
Duy có môn Niệm Phật là tốt nhất.
Thế nào là "mặc áo thô, ăn cơm đạm"?
Không
phải là chẳng ăn cơm đâu! Mà là ăn để no, chứ chẳng phải ăn cho ngon;
mặc đủ ấm đủ che thân, chứ chẳng phải mặc cho đẹp. Ngủ vừa để có đủ
tinh thần là tốt rồi; chớ ham ngủ. Ngủ nhiều rất dễ bị hôn trầm, dật
dờ, nặng nề.
Nếu
bạn bày đặt không ăn cơm, nhịn đói, thì sẽ khiến thân thể suy nhược,
rồi khó an tâm tu đặng. Vậy là uổng phí cho bạn tới đây tu hành.
Tôi
xưa kia đã từng làm qua việc ấy (nhịn đói); nay già rồi mới biết là
sai lầm.
Rèn luyện ngủ ngồi là việc đòi hỏi
thiện căn; nó không giản dị đâu. Ðừng nói tới phương pháp, cách thức
luyện tập nó, làm sao đối trị, v.v... Nói ra, các bạn thêm chấp
trước.
Ðây là việc mà kẻ có thiện căn có
lòng muốn tu. Khi thực hành, hễ có chánh niệm thì tự nhiên sẽ thành
công. Song le, nếu lầm đường trật bước, thì "thân người mất đi, khó
phục hồi!" Ðã có rất nhiều người lầm lẫn rồi đấy!
Hỏi: Hòa-Thượng thường dạy chúng
con học theo gương các lịch đại Tổ-Sư. Song le, nếu hoàn cảnh quá
tốt đẹp: ăn, mặc, ở đều không thiếu thốn gì, thì làm sao học gương
chư Tổ?
Ðáp:
Các bạn không nên tham lam, đắm trước vào mọi thứ (ăn, mặc, ở); chỉ
cần có thể sống qua ngày là tốt rồi.
Ðừng
nói rằng có thức ăn cúng dường nhiều, rồi cắm đầu cắm cổ ăn, tự làm
nô lệ cho cái miệng. Song le, cũng không được ăn quá ít, để bụng đói
lả. Bạn phải lượng bụng mình mà ăn, ăn đủ vừa no là tốt rồi--chớ
phân biệt đồ ngon đồ dở!
Hiện
tại, thực phẩm đều có chất hóa học, hoặc đã bị nhiễm hóa chất, thuốc
sát trùng... Khi thức ăn thật sự là không thể ăn được, hoặc là hư
hoại rồi, thì chớ ăn. Cứ ăn bừa, ăn cho nhiều vào, thì có thể chết
đấy!
3. Buông Xã Túi Da Thối
Này!
Túi da thối này là để ta mượn mà
tạm ở. Song le, cũng vì nó (thân này) mà ta tạo vô lượng vô biên
nghiệp.
Chúng ta, ai cũng do mang nghiệp
mà sinh ra, do đó đầy dẫy bệnh khổ. Bớt sát sanh, niệm Phật nhiều,
thì mới có thể tiêu nghiệp đặng.
Khi thân thể có bệnh mà uống thuốc
gì cũng chẳng lành, hãy niệm Phật thì bệnh sẽ lành, bởi Ðức Phật
A-Di-Ðà là vị "Vô Thượng Y Vương" (vị vua thầy thuốc cao tuyệt nhất).
Con người phải chăng có thể trốn
được kiếp số và bệnh khổ?
Thí
dụ có kẻ bị đau tim; nếu y chuyên tâm niệm Phật thì bệnh tim chắc
chắn sẽ lành. Nếu y tuy niệm Phật mà vẫn còn muốn đi bác sĩ kiểm tra
bệnh tình, thì niệm Phật trả về niệm Phật, bệnh không thể lành nổi (thiếu
thành tâm). Nếu y có thể chuyên tâm trì niệm Phật hiệu thì bệnh sẽ
lành, mà chính y cũng không hay biết nữa!
Thân thể này giống như cái nhà;
chắc chắn sẽ hư sụp. Lúc ấy dù có sửa chữa đến cách nào nó cũng sụp.
Do đó chúng ta phải buông bỏ sự chấp trước vào thân thể giả dối này;
đừng nên quá chăm sóc, lo lắng cho nó.
Xét
cho cùng, thân này là thứ huyễn hóa; song le, chúng ta phải khéo léo
lợi dụng nó để tu hành.
Không nên quá quý tiếc thân này.
Khi sanh bệnh, chớ quá quan tâm; vì đó là một thứ thử thách. Quá
quan tâm thân này nên mới bị thử thách.
Khi
bệnh, bạn phải càng thể hội sự vô thường của đời người. Khó ai tránh
nổi sanh, già, bệnh, chết, và khổ; do đó, càng phải nỗ lực, tăng sức
tu hành!
Chương III: Rõ Nghĩa
1. Hiểu Biết, Lập Hạnh
Người xuất gia nếu không dựa vào
Phật lý mà hành trì, mười người tu có đến chín kẻ sai.
Kẻ tu học Phật Pháp, không phải
rằng:
"Thứ
gì tôi cũng chẳng cần!" Như thế là đi lệch lạc rồi vậy.
Hãy đọc Kinh Kim-Cang cho nhiều,
bạn sẽ không còn quá chấp trước.
Nên đọc cho nhiều sách, truyện nói
về Phật, Bồ-tát, lịch đại Tổ-Sư, chư Cao-tăng, Ðại-đức. Mình phải
học hỏi gương các ngài, tìm hiểu kinh nghiệm quá trình tu hành đã
khiến các Ngài thành Phật.
Con
người là kẻ ở vị trí tu hành tốt nhất; bởi vì thành Phật hay đọa địa
ngục đều từ nơi lúc làm người này định đoạt.
Sau khi thọ Giới, học Phật Pháp,
các bạn có gương tu hành của chư Tổ, lại có kinh điển để tham khảo
- hãy xem thử bạn có tìm được cho mình một con đường tu chăng.
Sách
vở thế tục ở đời, các bạn đã đọc cả rồi (lúc chưa tu, còn ở ngoài xã
hội); do đó chớ nên vì nó mà trở lại luân hồi trong cõi Ta-Bà này!
Khi có thời giờ rảnh rỗi, bạn hãy
coi kinh điển. Xem kinh là để thấu hiểu, rồi dựa vào kinh điển mà tu
trì, thực hành; chứ không phải xem xong rồi đi tán dóc.
Có kẻ
(xuất gia rồi) còn đi học (trường ngoài đời); thật chẳng khác gì kẻ
thế tục cả! Khi y không có trụ cột tu hành để nương tựa, thì y càng
học chỉ càng thêm loạn.
Các
bạn cần phải nắm lấy thời gian; đừng để ngày giờ trôi qua uổng phí.
Hãy dành thời giờ để xem kinh, lạy Phật, niệm Phật, ngồi Thiền, tụng
Kinh!
Kinh-điển là con đường. Khi phiền
não đến, hãy theo "con đường" này mà thông thoát. Nếu bạn biết dùng
kinh điển thì khi phiền não tới, phiền não tức là Bồ-đề. Nếu bạn
không biết vận dụng, thì phiền não tức là vô minh.
Nếu
phiền não tới mà bạn không biết giải thoát, thì bạn sẽ mắc cứng vào
phiền não; như thế thì cũng như uống lầm thuốc, hay uống phải thuốc
độc vậy. Thuốc là tùy ý mình uống hay không uống. Bạn phải uống cho
đúng thuốc; chớ uống lầm độc dược! Nghĩa là sao? Nghĩa là bạn phải
biết "hồi quang phảng chiếu", xoay tâm lại để tự soi cõi lòng (nhìn
phiền não theo cái nhìn của chư Phật và Bồ-tát trong kinh điển).
Toàn bộ Tam Tạng Kinh là ở trong
tâm ta. Giới, Ðịnh, Huệ cũng chỉ ở trong tâm này.
Giới,
Ðịnh, Huệ chẳng phải là thứ để đem đi nói đi giảng - đó là thứ dùng
để thực hành, để tu (phá) Ngũ Ấm. Tụng Kinh không phải đọc oang oang
là xong đâu. Bạn phải thể hội cho được ý nghĩa của Kinh; nếu không
thì uổng cho bạn đã xuất gia đấy!
Thuyết Pháp chỉ là nói miệng. Bạn
cần phải tu sao cho mình nhìn tới đó. Mình phải liễu ngộ mọi sự; nếu
không, bạn sẽ chấp trước nặng nề vào kinh điển!
Kinh giấu ở đâu? Kinh giấu ngay
trong tâm chúng ta, song cần mở khai trí huệ thì mới biết được chúng.
Nếu bạn không khai trí huệ thì xem Kinh, bạn sẽ mơ mơ hồ hồ. Khi trí
huệ khai mở, lúc xem Kinh bạn sẽ cảm thấy rất thành thục, rành rẽ;
đồng thời bạn sẽ lĩnh ngộ được những chân lý khác nữa.
Khi một lý thông suốt, mọi lý đều
thấu triệt!
2. Công Phu Khuya và Tối
Bây giờ, khi còn ở cảnh động, bạn
hãy học cho rành nội dung cuốn Thiền Môn Nhật Dụng Khóa Tụng (tức là
Kinh đọc hằng ngày, hai thời công phu). Sau này, khi bạn ở cảnh tĩnh,
bạn sẽ dùng đặng nó.
Khi công quả, lao tác xong rồi,
nếu còn dư thời giờ thì bạn hãy xem Kinh. Xem Kinh gì? Chỉ cần bạn
liễu giải, thể hội hai thời công-phu, rồi theo đó thực hành, thì
nhất định bạn sẽ liễu thoát sanh tử.
Bạn hãy khéo mà thể hội Tam Quy-y;
xem mình đã làm đặng tới nơi tới chốn chăng.
Như "Tự
quy y Pháp, nguyện rằng chúng sanh, hiểu sâu Kinh Tạng, trí huệ như
biển." Trí huệ bạn thế nào mới sâu rộng như biển? Người ngoài nhìn
một cái là họ biết ngay!
Chẳng
phải kinh điển là ở nơi giấy trắng mực đen vuông vức đâu; vì cứu
cánh, chúng không phải là vật của (chân-tánh) bạn.
Bạn
phải xem bộ Kinh "Vượt Ra Ngoài Hình Tướng Trong Kinh Ðiển" - kẻ
biết đọc nó thì nhìn là biết ngay; ai không biết xem nó thì không
thể biết đặng. Do đó, hễ niệm Phật, niệm tới một trình độ nào đó thì
tự nhiên Kinh Tạng sẽ ở tại tâm bạn!
3. Gõ Chuông
Hỏi: Phật là gì?
Ðáp:
Phật không là gì cả. Ở đời (xã hội) mới có vật hình sắc, tướng mạo.
Học Phật thì chẳng có vật gì cả.
Thứ "không sắc tướng" tức là sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc; và cũng tức là chân không
diệu hữu. Ý nghĩa của nó là bên ngoài tuy nói có vật đó, song trong
tâm không có (quan niệm, hình bóng) vật đó.
Tâm
là "không". Nếu trong tâm còn những thứ có sắc có tướng, thì phiền
não sẽ từ đó nổi dậy.
Hỏi: Thế nào là "không"?
Ðáp: Nếu bạn nhìn xuyên thủng được
(mọi sự vật), thì đó là "không".
Tu hành, cần trong ngoài (tâm tư,
hành động) phải nhất trí; không được"khẩu thị tâm phi" (miệng nói
một đằng, tâm nghĩ một nẻo).
Thấy, nghe, cảm, biết, là tác dụng
của Sáu Căn - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tự tánh của mình thì ở
đằng sau sáu căn này. Hằng ngày, tự tánh luôn ở ngay với mình.
Làm thế nào để lòng được an ổn?
Bạn cần phải vô tâm (không có tâm). Tâm (chỉ chân-tánh) vốn không
dựa vào đâu, và cũng không thể tìm nó ở đâu. Song tâm này (chân-tánh)
vốn bao trùm hư không, biến khắp Pháp-giới.
Cái tâm ở hiện tại: không thể nắm
bắt được.
Cái
tâm ở vị lai: cũng không thể nắm bắt được.
Cái
tâm đã qua rồi: cũng không sao nắm bắt được.
Khi nổi phiền não, khi lòng tức
giận, bạn chớ chấp chặt, truy cứu, đeo đuổi chúng, hoặc tìm xem
chúng từ đâu lại. Một khi chấp chặt vào chúng thì lòng bạn sẽ không
thể khai mở; rồi vì thế chẳng thể yên lòng tiến tu được.
Bất cứ việc gì tới, bạn phải nhìn
xuyên thủng chúng, đừng chấp trước vào chúng. Quan trọng nhất vẫn là
cột bốn chữ "A-Di-Ðà-Phật" nơi miệng mình!
Hỏi: Con có đọc sách nói rằng: "Kẻ
đã giác ngộ thì đã đoạn dứt những thứ ác tự mình tạo ra; song y
không đoạn trừ tánh ác." Làm sao để thể hội câu này cho đúng đắn?
Ðáp:
Phải tu phước đức. Thí dụ gặp kẻ không có cơm ăn, thì mình cho người
ấy chút cơm ăn. Phải luôn tìm cách giúp đỡ người hoạn nạn, khốn khổ;
như vậy mới là phước huệ đều tu (tức là đoạn dứt mọi thứ ác bằng
cách tăng trưởng việc thiện). Và do đó, mình sẽ không còn làm việc
ác nữa (nhờ vậy, tánh ác tự nó tiêu tan, tâm không khởi ác niệm nữa).
Chương IV: Pháp Môn Tịnh Ðộ
1. Tây Phương Có
Phật Hiệu A-Di-Ðà
Chúng ta chỉ biết mình do cha mẹ
sanh ra. Song trước khi được cha mẹ sanh ra, mặt mũi mình ra sao?
Sau khi chết đi, mình sẽ về đâu?
Nay
do nghe Phật Pháp, biết có Ðức Phật hiệu A-Di-Ðà là vị đã phát 48
lời nguyện, rằng ai niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ được tiếp dẫn về
Tây Phương. Nếu Phật có nguyện vậy, thì mình cũng phải phát nguyện:
nguyện vãng sanh Cực-Lạc.
Mình
phải tin chắc rằng thật có Thế-Giới Cực-Lạc, có Ðức Phật Ðại Từ Ðại
Bi A-Di-Ðà; rồi phải luôn luôn niệm Phật để đến lúc lâm chung mình
mới có chánh niệm. Khi hấp hối mà có khả năng niệm Phật, thì Ðức
A-Di-Ðà ắt sẽ đến tiếp dẫn. Song le, nếu bạn vẫn còn ý nghĩ lưu
luyến bất kỳ thứ gì, dù nhỏ như đầu kim, ngọn cỏ ở cõi Ta-Bà này,
bạn sẽ lại rớt vào vòng luân hồi!
Cái nghiệp của Phật, Bồ-tát chính
là lòng lo lắng cho chúng sanh của các Ngài.
Khi cõi Ta-Bà còn chúng sanh, thì
còn Phật, Bồ-tát. Khi chẳng còn chúng sanh, thì Phật, Bồ-tát cũng
không còn.
Mau mau tu để về Tây Phương, không
thì ở đây khổ lắm! Ở đây bạn thấy nóng nảy, chứ ở Tây Phương thì
thanh tịnh, mát mẻ.
Trần gian đầy dẫy đấu tranh - mình
phải tìm một nơi an lạc như Tây Phương của Ðức Phật A-Di-Ðà.
Mình đã hồ đồ, mê muội lúc đầu
thai. Giờ đây, mình cần phải sáng suốt tìm đường đi lúc chết - con
đường ấy chính là Niệm Phật A-Di-Ðà.
Tứ Sanh (bốn loại chúng sanh được
sinh ra từ trứng, từ thai bào, từ nhiệt độ ẩm thấp, và từ sự biến
hóa) đều ở trong vòng luân hồi, không gián đoạn sanh tử. Nguyên do
là bởi ý niệm tham lam, phiền não, vọng tưởng... khởi lên khi Sáu
Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với Sáu Trần (hình, sắc,
âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp). Do đó Sáu Căn tác hại
lắm.
Ngày
nay, bạn mà có thời gian để tu hành là quý báu, khó được lắm đấy. Ðể
xem bạn có tìm đặng con đường thoát sanh tử hay chăng. Nếu bạn quá
chú trọng, chăm lo cái thân xác này thì bạn chẳng phải tu hành niệm
Phật đâu. Quá chăm sóc cái thân xác này, thì không có cách gì giải
thoát nổi!
Kinh A-Di-Ðà nói tới Phật ở sáu
phương - Ðông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới - đều hiển xuất tướng lưỡi
rộng dài (tức là thuyết Pháp), khiến Pháp-âm trùm khắp ba ngàn cõi
Ðại Thiên Thế-Giới - chủ yếu đều quy nạp về Tây Phương.
Tây Phương ở đâu? Ở trong tâm mình
- khi tâm vô sự, không phiền não, thì đó tức là Tây Phương.
Tuy rằng thân ta hiện sinh ở cõi
Ta-Bà, song nếu mình niệm Phật mà niệm tới lúc tâm tịnh, thì cõi
Phật sẽ tịnh. Nghĩa là khi tâm thanh tịnh, không phiền não, không
vọng tưởng; thì đó là Tịnh-Ðộ - cõi Tịnh-Ðộ ở ngay giữa Ta-Bà - mà
tâm tức là Tây Phương.
Tây Phương Cực-Lạc ở tâm ta. Mình
cần phải niệm Phật cho tới chỗ tâm thanh tịnh; niệm một cách đầy chú
ý, tập trung. Khi niệm Phật, bạn cần phải phát nguyện vãng sanh Tây
Phương, rời bỏ trần gian khổ lụy. Chớ nên quá yêu quý, nâng niu cái
thân xác thịt này.
Mỗi thế giới cũng như mỗi hạt cát,
trong đó có hằng hà sa số chúng sanh mà ai ai cũng có thể sinh về
Tây Phương được cả.
Hễ mình niệm Phật thì hoa sen (ở
Tây Phương ) sẽ nở ra. Do đó nói: "Tâm khai (niệm Phật) thì hoa nở."
Niệm Phật thì mới khiến ta thật sự
thanh tịnh. Niệm Phật là con đường dẫn tới Tây Phương. Hễ niệm Phật
thì mình sẽ tới đặng Tây Phương mà chẳng cần phải mua vé tàu, ngồi
phi cơ; bởi thuyền Pháp thì không có sắc tướng.
2. Niệm Phật
Niệm Phật, tụng kinh, xem Kinh và
nói chuyện là bốn việc mà bạn chắc chắn làm hằng ngày. Tốt nhất là
ít nói chuyện. Thời gian tụng Kinh và xem kinh sách không nên nhiều
hơn thời gian niệm Phật là tốt nhất. Niệm Phật vẫn là chủ chốt.
Xem kinh sách không cần phải quá
nhiều. Phàm gặp việc gì, cứ một câu "A-Di-Ðà Phật" là được. Ðể tránh
chuyện thị phi, cứ một câu "A-Di-Ðà Phật".
Bạn
hãy yên lặng, lắng lòng mà niệm Phật; niệm tới lúc ngủ thiếp luôn
càng tốt. Khi tâm tới chỗ chuyên nhất - chỉ một niệm - thì bạn có
thể siêu xuất Tam Giới, thẳng tới Tây Phương. Khi tu hành, bạn cần
phải tập: mắt nhìn mà giả lờ như không thấy, tai nghe mà giả đò như
không biết; chỉ thành thật niệm Phật.
Không cần phải xem nhiều sách vở,
chỉ cần niệm Phật cho nhiều. Khi trí huệ khai mở, tất cả Kinh Tạng
tự nhiên sẽ ở tại tâm bạn.
Ði, đứng, nằm, ngồi, đều nên ở
trong phạm vi niệm Phật.
Khi
định tâm lại niệm, bạn sẽ giác ngộ rằng chúng ta từ sáng tới tối,
tâm luôn nhắm mắt ra bên ngoài mà không bao giờ quán xét xem tâm
mình có hướng về Phật A-Di-Ðà chăng. Ðừng để cho tâm bạn bị cột vào
đám tín đồ, đệ tử, hoặc cảnh giới bên ngoài. Nếu bạn cột vào chúng
thì sẽ bị chúng xoay chuyển, lôi đi mất; đáng sợ lắm!
Hiện tại các bạn không đủ chánh
niệm, mười phần không được một; do đó thật là nguy hiểm. Khi bạn
niệm Phật nhiều thì đó là Thiền sống.
Có kẻ
nói là bế quan, song họ đầy dẫy vọng tưởng, đầu não không chút thanh
tịnh. Khi bạn ngồi tịnh tọa lâu, thấy mệt thì nên đứng dậy đi rảo.
Khi
bạn niệm Phật mà rời được cảnh giới thì đó tức là Thiền. Bạn phải
duy trì chánh niệm, bởi vì trong tâm bạn luôn còn rất nhiều chủng tử
xấu xa.
Khi niệm Phật mà không có chánh
niệm thì lòng bạn luôn nghĩ này nghĩ nọ. Miệng niệm mà tâm hướng
ngoại. Nếu bạn thật sự muốn, thì bạn mới làm cho tâm bạn chuyên nhất
đặng. Nếu bạn không có lòng muốn tu, thì làm sao niệm Phật (cho
thành công)?
Niệm Phật mà rời xa được ngoại
cảnh, cùng Phật tương ưng, thì mới biết tâm này và Phật giống nhau.
Việc quan trọng nhất khi niệm Phật
là phải nghe tiếng niệm cho rõ ràng.
Niệm Phật tức là vào Trung-Ðạo?
không có tốt, không có xấu.
Tuy
niệm Phật cũng là một chuyện huyễn hóa, song nó thuộc về chánh niệm.
Do đó, mình dùng huyễn (niệm Phật) để diệt huyễn (vọng tưởng).
Hỏi: Niệm làm sao mới chuyên nhất?
Ðáp:
Ðây cũng là chấp trước. Chỉ cần bạn đừng để ý gì tới vọng tưởng là
được (thì tâm sẽ chuyên nhất). Bởi vì mình tự nhủ lòng rằng: "Ðừng
khởi vọng tưởng"; song vọng tưởng vẫn cứ tự dấy khởi. Do đó, hễ để ý
tới vọng tưởng thì mình lại sanh thêm một vọng niệm; càng để ý tới
nó thì nó càng tăng!
Khi vọng niệm nổi lên, bạn đừng sợ.
Hãy mặc kệ, đừng chú ý tới nó là xong. Cứ một lòng niệm "A-Di-Ðà
Phật". Vọng niệm vốn không có thực thể, từ từ nó sẽ tan biến mất.
Hễ nhớ tới niệm Phật thì niệm ngay;
không nên chấp trước rằng tôi phải làm thế này thế kia. Niệm Phật là
tuy niệm mà không (chấp trước vào) niệm.
Niệm Phật mà còn thấy rằng mình
đang niệm hay không niệm, thì đều là chấp trước.
Niệm Phật thì phải tùy duyên. Phàm
làm chuyện gì, ở đâu, lúc nào cũng nên tùy hoàn cảnh mà niệm Phật.
Không phải nói rằng: "Tôi cần niệm bao nhiêu, bao nhiêu hồng danh",
hoặc "Tôi đang niệm Phật, không thể làm việc được", hoặc "Tôi đang
bận rộn, chưa đi niệm Phật được... "
Mỗi
tâm niệm, mỗi ý nghĩ, bạn chớ xa rời cảnh giới Phật. Ði, đứng, nằm,
ngồi - nhất cử nhất động, làm gì bạn cũng cứ niệm Phật. Khóc cũng
niệm Phật; cất chân một bước cũng niệm Phật. Sức mạnh của việc niệm
Phật vĩ đại vô song, có thể khiến bạn đắc Niệm Phật Tam-Muội - một
thứ Ðịnh không phải tầm thường.
Khi
sinh ra, mình đã mang theo trong người đầy dẫy nghiệp chướng. Do đó,
chớ tạo thêm nghiệp mới để chết rồi lại mang đi; chẳng lợi ích chút
nào cả!
Hỏi: Niệm đức Phật hay Bồ-tát nào
thì tốt nhất?
Ðáp:
Tất cả mọi đức Phật và Bồ-tát đều tốt như nhau. Không phải niệm vị
này thì tốt hơn niệm vị kia: đó đều là do bạn phân biệt, so sánh mà
ra. Chư Phật, Bồ-tát cũng không nhất định cần bạn niệm tên các Ngài
nữa.
Niệm Phật tới chỗ tâm định, thì
tức là Thiền. Nên nói:
"Vừa Thiền, vừa Tịnh-Ðộ,
Mười người tu, mười người thành.
Có Thiền, không có Tịnh-Ðộ,
Mười người tu, chín kẻ lạc
đường!"
Vừa
tịnh tọa vừa niệm Phật, thì tương đối không đi lầm đường hoặc xảy ra
nguy hại.
Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham
thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra.
Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy
đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi!
Nếu
bạn biết dọn lòng trong sạch niệm Phật, thì khi lâm chung sẽ có hoa
sen, Phật, Bồ-tát và cảnh giới thù thắng hiện ra. Do đó, lúc còn
sống bạn cần phải tu để trừ cho sạch hết những ham muốn trần tục.
Khai-thị lúc Phật-thất:
Mục-đích đả Phật-thất là để độ chúng sanh vãng sinh Thế-giới Cực-Lạc.
Cõi
Ta-Bà thì có sinh có diệt; cõi Tây Phương thì bất sinh bất diệt.
Mình đi xuất ngoại thì cần tiền mua vé máy bay, chớ tới Tây Phương
thì chỉ cần niệm Phật đến độ chuyên nhất, không còn sắc tướng (chấp
trước). Ðó chính là "bất sinh bất diệt" vậy. Phải niệm Phật thì mới
có chỗ để mình ký thác thân mạng này.
Niệm
Phật thì phải niệm niệm không xa rời Phật. Niệm cho rõ ràng, nghe
cho phân minh, mỗi chữ mỗi chữ đều phải rõ. Tâm nhớ tưởng, tai lắng
nghe, miệng thầm niệm - cứ thế mà nhiếp tâm chuyên chú nơi Phật hiệu.
Hãy buông bỏ mọi chuyện bên ngoài; cứ nương theo tiếng niệm thì tâm
sẽ tập trung, chuyên nhất. Bất kể là "người niệm" hay "tiếng niệm",
bất kể là "tôi niệm" hay "bạn niệm"; đại-chúng ai cũng nương theo
tiếng niệm Phật thì tâm sẽ chuyên nhất. Tây Phương Cực-Lạc lại cũng
dựa theo tiếng niệm Phật này.
Khi
đả Phật-thất, bạn chớ để cho ý niệm trần tục lôi kéo tâm mình. Nếu
không chuyên tâm, thật uổng cơ hội quý báu này.
Do
vậy, hãy một lòng một dạ niệm Phật, chuyên chú vào tiếng niệm.
3. Niệm Phật Có
Thể Thấy Phật Không?
Hỏi: Phải chăng niệm Phật thì có
thể thấy Phật?
Ðáp:
Không thể có!
Hỏi: Nếu vậy trong chương
Ðại-Thế-Chí Niệm Phật Viên-Thông có câu:
"Nếu ai nhớ Phật, niệm Phật,
thì bây giờ hoặc mai sau nhất định
thấy Phật;
Chẳng cần phương tiện gì cả, tự
mình lòng dạ mở khai." là ý gì?
Ðáp:
Ðúng! Lòng dạ mở khai tức là thấy Phật, thấy đặng vị Phật của
tự-tánh.
Chư Phật và Bồ-tát đều có nguyện
lực mà ta có thể dựa vào đó để tu hành. Vì thế, lúc đi, đứng, nằm,
ngồi, bạn chớ rời tiếng niệm Phật. Khi niệm Phật thì mình mới tương
ưng với Phật; đây là cảnh giới không có hình hài, sắc tướng gì cả.
Ðừng
nên chấp trước, tự hỏi tại sao Ðức A-Di-Ðà không hiện hình ra tiếp
dẫn!
4. Thầy Quảng-Hóa Tới
Tham Phỏng
Coi thầy công phu hành trì trình
độ tới đâu, (tôi nói để thầy nghe) chớ khi lâm chung thầy cần không
vương vấn, quái ngại bất kỳ việc gì thì mới vãng sanh được.
Nếu
thầy còn tham vọng muốn độ chúng sanh, thì tham muốn ấy cũng là một
thứ chấp trước, một thứ quái ngại!
Hòa-Thượng hỏi: Tây Phương ở đâu?
Thầy
Quảng-Hóa đáp: Nói theo phương vị, thì nó ở phương Tây; nói theo
thực tướng, thì nó ở tại lòng mình.
Hòa-Thượng nói: Hễ có Phật có
Bồ-tát, thì có Tịnh-Ðộ. Thầy phải giảng dạy sao cho người nghe có
chỗ nương tựa để tu hành.
Ðức
Phật dạy rằng nếu người nào trong một ngày, hai ngày..., cho tới bảy
ngày mà có thể niệm Phật đến chỗ "nhất tâm bất loạn", thì Phật
(A-Di-Ðà) sẽ đến tiếp dẫn. Song, nếu không ăn không ngủ thì chẳng
cần tới bảy ngày, chỉ bốn hay năm ngày là đủ rồi!
Thầy Quảng-Hóa nói: Có lần tôi
chứng kiến Ðức Quán-Âm hiện ra với tướng mạo trang nghiêm đẹp đẽ; cả
chuỗi anh lạc của Ngài cũng tuyệt đẹp.
Hòa-Thượng cười, nói rằng: Thật sao? Ở đâu mà có Bồ-tát như thế?
Khi thầy độ chúng sanh, thầy cần
phát nguyện rồi theo đó mà thực hành, như Ðức Quán-Âm, Phổ-Hiền vậy.
Song, đến khi lâm chung, thầy phải buông bỏ hết mọi thứ. Nếu nguyện
của thầy chưa làm xong, thì thầy sanh trở lại đây để tiếp tục độ
sinh; công đức này càng thù thắng, vĩ đại. Nguyện là thứ thầy ghi
tạc ở trong lòng.
Phật và Bồ-tát tuy đã thị hiện
nhập Niết-Bàn, song thật sự các Ngài vẫn còn quanh quẩn, không rời
những kẻ đang tu hành như chúng ta; có điều các Ngài không hiện ra
thôi.
Chỉ
cần Kinh, Luật, Luận tồn tại, chư Phật, Bồ-tát có thể dạy mình.
Ðừng
cho rằng không có ai truyền thọ, rồi không còn (Phật Pháp) gì nữa.
Khi lâm chung, đừng nên để tâm
muốn thấy hình tướng chư Phật, Bồ-tát.
Cầu
mà không thấy là việc tốt.
Nếu
cầu mà thấy, thì những hình tướng đó không đáng tin cậy đâu.
Phải
không mong cầu gì; chỉ tịnh tâm niệm Phật. Phật, Bồ-tát từ trong
chân tâm thanh tịnh hiện ra thì mới thiệt đúng.
Phải buông bỏ (sự chấp trước vào)
tấm thân thối tha này. Tâm là tâm. Mặc kệ cái thân này biến thành
tròn hay méo, đừng để ý lo lắng, chiều chuộng nó. Chẳng cần nói xa
xôi, hễ có chứng đắc, thâu hoạch được cái gì thì vẫn còn chưa đúng.
(Ý Hòa-Thượng muốn chỉ sự chấp trước của Thầy Quảng-Hóa, rằng Thầy
còn chấp vào sự kiện mình đã chứng kiến Ðức Quán-Âm hiện thân).
Trong cái này (Hòa-Thượng chỉ vào
tâm Ngài), chẳng có vật gì cả. Các vị đó (Hòa-Thượng chỉ nhóm cư-sĩ
tại gia đang ngồi nghe giảng) thì vẫn còn đủ thứ.
Hiện
tại, các bạn đêm ngủ nằm mộng mà sáng ngày ra cũng là ở trong mộng.
Các
bạn hệt như đang đóng phim vậy; cuốn phim này dài lắm - cả đời bạn,
song chẳng khác gì giấc mộng ban đêm!
(Hòa-Thượng
khuyến khích Thầy Quảng-Hóa niệm Phật bằng thực-tướng - hình tướng
chân thật thì không hình hài, không sanh diệt; tức là chân tâm? chứ
đừng niệm Phật bằng sự-tướng - còn chấp trước vào hình hài, sắc
tướng, công việc trần gian thế sự ).
Ngày hôm nay tôi nói bấy nhiêu
thôi. Kẻ xuất gia thì sẽ lãnh hội được phần nào, chứ người đời thì
không có ai hiểu.
Xưa
kia cổ nhân chỉ nói một câu là đủ, hôm nay tôi nói quá nhiều! Chờ
khi về rồi, các bạn từ từ lãnh hội thì sẽ giác ngộ, thấu suốt hết.
Chương V: Việc Làm Ba-La-Mật
1. Thẳng Thắn
Làm việc thế nào mới tốt?
Mọi
người cần cùng nhau chung sức làm. Không phải bạn nói ngoài miệng,
sai khiến kẻ khác làm; đó là thái độ cần tránh. Hãy từ tốn, ôn hòa
giải thích cặn kẽ công việc, cách làm, cho người nghe hiểu rõ ràng.
Ví như giải thích việc trồng hoa mà y không hiểu, bạn hãy làm cho y
thấy; nếu không vậy thì công việc sẽ không thông suốt, cả bạn và y
đều sanh phiền não.
Khi sư-huynh, sư-đệ làm việc chung,
hay khi phân phối công tác, các bạn phải dựa vào tinh thần Phật Pháp
mà làm--phải lịch sự, lễ độ.
Ðừng
nên lớn tiếng ra lệnh, sai cái này, chỉ cái nọ... như là cha sai
con, chủ sai tớ; đó là cách thế tục, không tốt!
Ðừng sợ mích lòng kẻ khác.
Bạn
làm quản lý thì phải ráng làm cho tốt. Hễ điều gì cần nói thì phải
nói; chớ vì tình cảm riêng tư (việc cần nói mà không nói), để tránh
mắc cái lỗi trồng nhân sai lầm.
Làm quản lý không phải dễ. Do đó
hễ Thầy Quản-lý giao phó bạn chuyện gì--bất kể tốt, xấu--bạn hãy vui
vẻ tiếp nhận, đừng nổi nóng. Như vậy, đầu óc mới sáng suốt.
Ðiều
tốt thì lượm về học, điều xấu thì vất một bên. Trong lòng thấu suốt
rõ ràng là đủ. Cứ theo đây để tu hạnh Nhẫn-nhục Ba-la-mật.
Khi tu hành, bạn đừng hỏi "đúng"
hay "sai", cũng đừng quan tâm "có lý" hay "vô lý." Ðó là điểm khác
biệt giữa người xuất gia và tại gia.
Các
bạn hãy nỗ lực tu hành. Có vấn đề khó khăn thì hỏi Sư-Phụ, tôi sẽ
giải đáp cho.
Thầy Quản-lý nói bạn làm sao, bạn
cứ làm vậy. Với thái độ này, đầu óc bạn sẽ không nghĩ ngợi lăng xăng;
và như thế, sẽ dễ dàng tu hành.
Nếu Thầy Quản-lý nói bạn làm việc
mà Thầy lại làm sai, thì bạn chớ tranh cãi, cứ thuận theo ý Thầy mà
làm; tự nhiên bạn sẽ thể hội được chân lý chuyện này.
Việc gì không rành rẽ, bạn nên hỏi
Sư-Phụ hay sư-huynh.
Ðừng
vì sợ mất mặt, rồi tự mình đặt bày làm càn.
Mục đích bạn làm việc là để tiêu
trừ nghiệp chướng của chính mình, không phải làm cho kẻ khác. Khi
nhiều người làm chung, hễ ai không biết, bạn hãy chỉ bảo cho người
ấy. Nếu y làm không giỏi, bạn hãy tận tình giúp đỡ y.
Ðừng
nên phân chia ranh giới giữa mình và người quá rõ rệt (đây là việc "của
tôi", kia là việc "của anh"). Hễ người nào không làm, bạn chớ nổi
nóng, bực dọc, mà nên vui vẻ làm thay cho người ấy. Hãy luôn luôn có
lòng từ bi (độ lượng, biết tha thứ)!
Khi làm việc gì, bạn chớ tính toán
lợi hại riêng tư.
Hễ
thấy việc gì làm chưa xong chưa tốt, bạn hãy tới làm. Ðừng nói gì
tới kẻ khác (chỉ trích, cật vấn sao anh không chịu làm...), vì công
đức của việc làm là thuộc về bạn. Nếu bạn cứ nói tới người khác thì
chỉ tạo thêm khẩu nghiệp.
Làm
việc là cách để mình tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình, chứ
không phải làm giùm ai khác.
Làm việc gì mình cũng sẵn lòng
tình nguyện (không phải bị bắt buộc mới chịu làm), thì trí huệ sẽ
phát triển.
Việc làm công quả ở chùa hoàn toàn
"vô điều kiện" (không ai bắt ép, không ai yêu cầu, bạn muốn thì tình
nguyện làm); do đó, khi đã làm bạn chớ oán than, trách móc.
Việc của mình thì mình cố gắng làm;
đừng sai kẻ khác, khiến họ bực dọc. Làm cho người ta bực bội, khó
chịu, thì mình sẽ không có công đức gì cả. Trường hợp người ta tự ý
đặc biệt tới giúp mình thì khác.
Ðừng chấp trước gì cả, chuyện gì
cũng tùy duyên.
Khi
có Thầy hay sư-huynh lại giúp bạn, nếu bạn cảm thấy e ngại, sợ rằng
tổn phước, hoặc nghĩ là không xứng đáng để người ta giúp đỡ, hoặc
bạn sợ để người ta giúp mình thì họ sẽ hưởng hết phước đức; những ý
tưởng như thế đều là chấp trước.
Muốn
kẻ khác có phước, trước hết, mình phải có phước thì mới nhường cho
họ được chứ!
Thầy Quản-lý vì có lòng quan tâm
lo lắng cho mình, nên Thầy mới quở trách mình, vạch rõ lỗi làm của
mình cho mình biết.
Thầy
ấy chính là bậc Thiện-tri-thức--người chỉ đường tu.
Ðừng
vì bị mắng một tiếng mà liền khó chịu, bực dọc, sinh phiền não.
Bạn hãy luôn vui vẻ tiếp nhận lời
chỉ bảo, khuyên lơn, khuyến khích (hay phê bình, chỉ trích) của
người khác. Ðừng bao giờ phản kháng, ương ngạnh, bất phục; rồi kết
đảng phân phái, kình chống, thù hằn nhau.
Ví dụ bạn lau chùi bàn ghế, Sư-Phụ
nói bạn hãy lau chùi lại lần nữa, bạn có thể nghĩ rằng: "Tôi đã chùi
sạch như vầy rồi, sao Thầy còn bắc tôi chùi lại nữa?" Ðó là thứ suy
tư của người đời, thế tục.
Tu
hành thì bạn cần có tâm thẳng thắn: "Dạ! Con sẽ lau lại ngay!" Ðây
cũng là một thứ thử thách lòng bạn, xem bạn có tu tâm hay không. Do
đó, tu hành quý ở trực tâm--tâm thẳng thắn. Ðây chính là cách làm
việc của người xuất gia.
Nếu bạn biết làm việc, thì đi đâu
bạn cũng tự tại.
Hãy tận tình với trách nhiệm.
Nếu cứ ăn no rồi làm biếng, không
tròn bổn phận, thì khi phước báo cạn hết, nghiệp chướng ập tới, tự
nhiên bạn sẽ không thể ở chùa nổi (tức là phải hoàn tục)!
2. Nhẫn Nại
Làm việc lao tác là để rèn luyện
chính mình. Do đó, chỉ cần bạn làm, là biết bạn như thế nào. Khi làm
việc mà bạn biết bạn như thế nào. Khi làm việc mà bạn chuyên tâm,
thì đến lúc học Phật, niệm Phật, bạn cũng chuyên tâm; bạn sẽ tự thấy
thấu suốt. Ví như khi quét dọn, ở đâu chưa sạch, dù là còn chút xíu
bụi, bạn cũng tự biết, chẳng cần ai nói ra. Nhờ tánh chuyên tâm chú
ý, nên bất kỳ việc gì, chỉ cần nghe qua một lần là bạn tự biết cách
làm, và làm tốt.
Làm việc lao tác, bạn cần biết
nhẫn nại.
Ví
như khi quét dọn lau chùi, bạn làm thật sạch sẽ; thì đó cũng giống
như bạn đã lau chùi tâm mình sạch sẽ, thanh tịnh vậy.
Hãy
vừa làm vừa niệm Phật, không nên lơ là, phóng dật.
Ðừng
để ý thức, tâm tư, chạy lăng xăng thì thân, miệng, ý mới thanh tịnh.
Khi làm gì, bạn hãy cẩn thận làm
cho chu đáo, hoàn hảo việc ấy. Ðừng nên tham lam, việc gì cũng làm,
rồi kết quả là không việc nào xong cả!
Việc gì cũng phải nhẫn nại; niệm
Phật cũng thế. Cứ từ từ tu thì tâm sẽ hết phiền não; sau này sẽ
không khác gì Ðức Phật A-Di-Ðà; vô cùng tự tại!
Làm gì cũng chớ có lòng chấp trước,
cố chấp.
Có lúc gặp phải chuyện gì đó, mình
muốn làm cho thật hoàn mỹ, thật lý tưởng; rồi quên bẵng người khác,
không để ý tới họ. Ðó là mình quá chấp trước vào công việc, quá truy
cầu (thành công).
Mỗi ngày làm việc gì, hãy làm cho
rõ ràng, với tâm lúc nào cũng hướng về Phật, cũng trên đường Ðạo.
Như vậy thì quét rác bạn cũng có thể ngộ Ðạo, vì tâm bạn lúc ấy
chính là đang quét bụi bặm vô minh!
Các bạn làm việc biên chép sổ sách
giấy tờ (tại văn phòng của chùa) thì kết được thiện-duyên rất lớn
với chúng sanh; khác hẳn với người đời khi họ cũng làm việc ở văn
phòng hay công sở. Công đức của bạn cũng bằng với công đức tụng
công-phu buổi chiều vậy; cho nên bạn chớ so sánh rồi sanh lòng bực
bội, phiền não.
Ðừng nên chấp trước vào hình sắc,
tướng trạng; cũng đừng câu nệ chuyện ăn mặc, không vừa ý cái này,
chẳng ưng ý cái kia. Nếu không, rốt cuộc bạn đã chẳng làm được việc
gì giúp chùa mà lại còn bị áo quần, ăn mặc lôi cuốn.
Mình cần xả thân làm bất kỳ việc
gì cho chùa.
Nếu
quá lo lắng gìn giữ cái thân này, thì khó mà tu phước đặng; ngược
lại, còn bị cái "túi da" thối tha này lừa mình nữa.
Cứ theo lời tôi mà tu hành; vừa
làm vừa niệm Phật.
Trừ
hết chấp ngã và chấp pháp, thì trí huệ mới khai mở. Trí huệ thì
không có sắc tướng gì cả, không thể sờ mó, cầm nắm nó đặng. Song,
nếu trí huệ khai mở, tuy mình không biết, nhưng hễ gặp việc gì, nhìn
qua là mình thấu triệt, biết phải làm gì ngay. Ðó là trí huệ thật
vậy!
Việc niệm Phật phải được phối hợp
với việc làm. Niệm Phật cho đến lúc tâm yên tĩnh, thì lúc ấy chính
là tự tánh mình niệm, tức là nhất tâm rồi đó. Khi làm việc, cũng cứ
niệm Phật; mà kẻ khác thì không biết là mình đang niệm. Cứ chuyên
tâm làm việc, đừng khởi vọng tưởng hay nghĩ ngợi gì khác, thì đó mới
là nhất tâm, cũng là tâm Phật, hợp với Phật Ðạo vậy.
Chỉ
khi có chánh niệm thì điều gì mình biểu hiện hay làm ra mới mang
tánh cách từ bi; quan điểm mình có cũng tự nhiên là chín chắn, đúng
đắn. Ðây cũng là tâm Phật vậy.
3. Khéo Léo
Hỏi: Sư-phụ nói rằng chúng con
không nên chấp trước. Nhưng nếu không chấp trước, thì công việc làm
sao làm tốt đặng?
Ðáp:
"Không chấp trước vào công việc" không có nghĩa là chểnh mãng, lơ là,
thiếu trách nhiệm, bê bối, cẩu thả; cũng không phải là làm thục mạng,
cắm đầu cắm cổ làm quá trớn; mà nghĩa là làm việc gì xong rồi thì
coi như không có gì xảy ra cả.
Khi
lòng bạn còn để ý, còn quái ngại, lo nghĩ về công việc, không buông
xả được; thì đó là chấp trước. Khi làm việc với thái độ không chấp
trước, thì mới làm tốt đặng. Hễ chấp trước, việc làm sẽ không tốt
được; vì chấp trước thì thiếu trí huệ, mà làm việc cũng còn cần phải
có Ðịnh-lực, cần phải có sự tập trung, chuyên chú nữa!
Làm việc gì cũng cần dùng trí óc,
suy tư cho thấu triệt; chứ không phải ai nói sao thì mình cứ y lời
mà làm theo một cách cứng ngắc (câu nệ, không biết uyển chuyển vận
dụng).
Cần
phải có năng lực phán đoán, biện biệt; đừng như con chó ngu dốt,
thấy người ta quăng cục đá, nó không biết là quăng cái gì mà cũng
chạy theo tha về!
Làm gì cũng phải định trước kế
hoạch; chớ có bê bối cẩu thả, làm qua loa lấy lệ rồi thôi!
Phải
xử lý những công việc và những đồ đạc trong chùa thật thích đáng,
viên mãn. Như trồng một khóm cây, nếu bạn không quyết định kịp thời
để trồng cho đúng lúc, thì cây sẽ chết khô; lúc ấy, lỗi lầm là ở bạn.
Bớt dùng trí óc--nhưng không có
nghĩa là đừng suy nghĩ về công việc, mà có nghĩa là việc gì tới tay,
làm xong rồi thì thôi!
Ðừng
nên khởi tâm phân biệt (bàn bạc, khoe khoang, than vãn...), làm sanh
ra đủ chuyện thị phi (tranh chấp, cãi cọ, lý luận...).
Ðối
với công việc thì như vậy; đối với người khác thì cũng lại như thế!
Chương VI: Hạnh Xuất Gia
1. Xuất Gia Ðể Làm Gì?
Ðã xuất gia rồi, bạn phải hiểu ý
nghĩa của việc đi tu. Bạn phải tự chủ; chớ để kẻ khác xỏ mũi lôi đi.
Việc cần nghe thì nghe; việc chẳng đáng nghe, đừng nghe; mỉm cười là
đủ.
Hãy thường nhìn thủng tấm áo nâu
sòng, tự sờ đầu trọc, mà cảnh giác chính mình: "Ta là tăng-sĩ!" Nếu
không làm vậy, đôi khi bạn quên phắt, bất giác để tâm chạy rông,
không còn là tâm của kẻ xuất gia nữa.
Sáng vừa thức dậy, bạn hãy lập tức
sờ đầu mình, tự hỏi: "Vì sao tôi đi tu?"
"Vì
liễu sanh thoát tử, vì chấm dứt luân hồi!"
Tu cho có đức hạnh là điều quan
trọng nhất.
Ở
chùa để làm gì? Chính là để tu đức hạnh, tu cái bản lai diện mục.
Bạn
cứ xem xét những thứ chung quanh Sư-Phụ thì sẽ hiểu ngay. Nghe xong
việc gì, bạn cũng phải cố thể hội, chớ để thoáng qua tai.
Những Tăng, Ni trẻ tuổi thì tình
cảm còn nặng nề lắm. Song, thân đi tu thì đầu óc cũng phải đi tu. Ba
nghiệp thân, miệng, ý của người xuất gia thì hoàn toàn khác hẳn của
kẻ tại giạ Bạn phải biết làm sao để liễu sanh thoát tử. Mục đích
mình tu, điều mà mình đeo đuổi, chính là thoát khỏi vòng sanh tử!
2. Con Ðường
Siêu Thoát Của Người Tu
A. Trước và Sau Khi Thọ
Giới
Chưa hiểu thông Phật Pháp mà đã
thọ Giới, thì rất dễ sanh tâm cống cao, ngã mạn.
Bạn chớ mù mù mờ mờ xuất gia, rồi
mù mù mờ mờ thọ Giới. Thọ Giới là vì cầu sám hối, không phải là lết
cái thây đi, lết cái thây về.
Khi ở
Giới-đàn, bạn hãy ít nói, ít cùng người khác trao đổi (hay phan
duyên). Hễ có thì giờ thì hãy lạy Phật, niệm Phật.
Ở Giới-đàn, người cầu thọ Giới tới
từ mọi nơi, nên luôn luôn đông nghẹt. Phải nhớ rằng, mình đến đây
không phải để thi đua với họ xem ai mặc đẹp hơn, ở tốt hơn, hay ăn
ngon hơn!
Khi đi thọ Giới, nếu bạn chịu khó,
nhẫn nại, thì sẽ nhập Ðạo được.
Phàm
chuyện gì (ở Giới-đàn) cũng rất đơn giản; bạn chớ cùng kẻ khác so
sánh xem ai ăn ngon, ngủ tốt, hoặc chuyện này ra sao, chuyện nọ thế
nào... Thọ Giới là lúc học oai nghi, quy củ; chứ không phải là lúc
bàn luận, nói chuyện thị phi, tạo khẩu nghiệp.
Sau khi đã thọ Giới, bạn phải hoàn
toàn khác biệt so với lúc chưa thọ Giới--lấy Giới làm Thầy, làm thêm
nhiều khổ-hạnh, quét sạch, sửa đổi hết mọi thói hư tật xấu, dứt
tuyệt mọi ý nghĩ xấu ác.
Bạn phải luôn thường tụng Giới;
như vậy mới không có những thứ ái tình yêu đương lăng nhăng.
Có Giới Luật câu thúc, kềm giữ,
thì bạn mới không dễ làm điều sai, chuyện quấy.
Thọ Giới là thọ sự nhẫn nhục. Khi
tai bạn nghe người ta chưởi rủa hay khiêu khích, chọc tức mình, mà
bạn chẳng để tâm vào, thì đó chính là Giới.
"Giới" là giới nội (tự răn chế
mình), chứ không phải là giới ngoại (kềm chế kẻ khác).
Ngay
lúc lòng bạn vừa dấy lên một ý niệm xấu ác, bạn hãy dùng Giới Luật
để ngăn chận nó lại. Ðó gọi là lấy Giới làm Thầy.
Cần phải học thuộc Tỳ-Ni Nhật Dụng
và ứng dụng hằng ngày.
B. Vất Bỏ Danh Lợi
Khi chưa thọ Giới, vì không biết
quy củ, Giới Luật, nên bạn có phạm Giới; đó là không cố ý. Nay đã
thọ Giới; hiểu Giới mà phạm Giới, thì đó là cố ý. Tội này nặng lắm.
Thọ Giới rồi thì phải giữ Giới, hảy y theo Giới Luật mà tu hành.
Thọ Giới không phải là thọ mấy cái
giới-ba (cái dấu đốt trên đầu). Giới là ở tâm. Do đó, khi biết mình
làm điều gì sai quấy, hãy lập tức sám hối. Khi bạn trì Giới đàng
hoàng, thì sẽ không còn tướng (hay quan niệm về) nam nữ nữa.
Thọ Giới rồi thì phải đem Giới ra
thực hành. Không phải thọ Giới xong là lên chức Ðại Ðức, Ðại Pháp-sư.
Giữa người tu với nhau không hề có sự phân chia cao thấp.
Có nhiều kẻ đi thọ Giới lại học
được thêm lòng tham lam. Ðến khi về chùa thì trở nên ham hưởng thụ,
thích ăn ngon, mặc đẹp, ở chỗ tốt; không còn biết gì về dũng mãnh,
tinh tấn nữa.
Trong Giới Luật có dạy rõ quy củ
của mọi việc, đến cả việc của Thầy Chấp-sự. Bạn phải học, đọc cho
thấu đáo, thì mới không dễ phạm sai lầm; và sau này nếu có ra làm
chấp-sự, bạn mới làm việc tốt đặng.
Giới là để răn chính mình; do đó,
cầu sám hối cũng là Giới.
Giữ Giới, nhưng đừng đi tới chỗ
cực đoan, chấp trước. Nếu không, tuy mình có ý giữ Giới mà kết quả
lại là bị Giới đẩy văng đi. Bởi vì, giữ Giới thì không sanh phiền
não (làm cho mình hoặc người khác phiền não, đau khổ) và không xung
đột với kẻ khác.
Khi bạn có tướng mình, tướng người
(phân biệt ranh giới giữa tôi và anh, của tôi và của anh), chắc chắn
bạn sẽ dễ gặp tranh chấp. Tới chùa xuất gia, không phải là để đấu
tranh, cãi vã. Xuất gia thì phải "thống lý đại chúng", hòa hợp với
mọi người; được vậy thì ai cũng tốt.
Tới chùa xuất gia, không phải là
để tranh chấp coi ai đúng ai sai. Thái độ đó rặt là thứ thế tục, lúc
nào cũng chia ra mình và người.
Ðã xuất gia tu hành thì không cạnh
tranh, ganh đua, cũng không cãi vã hơn thua, ít nhiều, đúng sai...;
mấy thứ đó toàn là "mùi" danh lợi.
Khi Hòa-Thượng nói: "Người xuất
gia không được tham danh hám lợi. Vì hễ có lợi tất sẽ có hại, do đó,
không được nuôi dưỡng lòng ham muốn danh lợi"; thì có người hỏi: "Vậy
như hiện nay, danh tiếng của Sư-Phụ vang lừng bốn biển thì sao?"
Hòa-Thượng trả lời: "Ta cũng không hề hay biết gì tới nó, vì chúng
đều là huyễn hóa. Không ai biết gì về mình là hay nhất!"
Người
hỏi gật gù: "Ðó mới chính là công phu chân thật!"
C. Ðiều Cái Tâm Này!
Bây giờ các bạn tuy đã xuất gia,
song các bạn giống như ở tại biển cả mênh mông, tìm không ra lối
thoát vậy.
Người xuất gia cần phải vô sở cầu
(không có mong cầu gì cả) và vô sở trụ (không để cho tâm vướng vào
bất kỳ chuyện gì, việc gì, hay quan niệm, tâm trạng, tình cảm gì).
Bạn phải tu tánh; tức là sửa đổi
tánh nết, thói quen xấu; cũng tức là tu Phật-tánh. Mỗi người, ai
cũng có Phật-tánh thanh tịnh; Phật-tánh này chính là Ðạo.
Bạn nên tùy thuận tánh tình của kẻ
khác (chớ sinh xung đột), hòa hợp với mọi người.
Xuất gia là để trị cái tâm lăng
xăng như khỉ, sửa cái ý chạy rông như ngựa.
Xuất gia thì phải dụng công làm
việc trong mọi thời mọi lúc, phải niệm Phật để điều phục cái tâm.
Người xuất gia nên niệm Phật cho
nhiều, không nhất định là cứ phải ngồi Thiền; bởi vì khi công phu
Thiền chưa chín muồi, bạn dễ bị dính vào ma sự.
Người xuất gia cần phải xả
thân--ai chưởi rủa, hạ nhục, chê bai, dằn vặt, xử tệ..., bạn phải
dửng dưng như không. Phải quét sạch sành sanh mọi quan niệm về tự
ngã (cái "tôi", của "tôi") thì mới tu hành nổi.
Ðã xuất gia rồi, bạn phải dẹp sạch
lòng tham lam ăn uống, ngủ nghỉ, ở sướng; như vậy thì bạn mới tu
đặng phước, huệ. Ðừng như kẻ tại gia; đầy thứ tham luyến. Tăng là
một trong ba viên ngọc (Tam Bảo--Phật, Pháp, Tăng). Do vậy, là Tăng
(Ni), bạn phải tu cho giỏi cho tốt; mà duy chỉ có đạm bạc, đơn sơ
thì mới có thể tu hành Giới, Ðịnh và Huệ.
Chùa là đạo tràng công cộng. Những
Tăng, Ni từ các chùa khác lại, nếu họ giữ được quy luật thì đều có
thể ở lại chùa để tu.
Công hạnh của người xuất gia là tu
ở sắc, thọ, tưởng, hành, thức--năm Ấm; tu để khiến chúng đều "không."
Do đó, hãy mặc áo vải thô, ăn cơm đạm bạc. Ðiều này không có nghĩa
là bạn tuyệt thực, mà nghĩa là ăn đủ no, mặc đủ ấm là tốt rồi; không
được tham lam, đua đòi.
Về chuyện ăn uống; đối với người
xuất gia thì ai cho gì, nấu gì, thì ăn nấy. Không được chấp trước,
kén chọn; không được ham ăn, thích ngon. Ðồ ăn ít một tí, hư thiu
một chút cũng vẫn ăn. Nếu cứ ham ăn, thích ngon, thì nghiệp của bạn
không dễ tiêu trừ đâu. Nếu bạn còn khởi lòng tham ăn, thì luân hồi
thoát không lọt! Kỳ thật, thức ăn gì nếu đem thử nghiệm thì cũng có
thể tìm ra độc tố. Khi đại-chúng ăn thức gì thì bạn ăn thức nấy là
đủ rồi; đừng sinh bực dọc, khó chịu quái ngại đủ chuyện.
Người xuất gia đừng bao giờ sợ
chết. Chết thì về Tây phương, càng tốt chớ sao!
Người
tu cần phải có sức mạnh "biến vạn sự thành vô sự" mới được!
Khoác trên mình tấm cà-sa rồi, bạn
phải tu đến chỗ không còn bị việc gì làm quái ngại, bận tâm. Không
quái ngại, bận tâm về chuyện thế sự; không vướng lòng vào việc nhân
tình... Hết thảy mọi sự, hễ quái ngại là thừa.
3. Tự Ðộ
A. Chùa Thập Phương
Chùa thì ai cũng có thể tới ở để
tu được. Kẻ tới trú phải giữ nội quy do chùa đặt ra. Bạn không được
coi mặt người tốt xấu, rồi tự tiện làm theo ý mình, muốn cho ai trú
thì trú.
Khi có người tới trú ở chùa, bạn
không được có tâm phân biệt, so sánh, chuyên môn kể lể chuyện xấu,
lỗi lầm của người ấy. Làm vậy, bạn sẽ khiến người tu khó tu. Chỉ cần
y tôn trọng, tuân theo nội quy của chùa là đủ rồi.
Ðừng
nên so sánh, phân biệt vị này là đệ tử của ai, vị kia là đệ tử của
ai. Hễ người nào tuân giữ Giới Luật, quy củ, thì đều giống nhau hết.
Ai ai cũng là đệ tử của Phật. Nếu bạn cứ chia ra rành mạch rằng:
"Thầy là kẻ ở ngoài tới, tôi là đệ tử của Sư-phụ ở chùa này..."; thì
bạn chẳng phải là thầy tu!
Là
người xuất gia, bạn chỉ cần tu hành cho đúng với giới Luật. Hễ bạn
tu đàng hoàng thì đi tới đâu bạn cũng được mọi người cung kính, đến
cả Thiên, Long, Bát Bộ cũng ủng hộ, bảo vệ bạn, và chùa ở nơi nào
cũng đều là nhà của bạn!
B. Chỗ Lầm Lẫn
Khi bạn tu hành, nhất định bạn
phải tu ở chùa lớn (đại tùng-lâm). Tu ở những nơi có đại-chúng đông
đúc thì mới có thể rèn luyện thành bậc nhân tài.
Khi tu, cần phải tu ở chùa lớn,
đông chúng. Bởi vì chỉ ở chốn nhiều người bạn mới biết và học được
kinh nghiệm từ những điểm xấu. Những kẻ xấu ác trong chùa đều là
những kẻ chỉ đường để bạn biết mà tu tiến bộ hơn. Ða số các Tổ-sư
đều xuất thân từ chỗ làm bếp, trồng rau, chẻ củi... trong chùa.
Chính những chỗ không ai thèm chú ý tới, không ai giành làm, mới là
nơi để bạn tu hành!
Khi bạn tu ở chùa lớn, hãy chịu
kham khổ về chuyện ăn, ở, mặc. Mắt bạn hãy làm như chẳng thấy gì,
tai bạn làm như không nghe gì, giống hệt tên khờ. Cứ vậy mà tu thì
Ðức Hộ Pháp Vi-Ðà chắc chắn sẽ bảo vệ bạn. Sau này khi bạn đi đến
đâu, ai thấy cũng kính trọng bạn như Phật vậy. Bấy giờ, bạn muốn xây
chùa thì lập tức sẽ có kẻ ủng hộ ngay.
Ngày nay chúng ta đã có một ngôi
chùa tốt, một đạo-tràng lý tưởng để tu hành; bạn chớ có vọng tưởng,
tính toán coi ở chỗ nào còn có chùa tốt hơn.
Khi
lòng bạn không an định thì không cách gì bạn có thể tu hành được!
Hỏi: Tôi muốn rời chùa này tới
chùa khác tu, hiện nay có ba chỗ; không biết ý Hòa-thượng thì chỗ
nào có nhân duyên với tôi?
Ðáp:
Bạn ra đi là vì tâm bạn không an ổn hay là vì chùa không an ổn?
Nếu
tâm bạn không an thì dù bạn có chạy tới Tây Phương, bạn vẫn không an
tâm.
Khi
tâm bạn lăng xăng, bứt rứt, chạy rông, mà bạn chuyển nó ngay tức
thời, thì tâm sẽ an định. Do đó, giữ Giới Luật là việc cực kỳ quan
trọng. Hễ bạn giữ Giới thanh tịnh thì tâm sẽ thanh tịnh. Khi tâm bạn
không an ổn, nhìn việc gì bạn cũng có ngã-tướng (chấp chặt vào quan
niệm về mình và của mình); do đó bạn phải nhìn mỗi một sự việc đều
không phải là ta, và cũng không phải là của ta.
Muốn
tới Tây Phương, bạn phải tu tới chỗ tâm không còn loạn, tức là vọng
tưởng không ùn ùn nổi lên nữa. Khi đối diện với bất kỳ chuyện gì,
lòng bạn cũng chỉ có một niệm thanh tịnh, thì đó chính là Tây Phương.
Tâm
không an, thì vọng tưởng cứ lăng xăng mãi. Do vậy, bạn phải lấy tâm
để an tâm; nếu không vậy thì làm sao "an"? Khi tâm bạn muốn chạy
rông, hảy tự hỏi rằng nó muốn chạy đi đâu.
C. Thăm Viếng Học Hỏi
Ở Ðài-loan không có chỗ nào để
thăm viếng học hỏi, nên bạn hãy tự mình nghiên cứu chính mình là đủ.
Ðừng nên bồn chồn, bứt rứt, nóng
nảy.
Thiện-tri-thức ở đâu? Ở lòng mình!
Khi lúa chín, đầu bông lúa nặng
trĩu nên cong oằn xuống; khi lúa chưa chín thì đầu ngọn đứng thẳng
vút. (Kẻ hiểu Ðạo, tu hành thành thục, thì hạ thấp mình xuống; còn
kẻ mới tu Ðạo thì lúc nào cũng tự cao, không biết uốn mình.) Ðối với
người tu không tốt, bạn cũng phải tham phỏng học hỏi; bởi kẻ tu xuất
sắc thì hiếm khi tìm thấy, mà e rằng bạn cũng nhìn không thấu chỗ
xuất sắc của người ta là ở đâu. Do đó, đi thăm viếng học hỏi kẻ xấu
cũng đúng; bởi vì thấy được điểm xấu, điều lỗi lầm của họ, bạn hãy
dùng nó để tự cảnh giác, thức tỉnh chính mình; tự hỏi mình có lỗi
làm tương tự hay chăng, và tránh phạm lỗi ấy.
Tham phỏng học hỏi là phải nghiên
cứu điểm xấu, điểm hư của người ta. Họ phạm lỗi ấy ư? Mình phải tu
sao để đừng phạm nó! Họ không tu đúng Giới Pháp; mình phải tu sao
cho đúng Giới Pháp!
Bạn xuất gia là vì mục đích tu
hành, do đó đừng nên ra ngoài học thêm pháp thế gian. Những điều ở
trường Phật-Học-Viện dạy chưa chắc hoàn toàn là Phật Pháp, Phật-học,
vì luôn bị xen tạp bởi những môn như Xã-hội học, Kinh-tế học, v.v...
Nếu bạn cứ ở gần những môi trường như vậy, lâu dần thì tâm bạn sẽ
không cách gì thoát ly nổi thế tục.
Khi các bạn đến với đạo Phật, cạo
đầu đi tu, hãy xem bạn có thể liễu sanh thoát tử hay không; đó là
điều bạn chẳng thể không hiểu. Như đã đi tu lại còn muốn đi học kiếm
bằng cấp, thêm kiến thức; thử hỏi ở trường học có ai dạy bạn mặc áo
thô, ăn cơm đạm, buông xả để tu hành chăng?
Nhiều Tăng-sĩ đã xuất gia rồi, lại
đi học ở Phật-Học-Viện. Sau khi tốt nghiệp, họ chỉ tăng trưởng lòng
ngã mạn, tự cao tự đại, cứ muốn làm Trụ-trì. Song, họ nhờ vào đâu để
"thống lý đại chúng", khiến mọi người hòa hợp, vui vẻ tu hành? Họ
không làm sao có năng lực để cảm hóa tha nhân; cũng không ai chịu
nổi họ!
Do đó,
bậc Tăng-sĩ phải thiết thực tu hành khổ-hạnh, niệm Phật cho nhiều,
phước huệ song tu.
D. Quan Hệ Giữa Kẻ Ðồng Tu
Làm thân đồ đệ, nếu bạn biết Thầy
của mình có lỗi lầm gì, dù lớn đến đâu, bạn cũng chớ nói với kẻ khác.
Bởi, nếu bạn làm như vậy, thì đó cũng là một hành động lỗi lầm!
Sau
khi nghe kẻ khác nói về lỗi lầm của vị Thầy của y, bạn đem những
điều đã nghe ấy kể lể với mọi người, thì bao nhiêu tội của y đều quy
vào thân bạn. Bởi vì đó là phạm lỗi nói điều xấu của các vị đồng tu.
Ðối với các huynh đệ đồng tu trong
chùa, bạn không có gì phải sợ sệt cả. Hãy tôn trọng, cung kính lẫn
nhau.
Khi
muốn nhờ ai làm việc gì, bạn đừng dùng thái độ ra lệnh (như lớn
tiếng, ra oai, nói cộc lốc), sai khiến họ giống như cha sai con, chủ
sai tớ; bởi đó là thái độ của kẻ thế tục.
Mình
là người tu Ðạo, thì phải lấy Phật Pháp làm mô phạm (tức là dùng lời
nói nhỏ nhẹ, từ tốn, cung kính yêu cầu họ làm việc).
Khi anh em huynh đệ ngồi với nhau,
các bạn nên đàm luận về Phật Pháp. Ðừng bàn tới mọi đề tài khác để
tránh loạn tâm. Ðừng nên tham gia tán gẫu, nói những chuyện vô
nghĩa, phí thì giờ.
Khi trong huynh đệ có người nói
chuyện về Phật Pháp, thì đừng nên xen chuyện thế tục vào. Nếu không,
càng nói càng lạc để xa lắc. Hơn nữa, khi đã nói chuyện thế tục, thế
nào bạn cũng đề cập tới chuyện ăn uống, thức này ngon, thức kia dở
v.v...
Hai chúng Tăng và Ni phải phân ra
ranh giới cho rõ ràng. Các vị sống tới trăm tuổi cũng phải phân rành
mạch như vậy. Trừ phi bạn đã khai ngộ, chứng quả, có được Ðịnh-lực
sâu dày; bằng không, bạn sẽ rất dễ phạm lỗi lầm, gây ra đủ vấn đề
phức tạp.
Khi Tăng và Ni nói chuyện với nhau,
các vị không được mặt đối mặt, mắt ngó mắt. Khi Tăng và Ni cần trao
đổi, đưa vật gì, thì hai bên cũng không được chạm tay nhau.
Sư-Phụ tu có Ðịnh-lực; bằng không, Ta cũng không thể để mấy cô tới
gần trong tầm một trăm bước nữa. Các vị bây giờ chưa có được một
phần mười chánh niệm; do đó, các vị vẫn còn ở trong vòng rất nguy
hiểm, nên cần phải chú ý cho kỹ.
E. Nhẫn Nhục
Thọ Giới tức là nhẫn nhục. Nếu bạn
có thể nhẫn nhục chịu đựng hết mọi sự, thì bạn sẽ khó mà phạm Giới.
Bạn phải tu nhẫn nhịn vì nhẫn là
gốc của việc tu. Nếu không biết nhịn nhục thì chỉ uổng cho bộ áo nhà
tu đang khoác trên mình. Bạn chớ luôn cho rằng hễ việc gì mình làm
là đúng (kẻ khác là sai); thái độ ấy sẽ làm cho bạn khó tu tâm.
Dựa theo lòng nhẫn nại mà tu hành
thì mới là tu căn bản. Kết quả là đi tới đâu bạn cũng có năng lực
cảm hóa người khác. Do đó, tu hạnh Nhẫn-nhục mới có đức hạnh; ai
thấy bạn họ cũng sẽ sanh lòng hoan hỷ, và bạn có thể hóa độ họ.
Sau khi đã xuất gia, bạn phải xem
hạnh Nhẫn-nhục là cao nhất, là số một. Những kẻ nói xấu, chửi bới,
chê bai, phê bình bạn, đều là những kẻ chỉ đường cho bạn. Không có
họ, bạn chẳng thể tiến bộ, chẳng thể thành tựu.
Ðừng
cho rằng những nghịch duyên đó làm khổ bạn rồi sanh lòng ghét chúng,
chán chúng, coi cái gì cũng không vừa lòng mình, thấy cái gì cũng
gai mắt, rồi bạn nghĩ: "Thôi, cuốn gói đi quách! Về nhà cho rồi!"
Song, biết đi đâu cho tốt? Cũng không thể đi cưới vợ, vì bạn biết
làm vậy còn khổ hơn kia mà, nào khác gì sống ở địa ngục đâu?
Khi bị ai công kích, phê bình, bạn
nên nhẫn chịu. Dù có bị oan cũng ráng nhịn. Bạn còn phải cảm ơn
người ta vì may mắn lắm mình mới được (phê bình) như vậy.
Khi ai đem việc xấu ác, lỗi lầm mà
đổ thừa, vu oan cho bạn; bạn cần phải nhẫn nại.
Dù bạn có đúng lý mà kẻ khác vu
khống, nói càn rằng bạn sai bạn lỗi, thì bạn vẫn nên sám hối, xin
lỗi kẻ ấy (đừng tranh biện); bởi vì tu hành chính là tu ở chỗ này.
Phải
quán sát như thế nào? Bạn phải quán những lời lẽ ấy như tiền bạc; và
khi người kia phun lời xấu ác thì cũng giống như y đang vung tiền
cho bạn vậy. Nếu khi những cảnh giới ấy tới mà bạn không nhẫn, không
biết làm sao tu nhẫn nhục, thì chỉ sanh ra đủ thứ phiền não, bực bội
mà thôi!
Kẻ đả kích, bài bác chửi rủa bạn,
bạn cho rằng y xấu. Song, theo quan điểm tu Ðạo, y quả là người giúp
bạn; bạn phải cảm ơn y. Y đem tiền ở cõi Cực-Lạc tới tặng bạn, bạn
không chịu nhận, lại chạy trốn, khóc lóc om sòm!
Khi chuyện gì xảy đến với bạn, bạn
cũng nhẫn nhịn được, thì tu mới tiến bộ. Dù bạn có đúng lý cũng đừng
cãi cọ tranh biện; cứ sám hối, xin lỗi người ta là đủ. Ðó là bạn
đang tích tập công đức cho chính bạn vậy.
Nhẫn-nhục Ba-la-mật là hạnh mà khi
bạn nhẫn nhục, bạn không cảm thấy và không cho rằng mình đang làm
hạnh Nhẫn-nhục, không rêu rao là mình nhẫn nhục, và cũng không đè
nén, dồn ép nội tâm (không để lộ sự giận dữ bên trong); vì đó toàn
là có tướng trạng.
Khi
nhẫn nhục mà lòng bạn không hề có cảm giác gì, không thấy chuyện gì
xảy ra; như khi có ai chửi rủa bạn, bạn không biết là họ chửi mình;
thì mới đúng là hạnh Nhẫn-nhục Ba-la-mật.
F. Một Niệm Cách Biệt
Nếu bạn không chịu thể hội Ðạo,
thì tuy là thầy tu, tâm bạn vẫn còn vất vưởng ở ngoại cảnh, xoay
chuyển theo cảnh giới và sự việc bên ngoài; như thế vẫn còn rất nguy
hiểm.
Trong chùa cũng đầy dẫy chuyện thị
phi, trắng đen, đẹp xấu. Kẻ có trình độ thì nghĩ rằng: "Chờ tôi tu
khá khá, tôi sẽ lại độ các vị." Kẻ không hiểu biết thì sẽ làm những
việc hư, kết oán cừu thêm. (Ý là xem bạn có thể chuyển biến ngoại
cảnh hay không.)
Nếu có ai muốn hại bạn, bạn nên
suy nghĩ: "Có lẽ là hồi xưa mình có làm hại hắn ta; bây giờ mình
không nên gây thêm oán cừu, mà phải độ hắn."
Chuyện gì cũng có nhân quả, dù là việc nhỏ như một cây kim, một sợi
chỉ, một lời nói--tất cả đều có nhân quả.
Ðừng bao giờ tập thói cố chấp.
Có người hỏi: Cái bát của tôi bị
bể; phải chăng cái bát cơm của tôi cũng mất luôn? (Ý nói là bát bể,
thì phải chăng cũng hết tu.)
Hòa-Thượng đáp: Ðừng nên chấp trước. Nếu cái bát của cô bị người ta
làm bể, rồi có nhân việc đó mà oán hận, muốn trả thù kẻ kia, thì rõ
ràng là chỉ vì cái bát mà cô tạo oán cừu, gây hận thù với người khác
vậy!
Khi nghiệp chướng ập tới, vô minh,
phiền não dấy khởi, nếu bạn không có chánh-niệm thì tà-niệm sẽ nổi
lên. Khi ấy, thấy ai bạn cũng gai mắt, bực dọc; thấy việc gì bạn
cũng không hài lòng. Bạn chỉ muốn cuốn gói đi ở chùa khác; hoặc bạn
cảm thấy đời tu vô vị, không có ý nghĩa gì, chỉ muốn hoàn tục cho
xong chuyện.
Bạn
biết chăng; chỉ cần bạn nổi một niệm phiền não lên là bạn đã sai rồi,
không cần phải bàn tới việc bạn có đúng lý hay không!
Ðừng tìm coi người ta có lỗi lầm
hay không. Bạn phải tự thắp sáng cõi lòng, chiếu rọi tâm mình, hồi
quang phản chiếu--xét xem mình đã làm tốt chưa.
Tu là
sửa đổi chính mình dựa theo chân lý, chứ không phải dựa vào người
khác. Do đó, bạn phải cung kính, tôn trọng Tam-Bảo (hiện thân của
chân lý).
Hễ là
chúng sanh thì ai cũng có lỗi lầm hư xấu; song hễ ngày nào biết sám
hối, biết ăn năn sửa đổi, thì tốt liền. Dù là loài nở ra từ trứng,
hoặc sanh ra từ thai bào, từ chỗ ẩm thấp hay từ sự biến hóa--tất cả
đều có Phật-tánh. Nhiều thứ súc sinh tánh rất linh thông, hơn cả con
người nữa; song, chỉ tội là chúng không biết nói để chúng ta hiểu mà
thôi.
Bạn nhận thức được điều xấu của
mình, đó là một việc rất tốt.
Là
người, ai ai cũng đầy một bụng phiền não; nếu không tự biết lỗi thì
làm sao tu? Do đó, tu chính là từ đây, từ sự nhận thức này mà trừ
khử phiền não. Nếu không vậy, mỗi ngày bạn cứ như cũ, chẳng thay đổi
gì--cứ ăn, ngủ, làm việc, không tu để ngộ Ðạo; thì tới già bạn vẫn
hệt như bây giờ, mà đầu óc thì đầy nhóc những phiền não!
Bạn cả ngày chỉ đầy dẫy niệm xấu,
không có một chút chánh niệm; bạn không nghĩ về sắc (thứ có hình
tướng như sắc đẹp, áo quần, tiền bạc, chùa chiền, cơm canh...), thì
cũng nghĩ tới thứ vo sắc (có tên mà không có hình thể như danh, lợi,
sung sướng, hưởng thụ, ý niệm, tư tưởng...).
Hễ bạn tranh chấp, đấu tranh, cãi
vã, tính toán hơn thua, thì tâm bạn không sao được yên. Ðừng cho
rằng người khác sai, mình đúng. Họ không sai, không lỗi đâu; mà
chính bạn đã không biết tu hành. Chỉ vì lòng bạn có phiền não, tức
bực, khó chịu, oán hờn, nên tâm mới không yên ổn. Cứ để sự việc trôi
qua thì nó sẽ tan biến, và bạn mới có được chánh-niệm.
Người ta chê bai bạn xấu, bạn hư;
bạn chớ nổi nóng, bực dọc, khó chịu. Họ khen bạn hay, bạn tốt; bạn
đừng vui sướng, cao hứng. Trong cái dở luôn có cái hay, trong cái
tốt luôn xen lẫn cái xấu.
Kẻ nào khen ngợi, ve vuốt, tăng
bốc bạn; kẻ đó không phải là vị thầy tốt, không phải là bậc minh-sư.
Những ai nguyền rủa, mắng chửi bạn bất kể bạn đúng hay sai; họ mới
chính là những bậc minh-sư. Lúc họ xử tệ với bạn chính là lúc họ
giúp bạn thành tựu.
Nếu
khi bị chèn ép, xử tệ, mà bạn nghĩ rằng: "Các ngài khinh thường tôi
như vậy; song, tôi vẫn cứ tu để các ngài hiểu"; thì bạn là người có
chí khí; và như vậy, ắt có ngày bạn sẽ thành công!
Bạn đúng lý mà y sai; cứ để cho y
làm gì thì làm, coi như bạn là sai lầm vậy. (Vì bạn có giải thích,
có tranh cãi tới đâu, y cũng không thèm nghe; vậy cãi có ích gì?) Ðó
chính là bạn biết làm chủ chính mình, không bị người ngoài hay sự
việc làm lay chuyển.
Những cảnh giới mà bạn tiếp xúc
bây giờ đều là do những hạt giống bạn trồng xưa kia, bây giờ chúng
hiện ra thôi.
Thấy
người tại gia mặc áo quần đẹp đễ (tức là một thứ cảnh), thì có kẻ tự
nghĩ: "Mình đi tu sao mà khổ thế này? Cái gì cũng không có, chỉ được
mặc ba cái áo nâu sồng thô sơ này..."; có kẻ lại nghĩ khác: "Ôi!
Trong cõi Ta-Bà khổ não này chỉ có ăn mặc đẹp đẽ đến thế mà thôi; có
gì là hay, lạ đâu?"
Nhiều nữ tín đồ khi chưa xuất gia
thì nhồi phấn, thoa son, kẻ mắt, vẽ mày...; bây giờ mấy cô làm Ni-cô
ở đây, chẳng ai còn vậy, coi tốt hơn!
Hai người, một cô xấu xí, một cô
đẹp tuyệt. Cô xấu xí thì biết mình xấu nên đánh phấn đánh son, trang
điểm tươm tất lắm. Song, càng trang điểm bao nhiêu, càng xấu bấy
nhiêu; không bằng để tự nhiên!
Tu hành cần có năng lực chịu
đựng--chịu khổ, chịu ăn cơm đạm, chịu mặc áo thô.
Ðời
này, thế giới vật chất phong phú, muốn gì có nấy rất dễ dàng. Nhiều
thứ, do kỹ thuật tiến bộ nên không còn cần dùng tới tay chân nữa,
nên vô cùng tiện nghi.
Là kẻ
xuất gia tu hành, các bạn phải quan sát, suy tư về tấm gương tu hành
của chư Tổ hồi xưa. Theo bước chân các ngài mà tu thì mới chấm dứt
được sanh tử.
Tôi (Hòa-Thượng)
xuất gia tu hành không phải vì mục đích hưởng thụ; tôi muốn tu sao
cho việc ăn uống, ngủ nghỉ, áo quần thật đơn giản. Tôi thà là bị xã
hội coi thường, cho rằng tất cả mọi thứ ở đây không thể bì được với
người đời còn hơn!
Khi
được xã hội trọng vọng, thì giữa họ và mình sẽ sinh ra mối dây tình
cảm, yêu mến, và rồi sẽ đưa tới nỗi khổ phải xa cách nhau; kết quả
là tạo thạnh vòng luân hồi luẩn quẩn! Khi bạn bị xã hội khinh rẻ,
coi thường, thì bạn sẽ bớt lòng phan duyên (thích lấy cái này, sở
hữu cái kia, giao kết với người này người nọ để trục lợi), bớt tâm
vọng tưởng (cứ nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, không hết chuyện
này đến chuyện khác, không dứt), và dễ chuyên tâm dụng công hơn!
4. Ðộ Người
A. Biết Điều Tốt Của Thí
Chủ
Khi thí chủ quý trọng bạn, họ mới
cúng dường. Vì thế, bạn nên có lòng tri ân, cảm kích, mà tu hành cho
đàng hoàng.
Như các bạn ăn mặc đơn sơ, đạm bạc,
lại dám xả thân làm việc công quả cho chùa; người ngoài nhìn bạn họ
sẽ nhận thấy rằng: "Các vị tu sĩ này thật làm tôi cảm động; họ biết
xả thân vì Ðạo, vì chùa..." và tự nhiên họ muốn cúng dường bạn. Như
thế, vô hình trung, bạn đã độ họ, khiến họ trồng căn lành trong
ruộng phước đức. Ðây chính là hoằng Pháp, lợi sinh vậy!
Người tu phải chịu cực chịu khổ,
không được chấp trước vào quan niệm về "tôi" và cái "của tôi", rồi
sanh ra tật thích chải chuốt cho đẹp đẽ, ăn uống cho ngon lành, và
muốn mọi sự phải cho tiện nghi, sung túc. Thân mặc áo nâu sòng cho
sạch sẽ, chỉnh tề là đủ; bởi kẻ xuất gia mà sống quá sướng, quá
hưởng thụ thì không người tại gia nào muốn cúng dường cả! Người tu
mà biết chịu cực, sống kham khổ, thì thí chủ mới khâm phục, mới muốn
cúng dường. Ðời sống chỉ cần có cơm ăn no, có áo mặc ấm là đủ lắm
rồi.
Người xuất gia: chân đạp đất của
tín thí, đầu đội trời của tín thí, thân mặc áo thí chủ cho, miệng ăn
cơm thí chủ cúng, ngủ ở phòng thí chủ xây. Cứ tính là mỗi ngày bạn
tu được một trăm đồng tiền công đức. Hễ bạn khởi tâm động niệm khiến
thân miệng ý không thanh tịnh, thì khấu trừ đi ba mươi đồng. Thêm
vào là tiền ăn uống đáng giá ba mươi đồng, tiền trú ngụ là hai mươi
đồng, tiền ăn mặc đáng năm mươi đồng; tổng cộng là một trăm ba mươi
đồng tiền công đức. Ðấy, công đức tu hành bạn làm ra trong ngày
không đủ để trả những phí tổn trên; vậy thì bạn còn có công đức gì
nữa? Tín chủ cúng dường khó tiêu lắm!
Muốn Tăng-đoàn trang nghiêm, bản
thân mình phải trang nghiêm. Bất cứ ở chỗ nào, lúc nào, mình cũng
phải trang nghiêm. Thí dụ khi tụng Kinh, nếu người ta thấy chư Tăng,
Ni vô cùng trang nghiêm, thì tự nhiên họ sẽ sanh lòng tín ngưỡng đối
với Ðạo, và không coi Phật giáo là thứ tiêu cực nữa.
B. Tiếp Đãi Tín Đồ
Bồ-tát là kẻ độ chúng sanh, do đó
mình phải rộng kết duyên lành với chúng sanh. Hiện tại tôi còn sống,
khi người ta tới bái kiến tôi thì các bạn phải ráng kết thiện duyên
với họ. Thấy tín đồ nào, bạn cũng nên tiếp đón, chào hỏi; song không
được phan duyên (dùng thủ đoạn tình cảm để kiếm lợi lộc riêng tư),
không được cống cao ngã mạn, rằng "Tôi là người xuất gia, các vị chỉ
là kẻ tại gia!" Bạn phải hiểu rằng tất cả mọi phí tổn cho sinh hoạt
hàng ngày như ăn, ở, mặc của tôi đều là do thí chủ cúng dường mà ra!
Khi có người kết duyên xấu với thí
chủ, các bạn chớ có bị người ấy ảnh hưởng, khiến mình cũng kết duyên
xấu với thí chủ. Bạn phải có năng lực nhận định phải trái, phải tự
làm chủ chính mình; bởi chúng ta cần rộng kết duyên lành.
Cho nên nói: "Vị thành Phật, tiên
kết nhân duyên"; nghĩa là khi chưa thành Phật, trước hết, phải kết
duyên lành với mọi người.
Khi có tín đồ lại chùa, bạn hãy
khéo dùng lời lành tiếp đãi họ, mời họ lạy Phật, ăn cơm, đi dạo coi
chùa. Ðó chính là kết duyên lành, và cũng là cách tu hành. Ðiều cốt
yếu nhất là đừng bày đặt ra vẻ thanh cao, "ta đây là Thầy". Cái đó
không phải là tu hành gì cả. Tín đồ là kẻ đang tu học, bạn là người
tu thì phải hành Ðạo Bồ-tát. Không nên tu thứ hành vi xấu; phải tập
cử chỉ tốt. Khi có kẻ bất lương đến chùa, bạn đừng để ý tới y là
xong. Ðừng nên cằn nhằn, cũng đừng chửi rủa người khác hoài. Tu hành
thì phải tu cho tới lúc có trí huệ; bấy giờ, hễ đụng chuyện gì, bạn
cũng thấu suốt được ngay. Khi đó, nói chuyện gì bạn cũng có thể nói
một cách viên dung. Khi mình đã đứng vững rồi, kẻ khác sẽ do đó mà
sanh lòng hoan hỷ tiếp nhận lời bạn, mà bạn cũng không tạo nghiệp.
Tín đồ mang vật phẩm đến cúng
dường, đó là vì họ muốn cầu phước. Vì vậy, dù vật nhỏ như một ngọn
cỏ, bạn cũng phải vui vẻ tiếp nhận. Nếu khi thấy họ đem những thứ
tốt đẹp lại cúng dường, rồi bạn sanh ra tham lam, thì bạn không thể
ngộ Ðạo được. Khi có người mang thức ăn dở đến, bạn đem nấu lại cho
ngon lành, thì đó là bạn tu cả phước lẫn huệ! Nếu bạn không biết xử
lý một cách thích đáng, ngược lại, cứ trách móc thí chủ đã cúng thức
ăn hư thối; thì đó là tự bạn nổi phiền não và tự bạn tạo khẩu nghiệp
mà thôi!
Dù là người trong gia đình hay bà
con của mình tới chùa ăn cơm, mình cũng nên khuyên họ cúng dường
tiền cơm cho chùa để họ có quan niệm đúng đắn (về nhân quả, nghiệp
báo.)
Bạn nên lân mẫn, thương hết mọi
chúng sanh; hãy nghĩ rằng họ và mình chỉ là một. Thí chủ lại tu, lại
trồng thiện căn; mình phải lấy tâm Bồ-đề, tâm từ bi đối với họ mới
đúng.
Khi ai đang nói, bạn chớ ngắt lời
hoặc nói xen vào. Chờ họ nói xong, mình hãy nói; đó gọi là lễ phép.
Khi ứng tiếp, nói chuyện với thí chủ, bạn chỉ nên nói về Phật-pháp.
Khi họ muốn nói chuyện thế tục, bạn hãy xin lỗi mà nói rằng: "Tôi
không có thì giờ, xin mời bạn lên lễ Phật, hay tản bộ dạo chơi." Khi
gặp kẻ xấu, bạn chớ để ý tới y là tốt nhất; bởi vì hai đồng tiền mà
đập vào nhau thì chắc chắn phải kêu lẻng kẻng!
Quan hệ với người đời: bất quá họ
chỉ xã giao mà thôi. Vì vậy, khi bạn ứng tiếp họ, tâm bạn phải biết
tự chủ, luôn có Phật-pháp (soi sáng). Không nên cùng người thế tục
đàm luận chuyện đời. Hãy đem Phật-pháp lại so sánh.
Nói những chuyện khôi hài song
song đầy ý vị Phật-pháp sẽ làm người nghe đỡ phiền não.
Kẻ tu hành mà không nói Phật-pháp,
lại đi đàm luận thế sự; đó nào phải là bổn phận của người xuất gia?
Khi người tu mà còn nói chuyện trần tục của người đời, tức là y chưa
đoạn được tục khí (thói quen trần tục); thế thì làm sao y đủ tư cách
bàn tới hai chữ "tu hành"?
C. Sự Nghiệp Của Bồ-Tát
Mỗi vị Thầy đều có một phương pháp
độ sinh khác nhau; do vậy, bạn chớ tùy tiện chê bai, phê bình. Bởi
nếu làm vậy, bạn sẽ tạo ảnh hưởng không tốt đối với lòng tin
Phật-pháp của kẻ khác. Việc này có nhân quả đấy!
Vì muốn độ chúng sanh nên mình
phải hằng thuận, phải chiều theo chúng sinh, cũng giống như mình
đánh lừa đứa nhỏ (vì muốn cứu mạng nó) vậy; mà phần lớn là để chúng
sinh trồng căn lành trong ruộng phước.
Tôi
không đòi hỏi gì cả. Chúng sanh thấy tôi thì sinh lòng hoan hỷ;
song, bản thân tôi, tôi không hề biết đến.
Làm việc gì mình cũng phải rõ suốt
chân lý của việc ấy thì mới lãnh đạo, dẫn dắt được người ta. Nếu
mình không thông suốt chân lý, làm sao dẫn dắt kẻ khác?
Hiện tại, người tu cần dùng Phật-pháp và sự thật để chỉ đạo, giáo
hóa chúng sanh. Không vậy thì mọi việc đều biến thành thế tục; mình
chẳng những không thể tùy thuận ai được mà lại còn mất đi lòng độ
lượng nữa!
Hoằng Pháp, lợi sinh: đây không
phải là việc nói suông. Chỉ cần bạn tu trì cho tốt, thì tự nhiên khi
nhìn bạn, ai cũng sanh lòng hoan hỷ, cung kính.
(Ví như Hòa-thượng Quảng Khâm: Ngài không hề xuống núi song kẻ
ngưỡng mộ và quy y Ngài thì nhiều không xiết.)
Hoằng Pháp, lợi sinh tức là cần
mình hy sinh thân xác này.
Bạn phải làm một vị Bồ-tát. Không
thể cho mình tốt là đủ, rồi mặc kệ kẻ khác. Phải coi kẻ khác là
trọng yếu, còn mình thì sao cũng được. Phải làm lợi ích tha nhân.
Khi bạn chỉ làm lợi ích cho riêng mình thì vô minh, phiền não của
bạn sẽ đầy dẫy.
Người
xuất gia lấy lòng nhân từ làm gốc, lấy phương tiện làm dụng, lấy
lòng đại bi làm thể. Tất cả (mọi căn lành, mọi pháp môn...) đều từ
lòng từ bi mà phát sinh.
Gia, ví như tập khí, thói quen, vô
minh, phiền não, những chủng tử xấu của mình. Quốc, ví như đại chúng.
Mình phải trị gia trước, rồi mới trị quốc sau. Nghĩa là trước hết,
bạn hãy trừ sạch mọi thói hư tật xấu, vô minh phiền não của mình;
rồi sau đó đem đức hạnh ra cảm hóa kẻ khác, "thống lý đại chúng."
5. Ðiểm Tốt Của Việc Tu
Xuất gia là việc đại hiếu. Bạn cần
phải báo đáp bốn ân lớn (ơn cha mẹ, ơn thí chủ, ơn chư Phật, ơn Thầy),
và cứu độ ba đường khổ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh). Bạn sẽ độ
thoát cha mẹ mình trong muôn vàn kiếp, không phải chỉ có cha mẹ đời
này mà thôi.
Bộ áo người tu không phải ai ai
cũng mặc được. Chỉ có kẻ phước-khí mới mặc đặng.
Một kẻ xuất gia, dù y không tu
hành gì lắm, chỉ biết ăn chay trường, không sát sinh, không có tội
lỗi lớn, thì kiếp sau y có thể đầu thai làm người lại và tu hành
tiếp. Y sẽ không bị rớt vào ba đường khổ hay bốn loại sanh (sanh ra
từ trứng, từ thai, từ nơi ẩm ướt, hay từ sự biến hóa).
Hỏi:
Khi một kẻ xuất gia phá Giới, phạm tội ác vô biên, bị rớt vào địa
ngục, phải chăng y còn tệ hơn kẻ tại gia? Như vậy, chi bằng tu tại
gia tốt hơn?
Ðáp: Xuất gia tu vẫn
tốt hơn! Tuy y (kẻ xuất gia) bị đọa lạc, song khi y chịu hết quả báo,
y có thể trở lại tu hành. Chắc chắn rồi y cũng xuất gia, bởi y đã
trồng ít nhiều căn lành rồi. (Một kẻ ngoại đạo, nếu đem so sánh, còn
kém hơn một người xuất gia phá giới).
Kẻ có căn cơ, thì sau khi đi tu, y
hiểu rõ mọi chuyện, thể hội được điểm tốt cũng như điểm xấu giữa
người xuất gia và người tại gia. Có kẻ chẳng bao giờ thể hội được
điều ấy.
Sở dĩ bạn không thể nhìn thấy,
không thể biết được điểm tốt của việc xuất gia, là vì bạn còn nghiệp
chướng. Nếu nghiệp chướng ấy không tiêu trừ, thì khi bạn lâm chung,
chúng sẽ hiện ra.
Nhìn
hời hợt thì kẻ xuất gia chỉ biết ăn ngày ba bữa, làm vài chuyện này
nọ. Kỳ thật, xuất gia là vì muốn trừ khử lòng tham lam,sân giận, si
mê và tiêu trừ nghiệp chướng.
Có người nói: Mấy Thầy ăn chay nên
nói luận điệu của kẻ ăn chay; nếu ai cũng đi tu thì xã hội sẽ ra
sao?
Hòa-thượng đáp: Ai ai cũng đi tu thì chúng ta cùng nhau vãng sinh
Thế-giới Cực-lạc ở Tây-phương; như thế không phải là càng tốt hay
sao?
6. Ðạo Cao Một
Tấc, Ma Cao Một Thước
Nghiệp ác mình tạo ra từ nhiều
kiếp thì cao ngất như núi. Ðời này, khi mình đi tu, những ác nghiệp
ấy có thể xuất hiện. Do đó, có lúc mình cảm thấy cái nghiệp sau khi
xuất gia lại nhiều hơn lúc còn tại gia. Bấy giờ, mình cần có sức lực
mạnh mẽ để vượt qua. Nếu mình không hàng phục được phiền não, lại
khởi tâm động niệm, thì sẽ tạo thêm nghiệp mới!
Xuất gia tu hành là việc không tầm
thường.
Việc xuất gia thì nhiều lắm. Khi
những kẻ oán, thân, chủ nợ (ở kiếp trước) đến đòi nợ, thì mình sanh
bệnh hoặc gặp đủ thứ chuyện rắc rối kéo tới. Nếu mình chẳng vượt qua
được thì không cách gì an lòng tu Ðạo đặng. Do đó, khi bạn bệnh khổ,
hãy tự khuyến khích, sách tấn chính mình. Lạy Phật, niệm Phật nhiều
hơn thì nghiệp chướng sẽ tiêu tan.
Kẻ tại gia nhìn (sinh hoạt người
tu) nhưng không hiểu, nên cho là người tu khổ sở lắm. Ðối với kẻ có
Ðạo-tâm không kiên cố, thì y coi đời tu như là cuộc sống ở địa ngục
trần gian; y luôn cảm thấy việc gì cũng không tốt và không tự tại,
lại sanh phiền não nhiều. Có nhiều vị tuy Ðạo-tâm kiên cố hơn, song
do hạt giống xấu gieo trồng từ nhiều kiếp trước, nên tuy nghe Sư-phụ
giảng dạy mà không để vào lòng gì cả. Ảnh hưởng của trần gian thế
tục đối với họ thì còn nặng nề, sâu đậm lắm.
Ở chùa mình, các bạn còn thấy
người tới từ mọi nơi: nào là tướng mạo thế này, hình sắc thế kia...
đủ cả. Những Tăng, Ni trẻ tuổi thì ý niệm về tình cảm yêu đương còn
nặng nề lắm. Khi thấy những cặp trai gái đến, nếu các vị bị cảnh
tượng ấy làm tâm dao động, rồi sanh lòng ước muốn, ưa thích, thì các
vị sẽ dứt mất Ðạo-tâm (tâm tu hành). Nếu các vị nhận định tâm trạng
ưa thích của mình là tội lỗi, thì mới có Ðạo-tâm.
Kẻ xuất gia trẻ tuổi thời nay thật
rất nguy hiểm. Họ rất dễ bị ngoại cảnh làm thay đổi chí hướng. Những
kẻ nửa đời xuất gia (tức là đã kết hôn rồi), thì đã nếm hết mùi đời,
nên đối với ngoại cảnh, họ có phần nào tự chủ hơn. Song le, nếu
người trẻ tuổi xuất gia mà chịu tu hành đàng hoàng, thì trí huệ sẽ
khai mở, rất dễ thành tựu.
7. Ni Chúng
Người nữ thiếu tu hành 500 đời.
Nếu biết tu, các cô có thể ngay thân này, đời này được giải thoát.
Song các cô đừng quá coi trọng tấm thân: ăn no là tốt rồi, mặc ấm là
đủ thôi, không cần ngủ thì chớ ngủ. Không làm như vậy thì chỉ có
tham lam, tán loạn, mất Ðạo-tâm mà thôi!
Sanh làm thân người nữ song được
xuất gia, được gặp bậc đại Thiện-tri-thức, lại được ở nơi đạo tràng
mà yên ổn tu hành; các cô phải cảm nhận là mình vạn phần may mắn!
Các cô nên mau mau tu trì, sửa đổi bản tánh nóng nảy, trừ bỏ ý nghĩ
xấu ác, thay đôi quan niệm sai lầm xưa kia.
Ðài Loan vẫn còn tốt là vì các cô
còn có thể xuất gia. Nếu không, e rằng người nữ trong xã hội chỉ đọa
lạc mà thôi. Nay các cô xuất gia rồi, nếu còn không chịu tu, thì
biết kiếp sau các cô có còn được thân người để tu hành nữa không?
Ðừng cho rằng các cô tu như vậy là
cực khổ lắm, rồi sanh lòng ghét cái này, bực cái kia, thấy việc gì
cũng sai cũng trật; lại nghĩ: "Thôi, đi phứt cho rồi!" Song, các cô
đi, mà biết đi đâu? Cũng không thể đi lấy chồng, bởi như vậy, rốt
cuộc chỉ thêm đau khổ như sống ở địa ngục mà thôi!1
Nhiều cô đã mắc phải căn bịnh trần
trọng - bệnh nhiều tình cảm. Các cô không được tái phạm cái trò tình
cảm dây dưa ấy, như là thích ngủ chung với nhau. (Nếu cô này không
chịu ngủ chung với cô kia, thì bị cô kia nói cô này không tốt với cô).
Các cô phải ngủ riêng, tách rời một chút. Nếu các cô cứ cố chấp hoài
thì chính là tà đó!
Người nữ mà xuất gia được là
chuyện khó rồi; sao các cô còn đòi hỏi đi đây đi đó để tham phỏng,
học hỏi này nọ? Chỉ cần các cô học hỏi chính mình (lúc khởi tâm động
niệm, lúc có tham, sân, si, ngạo mạn, tà kiến). Các thầy thì mới nên
đi tham phỏng học hỏi!
Các cô phải hết sức tránh nói
chuyện với người nam giới, với các Thầy.
1. Khi
Hòa-thượng Quảng Khâm (83 tuổi) muốn nhập niết bàn, Ngài có nói: "Các
ni cô ở Ðài Loan không thể chịu khổ - khổ ở đây ám chỉ mọi thứ khổ,
ví như làm các thứ khổ hạnh, tu nhẫn nhục, hay lúc tinh tấn niệm
Phật, lạy Phật... mà thân thể bệnh khổ, sức - các cô không chịu nổi
khổ cực, thì không cách gì chứng đắc được cả!"
Chương VII: Xuất gia và
Tại gia
1. Tại Gia:
Tham lam, quyến luyến mọi thứ ở
trần gian thì bạn sẽ mãi luân hồi trong bốn loài (sanh ra từ trứng,
từ bào trai, từ nơi ẩm ướt, từ sự biến hóa).
Mọi thứ trong xã hội đều là sắc,
thọ, tưởng, hành, thức. Khi chưa xuất gia, ai cũng gieo trồng đủ thứ
hạt giống của cõi trần gian tục lụy.
Người đời ai cũng mong cầu hưởng
thụ vật chất, ai cũng yêu thích đẹp đẽ; ăn mặc tươm tất. Người giàu
thì có năng lực truy đuổi những thứ ấy; kẻ không tiền thì cũng vì
những thứ ấy mà lặn lội truy cầu.
Hễ ai tham những thứ thanh, hương,
vị, xúc, pháp, thì sẽ có phần luân hồi trong bốn loài.
Người đời bị ngũ dục làm mê mờ.
Chỉ vì muốn ăn ngon nên sát sanh để nuôi dưỡng thân mạng. Họ không
biết rằng ăn thịt chúng sanh tức là ăn thịt chính họ. Bởi, ăn một
cân thịt, bạn nhất định phải trả 16 lượng; đây là việc bạn không thể
trốn tránh đặng. Do đó, cả một đời, người đời cứ phải trả nợ, đòi nợ;
đời đời kiếp kiếp không thể thoát khỏi luân hồi. Huống chi những
miếng thịt họ ăn có khi là thịt của chúng sinh mà xưa kia đã từng là
cha mẹ của họ. Làm sao tâm mình có thể bất nhẫn đến như vậy?
Kẻ tại gia sát sanh để ăn thịt;
chúng sinh bị giết đều là họ hàng quyến thuộc của họ trong nhiều
kiếp trước. "Mày giết tao, tao sẽ giết mày;" cứ vậy mà có luân hồi
sinh tử. Những người tại gia không hiểu biết, thiếu nhận thức, cho
rằng nếu họ không sinh con đẻ cái thì mạng họ khổ lắm; tự than thở
rằng mình không được như gia đình kẻ khác, con cái đầy nhà. Họ nào
ngờ rằng, không con cái tức là ít oan gia, nợ nần!
2. Xuất gia: Báo Đền
Bốn Ân Lớn
Hiếu thảo với chư Phật, chư Tổ,
thì mới là có hiếu với cha mẹ.
Bạn hãy khéo léo dùng mọi cách cho
cha mẹ bạn hiểu Ðạo. Nếu có lòng thành, tối thiểu họ sẽ được sanh
lên cõi trời.
Là kẻ xuất gia, mình phải độ thoát
bà con họ hàng của mình. Tối thiểu, hãy làm cho họ tin Phật, ăn chay
trường, không sát sinh; như thế mới viên mãn bổn phận của mình.
Ân cha mẹ sinh thành dưỡng dục lớn
lắm, nếu không xuất gia tu hành thì khó đền đáp công ơn này. Ðó là
vì giữa cha mẹ và con cái vốn có thứ ân oán lẫn thân tình đan kết từ
nhiều đời.
Xuất gia muốn báo đáp bốn ân lớn
thì bạn phải độ thoát cha mẹ bạn, khiến họ liễu sanh tử. Song cha mẹ
nào phải chỉ có ở đời này thôi đâu; mà cha mẹ có từ nhiều đời trước
nữa, bất quá mình không biết đó thôi. Không tu thì làm sao hiểu đặng
kiếp trước mình có nhiều cha mẹ như vậy? Song bạn chớ khởi lòng
thương nhớ cha mẹ; hồi tưởng những kỷ niệm ấy đều là thứ sanh tử!
Làm cha mẹ, ai cũng muốn con mình
lấy vợ, sinh con, hệt như họ vậy - một cuộc đời đầy dẫy thương yêu,
khổ, não. Nếu bạn, kẻ tu hành, mà ham thích những việc ấy, thì sau
này bạn sẽ tha hồ đóng vở tuồng ấy. Ðây là những "màn kịch" mà bạn
có thể diễn vô cùng tự nhiên, không cần phải học cách lễ, nghĩa,
liêm, sĩ gì cả. Khi đọa lạc làm súc sinh, bạn sẽ diễn những tấn
tuồng ấy tự nhiên hơn nữa!
Cha mẹ càng tốt với bạn bao nhiêu,
là họ càng có ân oán nhân duyên với bạn bấy nhiêu.
Quan điểm của người tu thật khác
xa so với quan điểm của người đời: Cha mẹ càng thương yêu bạn, thì
khi lâm chung, họ sẽ bịn rịn, không buông bỏ bạn được. Song le, bạn
chớ vì thế mà sanh phiền não, trách móc cha mẹ bạn.
Hãy chuyên tâm tu Ðạo. Nếu không,
bạn sẽ rơi vào vòng tình cảm yêu ghét, chịu cái khổ xa cách người
mình thương mến; rồi do đó bị cuốn hút vào chuỗi luân hồi sanh tử.
Thật nguy hiểm lắm!
Bạn chớ chấp trước (quyến luyến)
cha mẹ, bà con, anh em trong đời này. Họ đều là những chủ nợ, những
kẻ có ân oán với bạn từ nhiều kiếp trước cả.
Mỗi người đều do nhân quả nên sinh
ra; rồi vì nhân quả nên chết đi. Cha mẹ, bà con của mình đều ở trong
vòng luân hồi; do đó, mình phải mau mau tu hành để độ thoát họ.
Mình vì nghiệp nên sinh ra, song
chớ vì nghiệp mà chết đi.
Phải tu - trên đền bốn ân lớn,
dưới độ ba đường khổ. Tự mình phải tu cho đặng giải thoát thì mới có
chỗ thành tựu.
3. Ở Ðời Và Ði Tu
Cha mẹ sinh ra ta song họ không
biết ta từ đâu lại. Bây giờ mình phải tìm cho ra con đường sanh tử
mà mình đã từ đó tới; có nghĩa là mình phải liễu thoát sanh tử.
Ở đời
thì bất quá mình chỉ ăn ngày ba bữa rồi trôi theo dòng sinh tử mà
thôi.
Người đời cả ngày bận rộn làm việc
là chỉ vì truy cầu danh lợi, địa vị, vì muốn hưởng thụ vật dục, ăn
ngon, mặc đẹp, ở sướng.
Người
tu có làm việc thì cũng là để huấn luyện nội tâm. Do đó, công việc
không cần quá nhiều, không nên gấp gáp; cũng không cần ai khen ngợi
mình; không truy cầu, ước muốn bất cứ thứ gì. Chỉ mặc bộ áo của
Tây-phương Cực-lạc mà thôi.
Ðối với người tu, cảnh giới hoặc
ngoại cảnh càng xấu thì càng tốt. Người tu càng trải nhiều gian khổ
càng tốt. Ðó là điểm khác biệt giữa người tu và người đời.
Người tại gia có nỗi khổ mà người
xuất gia cũng có nỗi khổ. Người đời khổ là vì họ không có được cái
nhìn sáng suốt; người xuất gia khổ là vì muốn liễu sanh tử, muốn ra
khỏi luân hồi.
Người đời ngày ngày đều quay đi
quay lại đeo đuổi mấy thứ tài, sắc, danh, thực, thùy (tiền của, sắc
đẹp, danh vọng, ăn uống, hưởng thụ hoặc ngủ nghỉ), và luôn bị ngoại
cảnh làm ô nhiễm tâm tánh; hoàn toàn không làm chủ chính mình.
Người
tu thì cần rửa sạch những thứ cấu bẩn ấy. Kẻ tu dù đời sống có chật
vật, song tâm an ổn, sáng suốt là đủ.
Khi
còn ở đời, ai cũng chạy theo thứ hoa hòe bề ngoài. Có tiền thì sung
sướng, không tiền thì khổ sở. Thế nên tính toán mọi cách để kiếm
tiền. Rồi khi lòng truy cầu ham muốn nổi dậy thì tâm tánh sẽ hôn ám
mê muội, hệt như kẻ say rượu vậy. Mọi việc ở đời đều không ra ngoài
sự truy cầu, ham muốn; ai ai cũng vì kiếm ăn để sống cả.
Do đó,
người xuất gia phải luôn phát khởi chánh niệm, suy tư đúng với chân
lý; phải nói Pháp của Phật " như vậy mới giải thoát được.
Người tu chúng ta đừng nên tham
lam thì mới trừ được phiền não, sân giận, si mê. Không nên có phong
cách như người đời: ăn thì phải ăn ngon, ngủ thì phải ngủ đủ.
Người
tu tự gọi mình là "bần tăng" (sư nghèo), là vì nếu cuộc sống càng
giản dị bao nhiêu thì sự tu hành càng có tương ưng bấy nhiêu, chứ
chẳng phải là càng giàu có sung túc hơn đâu! Nếu không như thế, cứ
để lòng tham lam tồn tại, không chịu trừ khử; thì dù bạn nói mình tu
hành, song vọng tưởng, phiền não từ lòng tham ấy vẫn ùn ùn kéo tới.
Người xuất gia và người đời khác
nhau xa lắm. Người tu chẳng nói "đúng" hay "không đúng"; bởi "đúng"
họ cũng nhận, mà "không đúng" họ cũng nhận. Cứ như vậy mà bạn tu
hạnh Nhẫn-nhục, thì từ từ bạn sẽ trừ được ngã tướng.
Ở ngay giữa xã hội mà tu (ám chỉ
kẻ tại gia), thì không dễ tu. Bởi vì áp lực của kẻ chung quanh sẽ
làm bạn phải đồng ý theo họ; nếu không, họ sẽ công kích bạn. Do đó,
người xuất gia thì tu có dễ dàng hơn.
Khi đã từng trải qua sóng gió trên
trường đời, rồi mới vô chùa tiến tới một bước tu hành, làm hạnh
Nhẫn-nhục, thì bạn dễ hòa đồng với kẻ khác lắm.
Hãy
phát lòng tin, rằng: "Tôi nhất định phải thành Phật!" Nói ra như thế
tức là có chí hướng thành Phật, thì bạn mới có động cơ khiến mình
tinh tấn tu trì.
Ðừng
luôn khoe khoang, nói về chính mình, vì cái bản ngã sẽ làm chướng
ngại việc tu.
Ngoài
đời, bạn thích mặc áo quần đẹp đẽ, song vô chùa thì những thứ ấy
không còn thích hợp nữa. Ở chùa, bạn mặc thứ y phục mà không người
đời nào muốn mặc. Thói quen nóng nảy, giận dữ của bạn cũng phải sửa
đổi một chút mới được. Cứ tu, thì bạn sẽ cảm biết thấu suốt mọi sự.
Xuất gia: có chánh niệm. Ngoài đời:
chẳng có chánh niệm.
Ði tu và ở đời khác nhau.
Sinh
hoạt của người đời giống hệt như ban ngày nằm mộng, mà ban đêm cũng
là mộng " chiêm bao giấc mộng sanh tử luân hồi.
Người đời có thể hưởng thụ khoái
lạc, đi chơi đâu đó, xem ra như là sung sướng lắm. Song khi cơn vui
qua rồi thì đầu óc lại quay cuồng với đủ thứ vọng tưởng, phiền não;
tâm không thanh tịnh đặng.
Người
tu tuy áo quần, ăn uống, chỗ ở đều chẳng sung sướng gì, nhưng hễ khi
làm xong việc gì mình cũng có thể ngồi xuống xếp bằng tĩnh tọa, niệm
Phật, tu trì " tâm thần thanh tịnh, không phiền não, tức là có thể
đưa tới chánh niệm.
Áo quần, chỗ ở, ăn uống tuy không
sung túc, song mình tu hành thì có sự thanh tịnh. Khi tâm mình không
có vấn vương mọi thứ, mọi việc gì; cứ mỗi ngày đều đều như vậy; thì
đó là chốn thanh tịnh. Người đời chỉ có thể ở trong chốn Ngũ-trược,
xấu ác mà thôi.
Nhiều người đời hy vọng con cái
mình có nhiều bạn bè trai gái, thì họ mới vui. Song con cái đối với
cha mẹ thì không chút lễ nghĩa gì, mà cha mẹ cũng thì cũng rất dễ
dãi với con cái. Nếu người xuất gia mà còn thói quen thế tục, thích
kết nhiều bè bạn, thì sau này sẽ còn nhiều "màn kịch" để họ diễn nữa!
Ở đời đa số con cái ai cũng ỷ lại
cha mẹ, nên không biết trời đất to lớn ra sao. Khi xuất gia thì xung
quanh toàn là sư huynh sư đệ; người nào lo làm tròn bổn phận người
nấy, mà mình cũng phải lo làm công việc được giao phó. Do đó, ai
cũng có tánh tự lập.
Làm người mà chịu đi tu thì mới
đáng giá. Bởi vì nếu không vậy, mình cứ ở xã hội, lập gia đình, sinh
con đẻ cái, đến chết vẫn không buông xả được, và cũng không thanh
thản ra đi đặng!
Người đời lấy khổ làm vui; đến lúc
già rồi thì sợ chết, không buông xả đặng con cháu.
Người
xuất gia chúng ta tuy tu Khổ-hạnh, song nếu vừa làm, vừa niệm Phật,
thì lâu ngày chày tháng, mình sẽ thể hội được mọi chuyện trong sáu
nẻo luân hồi. Khi ấy, mình sẽ sung sướng là đã may mắn được xuất gia.
Niệm
Phật nhiều, đủ, thì trí huệ sẽ khai phát, sẽ giác ngộ; đến khi già
mình sẽ không sợ chết vì mình đã có một Thế-giới Cực-lạc ở
Tây-phương để tới
Nghiệp chướng của các bạn chồng
chất như núi cao; không xuất gia thì bạn nào có cảm giác tới nó. Nhữ
kẻ thiếu hiểu biết ngoài đời thì luôn luôn đi trên con đường tạo
nghiệp. Người xuất gia thì đi con đường hết nghiệp, tiến thẳng tới
Thế-giới Cực-lạc.
Cổ
nhân dạy: "Một tấc Ðạo, chín tấc ma" (tức là Ðạo thì ít mà ma hay
nghiệp chướng thì nhiều). Do đó, người tu càng tiến bước thì bao thứ
ác niệm, thói hư tật xấu, từ nhiều đời trước sẽ nổi lên. Lúc ấy, bạn
phải càng chịu khó chịu khổ hơn nữa thì mới từ từ làm nghiệp chướng
tiêu tan. Ðến khi lâm chung, sen vàng sẽ hiện ra rước bạn về Tây
Phương.
Người
đời thì làm sao hiểu đặng, do đó họ cứ ngày ngày đeo đuổi sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp - ngày ngày tạo nghiệp. Ðến khi lâm chung, quỷ
La-sát hiện ra bắt họ, thì họ không đi cũng chẳng đặng!
Bây giờ mình không xuất gia tu
hành, thì khi già mình cũng như cha mẹ mình: đầy dẫy phiền não, rồi
rớt vào vòng luân hồi. Do đó, xuất gia là phải rồi! Các bạn không
nên chấp trước, chẳng chịu học tấm gương của kẻ đi trước!
Chương VIII: Cảnh
Giới Của Chúng Sanh
1. Tâm Chúng Sanh
Vọng tưởng không có chủ tể. Phật (mới
là bậc) có chủ tể.
Tu làm sao mà về già càng tu càng
không quái ngại. Hễ muốn vãng sanh thì chỉ nhắm mắt như ngủ là đi
ngay. Chúng ta đêm nào ngủ cũng tựa như cái xác chết, chẳng biết
chuyện gì xảy ra xung quanh. Sáng tỉnh dậy, mở mắt ra là lập tức bắt
đầu tiến trình chấp trước; nhìn cái này là 'của ta', thấy cái kia là
'của mình'...
Các bạn không thể thấy được những
thứ vô hình hài, vô sắc tướng; do đó không có hứng thú, không thích
chúng. Vì vậy, các bạn chỉ ham thích truy cầu thứ có sắc tướng mà
thôi.
Lúc cha mẹ sinh bạn, bạn nào hay
biết gì. Khi lớn lên một chút thì bạn bị 'dính bụi trần', chấp chặt
quan niệm về cái ngã liền. Hễ chấp trước quan niệm về cái ngã thì sẽ
có phiền não ngay. Song le,
'Xưa nay không một vật,
Làm sao dính bụi trần?'
Những vị ở cõi trời thấy chúng ta
giống hệt như mấy con giòi đen, thứ giòi ở trong cầu tiêu. Ðức Phật
A-Di-Ðà phát 48 đại nguyện là để tiếp độ mình tới Thế-giới Cực-Lạc;
song mình cứ một mực tham luyến cõi Ta-Bà, cho khổ là vui, hệt như
mấy con giòi đen (cho cầu tiêu ô uế là nơi đầy thú vị)!
Mình
thấy cầu tiêu hôi hám không chịu nổi nên muốn vớt mấy con giòi ra,
thả chúng vào chỗ nước trong trẻo. Song lũ giòi ấy lại tham luyến
cái cầu tiêu ô uế hơn mọi thứ, thà chết chứ không chịu đi đâu cả!
Con người ta học làm điều xấu thì
rất dễ; còn học làm chuyện tốt thì khó lắm!
Bốn loài chúng sanh hễ ăn no rồi
thì ngủ, tâm lúc nào cũng tán loạn.
2. Thói Quen, Tập Khí
Kẻ thẳng thắn dễ khai mở trí huệ.
Cá tánh của mỗi người rất quan trọng.
Tánh
tình tốt, hiền hòa, thì đi tới đâu cũng hòa đồng được với mọi người,
tùy thuận được người khác. Song tùy thuận cũng có hạn lượng; bởi vì
đối với kẻ làm việc xấu thì mình không thể tùy thuận làm theo, mà
phải kiên định lập trường, nguyên tắc hành động.
Bản thân con người thì không xấu ác gì; chỉ có thói quen, tập khí là
hư xấu. Ai cũng có thói hư tật xấu, chỉ khác là kẻ ít người nhiều mà
thôi. Chỉ cần bạn hướng tâm tu Ðạo là đủ. Hễ bạn có thể tha thứ cho
ai, thì hãy tha thứ ngay. Ðừng bao giờ cho người ta là hư xấu.
Anh A có thói hút thuốc, đi đâu cũng phì phà khói thuốc. Anh B thì
có thói đa nghi, lúc nào cũng nghi ngờ này nọ. Có lần A hút trước
mặt B. Anh B tức giận, nghi rằng anh A khinh khi mình; thế là hai
đàng sanh ra cãi vã, xung đột. May có anh C biết thói quen của hai
người, nên đến giải hòa; khiến đôi bên từ đó sửa đổi, bỏ thói hút
thuốc, bỏ tánh đa nghi.
Bởi
vậy, thói xấu mà mình không tự nhận biết để sửa đổi, thì chỉ gây
phiền não cho kẻ khác. Tâm đa nghi chỉ hại mình, chướng ngại việc tu.
Khi thấy ai bất hòa, xung khắc, thì bạn chớ đổ dầu vào lửa khiến sự
tình thêm rắc rối; mà phải luôn tìm cách giải hòa!
Có kẻ hay phê bình, chỉ trích, hoặc nói xấu người khác. Thật ra, y
không tự hiểu việc làm của y là sai, mà y cũng không cố ý muốn chỉ
trích, nói này nói nọ. Chẳng qua là do thói quen xấu mà y đã huân
tập từ vô lượng kiếp về trước thúc đảy, khiến y bất giác làm vậy.
Trước
kia có một người, khi nói chuyện với ai anh ta cũng luôn nhìn ngang
liếc dọc, làm ra vẻ thần bí; khiến người khác khi nhìn anh ta thì họ
có cảm giác như anh ta đang nói xấu ai đó. Kỳ thực, nào phải vậy! Ðó
chỉ là thói quen xấu mà thôi.
Do đó,
làm việc gì bạn cũng phải tự tại, tự nhiên; nếu không, bạn có thể
rước đủ thứ phiền hà vô ích vào thân!
3. Danh lợi và Chậm Chạp
Mỗi người, ai cũng đầy một bụng phiền não.
Xưa
kia ở Ðại Lục (Trung Hoa), hễ người nào càng cố công tu hành, càng
có căn cơ, thì càng bị thử thách nhiều lắm. Có kẻ cố ý dùng đủ thái
độ vô lý lại chèn ép, khiêu khích người ấy. Hoặc có kẻ thấy người ấy
gần hoàn thành một công trình gì đó thì tới phá hoại cho sụp đổ tan
tành. Tuy nhiên, phải xem căn cơ của người ấy thế nào rồi mới thử
thách đặng. Nếu thử thách kẻ không có căn cơ, bản lãnh, thì y sẽ
sanh phiền não.
Ở Ðài
Loan thì khó mà thử thách ai. Bởi vì hầu hết các Ni-cô đều xuất thân
từ mái nhà ấm cúng của cha mẹ, quen thói nhõng nhẽo; cho nên đối với
họ, chỉ phải dùng toàn phương pháp thế gian mà thôi.
Ðời xưa, có vị Sư Phụ muốn thử coi công phu tu hành của đệ tử. Ngài
bảo đệ tử mang ngược dép lại.
Kẻ có
căn cơ, trí huệ, liền quỳ xuống; thì Sư-Phụ từ bi chỉ dạy. Kẻ ngu si
thì quả thật mang dép ngược lại ngay. Còn kẻ không có căn cơ thì lập
tức nổi đóa, sinh phiền não; cho rằng Sư-Phụ sai lầm, cố ý làm cho y
phiền não.
Khi kẻ có căn cơ nghe bạn nói về y (phê bình, chỉ trích, mắng nhiếc),
thì y biết rằng đó chính là lời Sư-Phụ y đang dạy dỗ; do đó, y biết
cầu sám hối.
Khi
kẻ thiếu căn cơ nghe bạn nói về y, thì y lập tức đấu khẩu, hỏi gặng
vì sao bạn dám nói động đến y; và rồi y sanh lòng tức tối, phiền não.
Y sẽ nghĩ tới mái nhà ấm cúng của cha mẹ y, nào là được ăn ngon, mặc
đẹp, lại được đi học..., những tấn tuồng cũ kỹ khiến y sẽ đọa lạc
mãi trong luân hồi.
Hễ việc gì tới mà mình tỉnh ngộ, thấu triệt, thì mình là kẻ có căn
cơ. Kẻ không có căn cơ thì việc gì (trái ý muốn, trái sở thích) đến
với y, y đều sanh phiền não, bực bội.
Kẻ không có căn cơ thì phiền não cả đống. Dù bạn cố ý giải thích, y
cũng không thể hiểu.
Không
trừ phiền não thì chánh niệm (sự suy tư đúng với chân lý hay Phật lý)
không thể hiện tiền.
Chương IX: Nhân Quả và Sám
Hối
1. Nhân Quả
Chỉ biết ăn uống mà không biết tu
hành, thì ăn nhiều vào, khó mà tiêu (nghiệp) đặng.
Vì sao con người luân hồi? Bởi vì
Thất Tình (bảy thứ tình cảm hay trạng thái tâm lý), Ngũ dục quá nặng
nề.
Khi
bị Thất tình và Ngũ dục làm mê hoặc, thì cả ngày người ta chỉ biết
truy đuổi tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, quyền vị, ăn uống, hưởng thụ
và ngủ nghỉ. Phiền não cũng theo đây mà sinh, rồi từ đó tạo đủ thứ
nghiệp.
Ðừng cho rằng không có luân hồi.
Có! Rất khổ!
Khi xưa, hai ngài Hàn Sơn và Thập
Ðắc (hóa thân của Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền) thấy người ta đang làm
lễ cưới thì vỗ tay cười lớn, nói rằng: 'Bạn thấy chàng rể cưới bà
ngoại của anh ta không? Xem kìa, tụi nó ăn thịt cô, dì của chúng đấy!'
Mấy
người kia nghe vậy liền mắng hai Ngài rằng: 'Hòa Thượng điên cuồng!
Nói bậy!'
Nhưng
khi Ngài Hàn Sơn kêu tên một con heo, thì con heo ấy chạy tới phía
Ngài liền: xác nhận là có luân hồi rồi!
Những ai thích đẹp đẽ, đi giày cao
gót, thì sau này (quả báo của tập khí đó) y tự nhiên sẽ đầu thai làm
ngựa, không cần phải mang giày gì cả!
Một người cứ ăn cho thật no thì
đầu óc hôn trầm, cứ muốn ngủ. Hễ ngủ nhiều quá thì sau này (quả báo)
làm thân rắn.
Con trâu tuy làm việc cực nhọc mà
nó lại không biết làm sao để thoát khổ. Làm thân trâu là nghiệp báo
do kiếp trước làm quan (công chức, nhân viên nhà nước) không thanh
bạch, không liêm khiết (ăn hối lộ), nên kiếp này phải trả nợ.
Có
một người làm quan, rồi đem tiền của (kiếm được do làm việc bất
chánh) trốn ra ngoại quốc. Cuối cùng y phải trả quả báo, đầu thai
làm trâu ở Ðài Loan này.
'Một đời làm quan xấu,
Chín kiếp làm trâu đền nợ'.
Con
trâu thì có hai sừng, mà cọp cũng phải kiêng sợ. Dần dần một ngày
kia con trâu cũng sẽ hiểu biết. Như trâu cày ruộng bây giờ, cũng là
giúp đỡ mình vậy.
Khi ai làm điều gì tốt, thì bạn
đồng ý, tán thành với y. Song khi làm không tốt mà bạn cũng tánh
thành, thì tội bạn sẽ tăng lên gấp bội.
Phải biết trân quý giấy trắng (có
thể viết chữ). Hễ tờ giấy nào có viết chữ kinh điển thì đừng vất
trong thùng rác; nên đốt nó đi. Ðây cũng là một thứ đức hạnh.
Hãy giữ gìn những chữ viết trên
giấy hay trên áo; dù là một chữ nhỏ cũng phải quí giữ nó. Chữ thêu
trên áo thì nên cắt ra rồi đốt đi, đừng vất vào thùng rác. Biết quý
trọng chữ như vậy thì (quả báo) mới biết đọc chữ. Ðó cũng là một đức
hạnh vậy!
Xưa
kia, cổ nhân dạy trung, hiếu, lễ, nghĩa, liêm, sỉ; do đó sản sinh ra
rất nhiều bậc Thánh. Ngày nay, không ai dạy về những đạo đức nhân
nghĩa ấy nữa, nên thời đại trở nên hỗn loạn. Do đó, đối với các sách
kinh, luận dạy về đạo đức cổ xưa ấy, mình phải biết quý trọng.
Ðồ vật tốt mà bạn không biết sử
dụng cho đúng đắn, đàng hoàng (không biết giữ gìn, bảo trì), rồi làm
nó hư đi; thì đó là lỗi bạn. Bạn phải gánh chịu hậu quả hoặc quả báo.
Khi xử lý, quyết định thi hành,
hoặc tiến hành bất kỳ công việc gì, bạn phải hết sức cẩn thận, bởi
vì cái gì cũng có nhân quả. Ví như những thức còn ăn được mà bạn lại
vất đi hoặc để cho thiu thối, thì bạn phải chịu quả báo của việc làm
ấy. Nhân quả thì không sai chạy mảy may, và không ai có thể chịu dùm
quả báo của bạn:
Việc
sanh tử của người nào thì người nấy lo; Cơm, ai ăn thì người đó no!
Có đồ vật tốt thì chớ làm cho nó
hư hỏng. (Ðừng cố ý làm hư; đừng lơ là, thiếu cẩn thận, thiếu tinh
thần trách nhiệm; hoặc không chịu học hỏi phương cách đúng đắn để sử
dụng hay bảo trì; cũng đừng chểnh mảng, bê bối, coi rẻ, chẳng quý
trọng tài vật.)
Phật, Bồ Tát, La Hán, Trời, Người,
A-Tu-La, Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, đều là do người mà ra. Hễ ai
tu hành đàng hoàng thì sanh vào đường tốt; tu bê bối, phạm Ngũ Giới,
thì đọa lạc đường ác.
2. Sám Hối
Khó được thân người; khó được nghe
Phật Pháp. Nay được thân người, phải gắng tu hành cho đàng hoàng.
Những
vị ở Trời tuy hưởng phước đức, song hễ họ khởi một ý niệm xấu thì sẽ
bị đọa lạc. Ðối với chúng ta, nếu mình có phạm tội lỗi, chỉ cần
thành tâm sám hối thì cũng sẽ được trong sạch như người vô tội vậy.
Cõi Người là cõi tu hành tốt nhất: được nghe Phật Pháp, được biết
cách làm sao để tu.
Khi ý niệm xấu khởi lên, nếu bạn
chưa nói ra và chưa làm theo nó, thì bạn có thể sám hối trong lòng,
quyết không tái phạm.
Hỏi: Khó mà giữ ý nghiệp cho thanh
tịnh, vì thói hư tật xấu tiêm nhiễm, tích tập từ kiếp vô thủy, nay
gặp duyên xấu nên tự nhiên hiện khởi. Lúc ý niệm xấu ấy khởi lên,
mình tức khắc sám hối, thì có phải chịu quả báo xấu không?
Ðáp:
Ý niệm ác chỉ mới nghĩ trong tâm, nếu sám hối liền thì không có quả
báo xấu lại. Nếu ý niệm xấu đã thể hiện ra nơi miệng (khẩu nghiệp),
hoặc mình đã thực hành nó rồi (thân nghiệp), thì sẽ phải chịu quả
báo. Mỗi giây mỗi phút mình phải có tâm sám hối; có tâm sám hối thì
ý niệm lành mới khởi lên đặng.
Nói với người tu thì phải xem căn
cơ của họ ra sao rồi mới nói.
Ví
như đối với kẻ có căn cơ thì mình nói: 'Phạm tội lỗi rồi, bạn có thể
sám hối. Tội do tâm tạo ra, vì vậy hãy thành tâm mà sám hối.' Như
thế thì người kia tuy có tội lỗi, song y có thể sám hối rồi trở lại
thanh tịnh: không còn tái phạm, dụng tâm tu Chánh Ðạo.
Ðối
với những kẻ không có căn cơ, mình nói thế không ổn. Bởi vì dạy họ
như vậy, họ cho rằng cứ việc mặc tình tạo tội lỗi, rồi tâm sám hối
là xong ngay! Vì thế họ vĩnh viễn không cách gì thành tâm sửa đổi
lỗi lầm được, dù cho họ có sám hối mãi hoài!
Giới luật có đặt ra trường hợp
ngoại lệ, không phải phạm nguyên tắc. Bạn phải học cho kỹ để tránh
hiểu lầm.
Nếu
bạn vô ý phạm lỗi thì có thể sám hối. Cố ý phạm lỗi thì không thể
sám hối (Vô ý phạm lỗi là chỉ lúc chưa xuất gia, chưa biết Giới Luật.
Cố ý phạm lỗi là chỉ sau khi đã xuất gia rồi). Sám hối một thứ tội
gì đó không được vượt quá ba lần (nghĩa là không được tái phạm quá
ba lần).
Ðối với ý-nghiệp thì mình không sợ
niệm ác khởi lên: chỉ sợ là mình thức tỉnh, nhận biết nó chậm mà
thôi. Do đó, hễ vừa khởi ác niệm thì phải lập tức sám hối ngay.
Một khi đã phạm lỗi, mình phải
luôn nhận rằng: 'Tôi làm lỗi'; rằng 'Tôi xin sám hối'; rằng 'Xin bạn
hãy dạy tôi.' Ðừng sanh phiền não thì mới hết ngã tướng, và không có
ý niệm xấu ác dấy khởi.
Một kẻ càng tu hành bao nhiêu,
càng luôn có cảm giác là y cần phải sám hối bấy nhiêu.
Cá lớn ăn cá nhỏ. Con người cũng
như cá lớn: cái gì cũng ăn, dù là thịt cọp cũng ăn luôn; vì thế nên
nghiệp chướng sâu dày. Nếu không khéo thành tâm sám hối, lạy Phật
cho nhiều, thì đến lúc Ðức Di Lặc hạ sinh ở cõi này (ý nói là trải
qua một thời gian lâu lắm), mình cũng không có chút căn lành gì đâu.
Nếu
biết tu hành, lạy Phật nhiều nhiều, cầu nguyện sám hối, rộng trồng
căn lành, thì biết đâu tới lúc Ðức Di Lặc hạ sinh, mình có thể được
làm đệ tử của Ngài!
Chương X: Lời Cuối
1. Thời Ðại Ðã Thay Ðổi
Rồi!
Thầy giáo ngày nay và ngày xưa
khác nhau xa lắm.
Thời
Hán, thầy giáo thì kính trọng đạo đức, lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Thời
nay, thầy giáo bản thân không làm xong (không đủ đức độ). Phật học
ngày nay cũng kém xa ngày xưa.
Hồi xưa ai cũng coi trọng lễ,
nghĩa, liêm, sỉ; do đó mới có bậc Thánh Nhân xuất hiện.
Ðời
nay không ai những điều ấy là giá trị, vì vậy xã hội ngày càng hỗn
loạn. Do đó mình phải có thái độ cung kính đối với kinh điển.
Ngày xưa có người họa sĩ có thể vẽ
hình mặt trời hệt như thật, đến độ người ta có thể đem lúa ra phơi
dưới bức tranh! Có kẻ vẽ con chim vô cùng sống động, đến độ nó có
thể bay thật sự! Sở dĩ họ làm như thế được là do tu luyện mà ra.
Người
thời nay ai mà vẽ được con chim biết bay thực sự? Ai ai cũng ỷ lại
vào kỹ thuật máy móc hoặc hóa học chế biến cả!
Hiện nay, Phật-giáo trên toàn thế
giới đại thể thì có hoằng Pháp, truyền bá. Song le, tuy đạo Phật phổ
biến như vậy, nhưng lại rất khó tìm được kẻ chân chánh tu hành. Cũng
có kẻ sớm đến với Ðạo, thiện căn khá tốt; song, kẻ xuất gia thì vẫn
ít.
Xưa kia, ở chùa bên Ðại Lục (Trung
Quốc), việc xuất gia không có dễ dàng đâu. Hễ vừa đi tu là bạn phải
làm việc lao động tay chân ở chùa một thời gian (khổ công như cày
ruộng, cuốc đất..), rồi sau đó mới được phép làm những việc nhẹ
trong chùa.
Ở Ðài
Loan (Trung Hoa), việc xuất gia rất phổ biến, rất bình thường; và
phần lớn là căn cứ theo học vấn mà xét việc xuất gia.
Ở Ðại Lục xưa kia, xuất gia là để
liễu thoát sanh tử: do đó, tu hành cực khổ, học cái khổ hạnh của
Phật, Bồ Tát để tu luyện bản thân. Tại Ðại Lục, kẻ xuất gia phải
chịu làm việc lao tác cực khổ (khổ hạnh) trong ba năm; có chịu cực
khổ thì mới giải thoát được!
Người nay và người xưa khác nhau
xa: cổ nhân, Ðạo-tâm có mười phần; người đời nay, Ðạo-tâm chỉ có một
phần.
Người tại gia hay xuất gia đời nay
sinh hoạt sung sướng, tốt lắm. Khi cuộc sống quá sung sướng thì sẽ
sinh ra nhiều tai nạn. Chấp trước vào sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp, thì bịnh hoạn cũng sẽ nhiều hơn.
Ăn cơm đạm, mặc áo thô: tu hành là
cứ ở đây mà dụng công. Song hiện tại, ai ai cũng nghiên cứu việc ăn
ngon, mặc đẹp. Cả ngày bận rộn vì mấy chuyện ấy. Mình nguyện muốn
tiêu nghiệp chướng, nay biến thành tiêu hao mất phước huệ; rồi thì
nghiệp chướng cũng theo đó mà ùa tới thôi.
Xưa kia cơm, canh, rau cải, thật
giản dị - cứ việc bỏ hết vào luộc là xong (gọi là La-hán thái). Giờ
đây, ai cũng chú ý, kén chọn việc ăn uống đến độ người xuất gia ăn
còn ngon hơn cả kẻ thế tục nữa!
Hồi xưa, ở Ðại Lục, các thầy tu ở
chùa mặc thì mặc áo vải bố (thứ vải mặc làm đám tang) nhuộm thành
màu xám; ăn thì ăn cháo lỏng như nước lã (do đó chén bát không cần
phải rửa kỹ), cộng thêm một chút đồ ăn giản dị; chứ không phải như
các bạn bây giờ được ăn cơm trắng, lại có đủ món, nhiều món ăn như
vậy.
Chùa chiền ở Trung Hoa xưa kia, hễ
ai để đồ đạc bừa bãi thì chùa đều gom góp, tịch thâu lại, bất kể là
của ai. Nếu bạn muốn tìm đồ mình mất thì phải đi hỏi Thầy Quản-lý.
Ở chùa bên Trung Hoa khi xưa, khi
có ai phạm lỗi lầm, Thầy Quản-lý không cần phải nói dông dài gì cả,
mà chỉ việc viết tên người ấy lên bảng bố cáo; người ấy đọc được là
tự động rời chùa ngay.
Thời
nay, Thầy Quản-lý có tới nói lỗi lầm của bạn (để mời bạn cuốn gói),
bạn (chẳng những không thèm nghe) lại còn tranh chấp cãi vã với thầy
ấy nữa; thật là sai lệch quá xa!
2. Khai Thị Ngộ Nhập
Tự mình sanh phiền não, tự mình
phải giải mở. Hãy đem lời Sư-Phụ khai thị ra áp dụng.
Sư-Phụ khai thị nhiều như vậy, giờ
đây xem bạn thọ trì ra sao.
Kẻ biết nghe, khai thị mới có ích.
Kẻ không biết nghe, khai thị cũng vô dụng.
Nghe giảng khai thị, không luận là
nghe nhiều hay nghe ít, mà là coi xem nghe vào hay không vào (tâm).
Nghe vào tâm rồi thì phải biết áp dụng.
Bạn nghe lời khai thị của Sư-Phụ
hay quá. Song hay là Sư-Phụ hay (chứ không phải bạn hay). Vẫn phải
cần bạn đem thực hành.
Các bạn lạy tôi làm Thầy; tôi dạy
các bạn Phật Pháp. Khi tôi không còn ở đời, các bạn phải theo thứ
Pháp này mà tu hành thì Ðạo-tâm mới kiên cố, con đường xuất gia mới
viên mãn.
Khi học Phật Pháp, bạn nghe Sư-Phụ
khai thị cho một câu thì tự mình phải làm sao giác ngộ, lãnh hội
được câu ấy. Không phải cần nhiều lời. Khi lời nhiều thì các bạn vẫn
còn bị xoay chuyển.
Hỏi: Sau khi Sư-Phụ viên tịch, nếu
chúng con tưởng nhớ Sư-Phụ thì phải làm sao?
Một
thầy (Thầy Truyền Vân) phát biểu: 'Chính Phật-tánh của Sư-Phụ nói
Pháp, khai thị cho chúng ta; chứ không phải là cái thân giả hợp của
Ngài. Có nhớ tưởng tới Ngài thì mình hãy phát tâm dũng mãnh, tinh
tấn tu hành!'
Lời tôi giảng là nhắm thẳng vào
các bạn. Ðừng nghĩ rằng tôi nói lỗi xấu của riêng bạn hay của người
nào đó, rồi sinh ra phiền não, bực bội.
Nếu
bạn có lỗi thì hãy tự thừa nhận, sám hối, phản tỉnh, sửa đổi tánh
nết, hành vi.
Cứ
thường chấp trước thì dễ sinh phiền não. Bạn có phiền não, rồi lại
ảnh hưởng, làm kẻ khác cũng bực bội, rồi cả đại chúng đều sinh loạn.
Thế thì làm sao 'thống lý đại chúng' làm cho mọi người hoà hợp? Phải
sửa mình, tề gia trước, rồi sau mới trị quốc, sửa người được.
Kẻ có tánh thẳng thắn thì tuy lời
nói không êm tai, không dễ nghe cho cho lắm, song bạn chớ cho là lời
xấu ác. Có kẻ ăn nói hay ho lắm, song tâm thì không tốt gì cả. Do đó,
bạn phải chú ý, phải hiểu suốt tâm lý nhân tình.
N
hiều khi kẻ trực tâm lời nói không có ý xấu gì cả, song người nghe
thì cong vạy, khúc mắc, xuyên tạc; thậm chí còn cho rằng anh ta suy
nghĩ phức tạp lắm nữa!
Ðừng nên nghe người bừa bãi. Ðừng
nghe bên này nghe bên nọ rồi không biết ai đúng ai sai. Khi tâm bạn
không tự làm chủ thì dễ thành tán loạn, dấy vọng tưởng, sinh phiền
não.
Nghe cũng phải biết cách: cần nghe
Phật Pháp, chớ nghe chuyện thế tục.
Nghe
Phật háp thì được giải thoát, không còn ngã tướng, không còn cái 'tôi'.
Nghe chuyện trần tục tức là có chuyện thị phi, phát sinh ra tướng
ngã (có 'tôi', có 'anh'; có 'đúng', có 'sai'). Ðó là chủng tử xấu,
về sau khó tẩy trừ.
Lời nói đúng sự thật thì bạn mới
nên nghe. Lời không đúng chân lý mà bạn nghe vào, thì có thể gieo
ảnh hưởng xấu cho kẻ khác, mà tự mình phải gánh chịu quả báo.
Kẻ biết nghe, thì chỉ một hai lời
nói là y hiểu ngay; không cần phải kể lể rườm rà.
Khi
xưa mấy thầy giảng kinh, họ đều dành lại một phần để người nghe tự
tìm hiểu và thể hội. Họ không giảng hết, cũng không kể chuyện cổ
tích dài dòng.
Kẻ có căn cơ, thì bạn nói gì là y
nghe ngay. Kẻ không có căn cơ thì khi nghe bạn nói, y liền tán dóc,
lép nhép không ngừng.
Tự mình phải giác ngộ bản lai diện
mục của mình. Nghe (giảng khai thị) chỉ là cảnh giới của Lục trần mà
thôi.
3. Pháp Ngữ
Hỏi: Mỗi ngày trì Chú, lạy Phật,
lại tu thêm Pháp-Hoa Tam-Muội, song tâm vẫn còn lăng xăng, tạp nhạp
là vì sao?
Ðáp:
Mình không tự chủ thì không xong. Chuyên tâm niệm Phật, trì Giới,
lạy Phật là đủ!
Hễ
công việc, sự tình càng nhiều thì bạn càng chấp trước, tâm càng
không an định. Ðừng chấp trước vào cái hay cái tốt của kẻ khác. Kẻ
có căn cơ thì khi nhìn điều xấu xa của người, y biết vận dụng (tránh
phạm cùng lỗi) để tu tiến bộ hơn. Kẻ không có khả năng thì chỉ sinh
thêm phiền não.
Muốn
định tâm, rất khó. Do đó phải tìm cái tâm bất sanh bất diệt, đừng
tìm những thứ sanh diệt bên ngoài. Cần tìm cái mà xưa nay tự-tánh
sẵn có. Tất cả mọi thứ nghe được, thấy được, ở bên ngoài, đều không
dính dấp gì tới mình (chân-tánh) cả.
Hình tướng người Tỳ-Khưu là hình
tướng Phật. Hễ thấy thầy Tỳ-Khưu tới, bạn nên lập tức chắp tay đón
chào, lễ lậy. Không cần phải phân biệt, đánh giá thầy này có tu
hành, thầy kia không tu hành.
Biết tụng niệm, gõ khánh, đánh
chuông là việc rất tự nhiên; không cần để tâm học tập. Khi trí huệ
khai mở thì tự nhiên bạn biết làm ngay.
Trong Tam Giáo (Nho, Lão, Phật),
thì Nho-giáo dạy đạo đức, lễ, nghĩa, trung, hiếu. Lão giáo tuy cũng
dạy tu Ðạo, song không dạy Phật-lý (chân lý cứu cánh), nên không
giải thoát. Cuối cùng chỉ có quy nạp về Phật-môn Tịnh-Ðộ (của
Phật-giáo), cầu vãng sanh, thì mới liễu thoát sanh tử.
Phật-giáo và Lão-giáo (Ðạo-giáo)
rất khác biệt nhau. Tu đạo Phật là vì liễu sanh tử. Tu đạo Lão là để
trường sanh bất lão. Song, dù sống tới trăm ngàn tuổi vẫn không phải
cứu cánh, vì không thoát được sanh tử.
Trong
đạo Lão cũng có nhiều người tu rất tinh tấn, chứng được thân La-hán
(như Lã-Ðông-Tân, Hán-Chung-Ly); song, thân La-Hánh của họ không
phải cứu cánh. Các vị La-hán bên Phật giáo thì đã đoạn được hai thứ
kiến-hoặc và tư-hoặc (Kiến và Tư hoặc là hai thứ si mê của cái nhìn
và của tâm tư khiến mình không thấy được Phật-tánh. Hai thứ si mê
này rất thâm sâu vì được hình thành và nuôi dưỡng từ nhiều đời nhiều
kiếp bởi thói quen và chủng tử ô nhiễm lầm lẫn rằng thật có cái 'ta'
và vạn pháp), siêu thoát luân hồi. Bên Ðạo-giáo, nhiều vị được thân
La-hán cũng không phải chết, có khi họ sống trong núi đến hàng trăm
năm.
Chúng
ta cốt yếu cần tu để giải thoát sanh tử. Do đó, mình cần phải xả
thân, đừng sợ cái thân này cực khổ. Phải nhớ rằng, tu đạo Phật là tu
để ba nghiệp (thân, khẩu, ý - hành động, lời nói, ý nghĩ) được thanh
tịnh, sáu căn được trong sạch, thoát khỏi cái khổ cả sanh, già, bệnh,
chết.
4. Lời Của Thầy Truyền Văn
Ðừng chấp trước tốt, xấu. Ðừng rớt
vào cực đoan (nhị biên: vui-buồn, hay-dở, đúng-sai...), Nếu chấp
trước vào chuyện xấu, thì vĩnh viễn bạn sẽ bị tắc nghẽn ở chỗ ấy,
không thể tiến bộ. Ví như bạn có làm lỗi lầm gì, trong tâm cảm thấy
rất thống khổ, hối hận; rồi cứ âu sầu mãi, không thể mở rộng tấm
lòng. Nếu bạn cứ mãi ôm chặt chuyện dĩ vãng, thì không thể nào an
tâm tu Ðạo được.
Mọi
việc đều là huyễn hóa (như hình ảnh, cảnh tượng hiện ra trong bọt
xà-bông), đều là không thật. Việc đã qua rồi thì thôi. Cứ chấp chặt,
ôm ấp mãi thì chỉ phiền não.
Nguyện thì phát ở trong lòng:
không phải đem ra nói. Lòng cần nghị lực, theo nguyện mà làm.
Gặp cảnh tốt hay xấu, chớ có phản
ứng ra ngoài mặt: trong lòng biết là đủ.
Sư-Phụ dạy rằng Ngài giống như một
cây cầu. Ngài đã đi trước, dựng lên cái cầu để mình đi qua. Ngài
không dám tự cho rằng Ngài dạy ai cả. Ngài nói Ngài chỉ kể lại những
kinh nghiệm trong quá trình tu hành cho mình nghe, để mình nghiên
cứu, học hỏi mà thôi!
_________________________________________
Tám Quy Luật
Của Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển
1. Dịch giả phải thoát mình ra
khỏi động cơ tự truy cầu danh lợi.
2. Dịch giả phải tu tâm dưỡng
tánh, dứt bỏ đi thói cao ngạo.
3. Dịch giả phải tự chế, không
được tự khen rồi chê bai kẻ khác.
4. Dịch giả không được tự cho mình
là tiêu chuẩn, là thước đo, rồi hạ thấp kẻ
khác bằng cách tìm lỗi lầm nơi
tác phẩm của họ.
5. Dịch giả phải lấy tâm Phật
làm tâm mình.
6. Dịch giả phải dùng Trạch
Pháp Nhãn để phán xét đâu là chân lý.
7. Dịch giả phải cung kính cầu
thỉnh Cao Tăng, Ðại Ðức ở mười phương chứng
minh cho bản dịch của mình.
8. Dịch giả phải hoan hỷ truyền bá
giáo nghĩa nhà Phật bằng cách in Kinh, Luật,
Luận một khi phần phiên dịch
của mình được chứng minh là đúng đắn
|