HỌC VI NHÂN SƯ, HÀNH VI THẾ PHẠM

Những bài khai thị buổi sáng của Hòa thượng Tịnh Không

Chuyển ngữ theo bản in của Vân Lâm Tịnh Tông Học Hội, tháng 9-2003

 

TẬP I

Mục Lục

A.   Khai thị về phương pháp tu trì

1. Tu phước và tu huệ

2. Sự quan trọng của định - huệ

3. Tổng cương lãnh của việc tu hành

4. Công phu niệm Phật

5. Xung đột

6. Tâm Phật

7. Chấp tướng

8. Nhẫn nhường

9. Giải hành tương ứng

10. Phương pháp niệm Phật

11. Nguyên tắc tu hành

12. Phát bồ đề tâm, một hướng chuyên niệm

13. Làm thế nào mới được vãng sanh

14. Sám hối.

15. Ba giai đoạn của sự tu hành

16.  Bồ Tát hạnh

17. Tu thanh phước (phước báo thanh tịnh)

18. Mục tiêu của sự tu hành

19. Ly tướng tu phước (tu phước nhưng chẳng chấp tướng)

20. Phước báo và trí huệ

21. Tùy hỷ

22. Khóa tụng sáng tối

23. Tâm thanh tịnh

24. Học

25. Lục Hòa kính

26. Phước huệ nhân quả

27. Thật thà

28.  Thừa nguyện tái lai

29.  Sửa lỗi

30. Tâm thanh tịnh

31. Chuyển biến phước đức thành công đức

B.   Luận sự sanh tử trọng đại

1.  Liễu sanh tử

C.   Khuyến khích thành kính nhân sanh

1. Thành kính

D. Khuyên tin sâu nhân quả

1.     Nhân quả

2.     Bố thí pháp

E.  Hiểu rõ giáo dục Phật đà

1.     Hiểu lý

2.     Bản chất của Phật giáo

3.     Giới định huệ

F. Ðiển tích phải đọc

1.  Ngũ kinh nhất luận

G. Trả lời nghi vấn học Phật

1.     Mục đích của việc xuất gia

2.     Năm trăm năm sau

3.     Công việc của người xuất gia

4.     Chánh tri chánh kiến

5.     Hoằng pháp

6.     Ðời sống của người xuất gia

7.     Vãng sanh

8.     Ma chướng

9.     Chánh tri chánh kiến


 

Học vi nhân sư hành vi thế phạm, Tập 1

          Hòa thượng Tịnh Không thuyết giảng

 

Ðây là những bài khai thị buổi sáng của hòa thượng Tịnh Không cho đồng tu tại Hoa Tạng Ðồ Thư Quán, chưa được hòa thượng giám định.  Ðây chỉ là những bài ghi chép tóm tắt của đệ tử Ngộ Hữu, chỉnh lý cho gọn rồi viết thành bài nháp này để cúng dường độc giả.

 

A. Khai thị về phương pháp tu trì    (Buổi sáng 02-01-95)

 

1.     Tu phước và tu huệ.

Phước và Huệ là hai mục tiêu lớn trong việc tu học Phật pháp.  Lúc chúng ta làm lễ truyền thọ Tam Quy Y, trong lời thệ nguyện có câu ‘Quy y Phật, Nhị Túc Tôn’, ‘nhị’ ở đây là phước và huệ, ‘túc’ là đầy đủ, viên mãn.  Do đó có thể biết thành Phật là tu học phước và huệ viên mãn, được thế gian và xuất thế gian tôn kính.

Người trong thế gian xưa nay, trong nước và ngoài nước chẳng ai không cầu phước huệ, thiệt ra chúng sanh vốn sẵn có phước huệ, trong tự tánh vốn sẵn đầy đủ, hơn nữa còn viên mãn rốt ráo.  Tại sao hiện nay phước huệ của chúng sanh chẳng còn nữa?  Phật nói chúng ta có hai thứ chướng ngại cản trở, đó là Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng.  Phiền Não chướng ngại phước đức, Sở Tri chướng ngại trí huệ.  Người có Phiền Não Chướng thì phước đức chẳng có; người có Sở Tri Chướng thì trí huệ chẳng còn nữa; cho nên chỉ cần dẹp bỏ hai chướng này thì phước huệ liền hiện tiền.

Làm thế nào để tiêu trừ hai chướng ngại này?  Việc này phải nhờ tu đức.  Phước huệ  vốn là tánh đức, nếu chẳng có tu đức, phước huệ trong tự tánh chẳng thể hiển lộ, thế nên phải tu hành.  Làm thế nào để tu?  Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Phật dạy trước hết phải tu Tam phước.  Nếu chúng ta chân chánh có thể tin tưởng, chân chánh có thể hiểu đạo lý này, chịu phát tâm tu học thì tri kiến này là trí huệ chân thật; ai thực sự chịu làm thì người đó có phước.

Mọi người đều biết ‘Tam phước’ nhưng tại sao chẳng làm được?  Vì nhận thức chẳng đủ, nhận thức chẳng đủ tức là chẳng có trí huệ.  Chúng ta nhận thức được một phần thì gắng sức làm một phần.  Nhận thức được hai phần thì tự nhiên làm được hai phần, người hoàn toàn chẳng chịu làm là người chẳng có phước huệ.  Từ điểm này có thể biết trên phương diện tu đức thì tu huệ và tu phước là hai thứ bổ xung và thành tựu lẫn nhau.

Trong kinh điển đức Phật thường dạy: ‘Thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói’.  Câu này là dạy chúng ta tu hành chân thực.  Ðặc biệt là ‘vì người diễn nói’, diễn là biểu diễn, là dạy cho chúng ta làm [ra thành tích] cho người ta xem.  ‘Nói’ tức là vì người giảng giải, khuyên người học Phật, thế nên ‘diễn’ là thân giáo [lấy bản thân làm gương mẫu cho người], ‘nói’ là ngôn giáo.

 

2. Sự quan trọng của định - huệ  (Buổi sáng 03-01-95)

Mấu chốt của sự học Phật ở tại ‘định’ – ‘huệ’.  Kinh Kim Cang dạy: ‘Chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’ (Bất thủ ư tướng, như như bất động).  Ðịnh tức là như như chẳng động, huệ tức là chẳng chấp vào tướng.  Trong kinh Kim Cang đức Phật dạy Tu Bồ Ðề quan trọng nhất là hai câu này.  Chúng ta cũng có thể dùng hai câu này để phản tỉnh, kiểm điểm mình có trí huệ hay chăng, mình có công phu hay chăng.

Nguyên nhân học Phật chẳng thể thành tựu là vì chẳng có định, chẳng có huệ.  Nói một cách khác tức là mê hoặc điên đảo, trong kinh thường gọi là ‘người đáng thương xót’.  Vì lúc khởi tâm động niệm có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, lúc đối xử với người khác vẫn còn tham, sân, si, mạn, vẫn còn đố kỵ, tạo ra nghiệp nhân của ba ác đạo.  Bất luận là tham thiền, học kinh giáo, hay niệm Phật, có những hành vi này thì chẳng có cách chi để thoát ly luân hồi, đích thực là phải ghi nhớ lời dạy của Huệ Năng đại sư: ‘Người tu đạo chân chánh chẳng nhìn lỗi người khác’, phải thấy lỗi của mình chứ chẳng thấy lỗi của người thế gian, đây là hai câu quý báu đại sư Huệ Năng dạy cho người đời sau.  Nếu chẳng dụng công nơi việc này, đời này cũng sẽ giống như những đời trước, nhất định cũng sẽ luống qua.  Tại sao lại luống qua?  Vì nhịn chẳng được.  Nếu chẳng nhẫn nhịn thì làm sao có định?  Lục Ba La Mật cũng giống như đi lên sáu tầng lầu, nếu không lên tầng thứ ba thì chẳng có cách chi lên đến tầng thứ tư, chỉ có bố thí, trì giới, chẳng có nhẫn nhục thì làm sao tu hành thành công được?  Cho nên thứ tự tu học Lục Ðộ là có nhẫn nhục, tinh tấn, mới được thiền định, có được định và huệ thì mới thành tựu.  Người có định và huệ thì tâm lượng sẽ lớn, và sẽ tương ứng với tự tánh.

Niệm Phật vãng sanh cũng vậy, chẳng đạt đến tầng thứ sáu thì niệm Phật chẳng thể vãng sanh.  Ðiều kiện thấp nhất của niệm Phật vãng sanh là công phu thành phiến (thành khối), nếu chẳng có định - huệ thì công phu làm sao thành phiến được.  Thành phiến nghĩa là thế nào?  Lục Tổ nói rất hay: ‘chẳng thấy lỗi của người thế gian’, đây tức là hình dáng của công phu thành phiến.  Vẫn còn thấy lỗi thế gian thì nhất định công phu chẳng thành phiến, tại vì trong tâm của bạn vẫn có phân biệt, chấp trước, vẫn còn chướng ngại.

Trong Niệm Phật đường vị sư chủ trì thường nói: ‘Buông xuống thân tâm thế giới’.  Nếu bạn buông không nổi thì tâm sẽ chẳng thanh tịnh.  Nhìn từ thế gian pháp, nếu mọi người đều có thể thấy lỗi lầm của mình, chẳng thấy lỗi người khác, mọi người trong thế gian sẽ có thể chung sống hòa bình, làm sao thế giới còn đấu tranh nữa!  Xã hội nhất định sẽ tường hòa, thế giới nhất định sẽ đại đồng!

Những gì trong kinh nói đến chẳng phải niệm qua một lần là có công đức đâu, quan trọng là phải làm được những điều ấy, chỉ đọc mà chẳng làm thì không có ích gì cả.  Lục Tổ dạy rất hay: ‘Việc lớn sanh tử, phước chẳng thể cứu, phải có định - huệ mới có thể cứu; giải ngộ chẳng thể cứu, phải chứng ngộ mới cứu được’.  Lúc còn tại thế thầy Lý thường dạy: ‘Người tu hành phải cải tâm’ (cải tâm nghĩa là cải thiện tâm niệm).  Cải thiện tâm rồi, hành vi tự nhiên sẽ thiện.  Nếu chỉ sửa đổi trên hành vi, chẳng sửa đổi trong tâm thì chỉ là làm giả bộ bên ngoài, trong tâm vẫn còn vọng tưởng, chấp trước, cũng vẫn y như cũ, chẳng có ích chi, quan trọng là phải sửa đổi trong tâm.

 

3. Tổng cương lãnh của việc tu hành   (Buổi sáng 25-01-95)

Tổng cương lãnh của việc tu hành chẳng qua chỉ là phá bỏ hai thứ chấp trước và đoạn phiền não mà thôi.  Người Tiểu Thừa thì vì phá ngã chấp mà phá ngã chấp nên phương pháp của họ còn vụng về.  Dùng công phu thiền định thâm sâu để đè nén phiền não, chấp trước, để cho nó chẳng hiện hành.  Sau khi chứng được Sơ quả thì phải tới lui trong cõi Trời và cõi Người bảy lần nữa mới đoạn hết Kiến Tư Hoặc, xuất ly tam giới.

Phương pháp của Ðại Thừa vô cùng khéo léo, dạy cho chúng ta phát Bồ Ðề Tâm, chuyển phiền não thành Bồ Ðề, là dùng phương pháp chuyển biến.  Thiệt ra phiền não chẳng thể đoạn được, tại vì phiền não là chỗ khởi dụng của tự tánh, nếu đoạn hết phiền não thì đương nhiên tự tánh cũng bị đoạn mất luôn.  Cho nên chỗ khởi dụng của tự tánh khi giác ngộ thì gọi là Bồ Ðề, khi mê thì gọi là phiền não, phiền não và Bồ Ðề là một sự việc, chỉ khác nhau ở chỗ mê hay ngộ.  Thế nên phương pháp tu hành của Ðại Thừa là chuyển mê thành ngộ; có thể chuyển mê thành ngộ tức là có thể chuyển phiền não thành Bồ Ðề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn.  Ðại Thừa dùng phương pháp chuyển biến là tuyệt đối chính xác, đối với lý và sự đều tương ứng.  Chỗ này cũng nói rõ người Ðại Thừa cao minh hơn Tiểu Thừa, người Tiểu Thừa chẳng có trí huệ nên phải dùng cách đè nén; người Ðại Thừa có trí huệ nên chuyển biến trở lại.

Gương mẫu tu học của Ðại Thừa là năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm.  Năm mươi ba lần tham vấn này gồm có mọi người trong các ngành nghề, nam nữ già trẻ, thế gian và xuất thế gian, hết thảy đều tu Bồ Tát hạnh, vả lại còn là Bồ Tát cao cấp -- Phổ Hiền hạnh.  Thế thì chúng ta rốt cuộc có học được hay chưa?  Trong sanh hoạt mỗi ngày từ sáng đến tối có phải chúng ta đang tu Bồ Tát hạnh hay không?  Có tu hạnh Phổ Hiền không?  Nếu có thì mới hy vọng thành Phật, nếu không thì vẫn phải chịu sanh tử luân hồi.

Phải tu học như thế nào?  Dùng những điểm chính yếu để nói thì là làm thế nào áp dụng Lục Ðộ vào trong đời sống hằng ngày.  Làm được Lục Ðộ trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Bồ Tát, nếu làm được mười nguyện trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát rồi đó.  Nên biết cội gốc của Ðại Thừa là phát Bồ Ðề tâm, Bồ Ðề tâm là gì?  Tức là độ hết thảy chúng sanh.  Dùng ngôn ngữ ngày nay thì độ hết thảy chúng sanh nghĩa là dốc toàn tâm, dốc hết sức để giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, tâm ấy là tâm Bồ Ðề.

Làm thế nào để thực hiện?  Lục Ðộ và thập nguyện là phương pháp.  Phải thực hiện Lục Ðộ và thập nguyện trong đời sống, sự nghiệp, đó tức là hành Bồ Tát đạo.  Lục Ðộ tức là Bồ Tát đạo, thập nguyện tức là Phổ Hiền Bồ Tát đạo.  Việc hành Phổ Hiền hạnh nói trong kinh Vô Lượng Thọ nghĩa là tu thập nguyện vương.

‘Bố thí’ nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là ‘hy sinh, cống hiến’.  Tự mình chịu hy sinh, chịu cống hiến cho đại chúng, chịu cống hiến cho đoàn thể.

‘Trì giới’ tức là tuân giữ pháp luật, tuân giữ luật lệ, quy củ.

‘Nhẫn nhục’ tức là nhẫn nại.  Phải biết nhẫn nại trong công việc, đặc biệt là những sự việc liên quan đến người khác; chúng sanh có phiền não, ân oán, bất bình tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay.  Chúng ta bất kỳ lúc nào cũng có thể gặp được nên phải nhẫn nhịn; đối với hoàn cảnh tự nhiên cũng phải biết nhẫn nhịn.

‘Tinh tấn’ tức là cầu tiến bộ.  Không thể nào ‘dậm chân tại chỗ’ hoài, lưu lại trong một phạm vi, một giới hạn hoài.  Có rất nhiều đại đức học Phật, tu trì tuy rất tốt, nhưng không thể hoằng pháp lợi sanh, nguyên nhân ở tại chỗ nào?  Họ cứ ‘dậm chân tại chỗ’, không chịu tinh tấn.  Vì thời đại bất đồng cho nên ý thức, hình thái, phương thức sinh hoạt của chúng sanh cũng không giống nhau.  Trong thời đại nào có phương pháp hoằng pháp của thời đại đó, cũng có phương pháp thực hiện Lục Ðộ, thập nguyện của thời đại đó, cứ giữ chặt phương pháp thời xưa là không được.  Sau khi Phật pháp từ Ấn Ðộ truyền sang Trung Quốc thì liền thay đổi rất nhiều; cách sinh hoạt hằng ngày lúc trước [ở Ấn Ðộ] là đi trì bát (khất thực), ngủ dưới gốc cây, mỗi ngày ăn một bữa mà thôi.  Sau khi truyền đến Trung Quốc thì tiếp nhận sự cúng dường của các vị đồng tu tại gia nên chẳng trì bát nữa, tất cả hoàn cảnh sinh hoạt đều thay đổi.  Thế nên phải thích ứng với những nguyên tắc ‘hiện đại hoá, bổn thổ hóa, sanh hoạt hóa’.  Ðây mới là ý nghĩa chân chánh của sự tinh tấn.  Chúng ta phải suy nghĩ từ phương diện này – trong sanh hoạt thường ngày làm thế nào để cầu Giác, cầu Huệ, tu Lục Ðộ, Thập nguyện.  Khi chư vị xem kỹ năm mươi ba lần tham vấn thì sẽ hiểu rõ đạo lý này.

‘Thiền định’  tức là tự mình làm chủ được mình, có cách nhìn của mình, chẳng bị ngoại cảnh lay động, đó là thiền định.

‘Bát nhã’ tức là đối với hết thảy những điều thiệt - giả, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác của người, sự, vật đều hiểu rõ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo.  Như vậy chính là trí huệ Bát Nhã.

Thế nên nếu có thể thực hiện Lục Ðộ, Thập Nguyện trong đời sống của mình thì bạn sẽ vui vẻ. Bất luận làm công việc gì thì cũng là tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo.  Người hành Bồ Tát đạo này sẽ tràn đầy pháp hỷ, đây tức là chuyển phiền não thành Bồ Ðề, chuyển mê hoặc thành giác ngộ.

Phàm phu thế gian nếu cảm thấy bị áp lực trong công việc làm của mình thì sẽ khổ chẳng thể nói nổi, luôn luôn than phiền, có tâm trạng ấy thì nhất định phải luân hồi trong lục đạo.  Pháp Bồ Tát Ðại Thừa cao minh, vừa chuyển biến tâm niệm thì đã thành Bồ Tát.  Họ biết làm việc cần cù là để kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh, là để thành tựu Bố Thí Ba la mật cho mình.  Cho nên khi tâm niệm vừa chuyển thì khoái lạc vô cùng, hạnh phúc vui vẻ, liền được thoát khổ.

Nếu cảm thấy chẳng thể hòa đồng khi sinh hoạt cùng đại chúng thì đó là tự mình đang sanh phiền não, chứ chẳng phải là đang học Phật.  Học Phật là đem những cành lá tạp nhạp này dung hòa trở lại, làm cho nó hóa giải hết.  Những cảnh giới này từ nội tâm của mình phát sanh nên cũng phải hóa giải từ nội tâm của mình, thế nên Phật pháp được gọi là ‘Nội Học’.  Phật pháp chẳng phải mong cầu nơi người khác mà là cầu nơi mình, mọi người đều có thể hướng vào trong mà khai phát tự tánh của mình, cái đoàn thể này mới gọi là ‘Tăng đoàn’.

Giới luật trong Phật pháp được dùng để yêu cầu chính mình chứ chẳng phải yêu cầu kẻ khác, đây là một cách rất cao minh, chẳng giống với pháp luật thế gian dùng để kềm chế đại chúng.  Thế nên phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư, phải ‘thường nhìn thấy lỗi của mình, chẳng thấy lỗi của thế gian’, được vậy thì tâm sẽ chuyển biến thực sự, hướng vào trong và quán chiếu.

Căn bịnh lớn của chúng sanh là ‘chẳng thấy lỗi của mình, chuyên thấy lỗi của kẻ khác’.  Chuyên thấy lỗi của kẻ khác thì sẽ tăng trưởng phiền não, sẽ chẳng có cách chi để hướng vào trong mà quán chiếu.  Nếu chúng ta chỉ lo hướng vào trong mà quán chiếu, chẳng đếm xỉa đến sự dụ hoặc của ngoại cảnh, ‘chiếu’ như vậy là trí huệ, có thể hoá giải hết phiền não, tập khí.

Chúng ta đọc Lục Tổ Ðàn kinh sẽ hiểu [tại sao] những người biết dụng công giống như Lục Tổ đại sư trong nhà bếp xay gạo, chẻ củi, làm những việc nặng nhọc mà khai ngộ.  Tại sao vậy?  Vì khi xay gạo, chẻ củi họ có đầy đủ Lục độ, Thập nguyện, nên trong lúc xay gạo, chẻ củi họ tu được hết Lục độ, Thập nguyện.  Những người chẳng biết dụng công cho dù mỗi ngày tĩnh tọa tham thiền trong Thiền đường cũng không thể khai ngộ, phiền não tập khí vẫn còn cả đống.  Nếu chúng ta biết tu thì lúc rửa chén, lau bàn, hết thảy Lục độ, Thập nguyện đều đầy đủ, được vậy thì làm sao chẳng hoan hỷ chứ?  Người không biết dụng công sẽ nghĩ rằng những công việc này quá cực nhọc.  Thế nên chuyển cảnh giới tức là chuyển tâm -- chuyển biến tâm lý, thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi quan niệm.  Sự sai khác giữa người biết tu và chẳng biết tu là ở tại chỗ này.

Pháp sư Ðàm Hư trong phần sau của quyển Niệm Phật Luận kể chuyện bà họ Trương ở Thanh Ðảo, chùa Trạm Sơn, bà tu hành như thế nào?  Mỗi ngày chủ nhật chùa Trạm Sơn có khóa tu niệm Phật, bà vào nhà bếp rửa chén.  Chồng bà làm nghề kéo xe chở khách, chẳng ai coi trọng bà, thoạt nhìn bà chỉ rửa chén trong bếp, thực sự lúc đó bà đang tu Lục độ, Thập nguyện.  Cho nên bà có thể dự biết ngày giờ ra đi, ngồi mà vãng sanh.  Nếu bà chẳng tu tập như vậy thì làm sao có thành tựu như thế?  Chỉ có người tu hành mới có thể nhìn biết [ai là] người chân chánh tu hành, người thường trong thế gian chẳng nhìn thấy.  Người thế gian chỉ thấy bà là một người chẳng biết chữ, dốt nát, nghe kinh cũng chẳng hiểu, là một người chuyên giúp kẻ khác làm những công việc nặng nhọc.  Họ đâu biết người như bà mới đáng gọi là người chân tu, thành tựu của những kẻ nghe kinh, tham thiền chẳng sánh bằng bà.  Thế nên phải chân tu, phải hiểu lý, phải thực hiện các nguyên tắc, cương lãnh tu hành ngay trong đời sống thường ngày.

 

4. Công phu niệm Phật      (Buổi sáng 26-01-95)

Có thể vận dụng lý luận của kinh Kim Cang vào trong pháp môn Tịnh Ðộ chính là câu ‘phát Bồ Ðề tâm, một hướng chuyên niệm’ trong kinh Vô Lượng Thọ.  Cả bộ kinh Kim Cang dạy chúng ta phát Bồ Ðề tâm, Bồ Ðề tâm là căn bản, các pháp môn Ðại Thừa đều được xây dựng trên cơ sở của Bồ Ðề tâm.  Chỉ cần phát được tâm Bồ Ðề thì bất luận tu học pháp môn nào cũng sẽ thành tựu, người niệm Phật cũng sẽ nhất định vãng sanh.  Lý do chính niệm Phật chẳng thể vãng sanh là vì chẳng phát Bồ Ðề tâm, cho nên tuy có ‘một hướng chuyên niệm’ cũng chẳng thể vãng sanh.  Người xưa nói: ‘Một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, hét bể cổ họng cũng uổng công’.  Tại sao chẳng được?  Tại vì ‘Tâm tịnh thì cõi tịnh’, tâm phải tịnh thì mới vãng sanh được.

Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: ‘Phẩm vị vãng sanh cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn, chẳng phải là Phật hiệu nhiều hay ít’.  Sâu hay cạn là nói về cái gì?  Là nói đến tâm thanh tịnh.  Công phu niệm Phật có thể chia thành ba tầng – Lý Nhất tâm bất loạn là sâu nhất, kế đó là Sự Nhất tâm bất loạn, sau cùng là Công phu thành phiến.  Nếu chẳng có công phu bậc này, niệm nhiều hơn bao nhiêu cũng chẳng được vãng sanh.  Công phu thành phiến là như thế nào?  Tức là tâm thanh tịnh,  trong tâm chẳng có xen tạp, chẳng có vọng niệm, chỉ chuyên chú trên một câu Phật hiệu, chuyên chú tại y báo, chánh báo trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tiêu chuẩn của kinh Kim Cang tức là tiêu chuẩn của Lý Nhất tâm bất loạn.  Nhưng Lý Nhất tâm bất loạn cũng có sâu cạn khác nhau.  Kinh Kim Cang nói: ‘Hết thảy hiền thánh đều do Vô Vi pháp mà có chỗ sai khác’.  Hết thảy hiền thánh là tam hiền, thập thánh, tức là bốn mươi mốt vị Pháp Thân đại sĩ nói trong kinh Hoa Nghiêm, họ đều đạt đến Lý Nhất tâm.  Tuy cùng đạt đến Lý Nhất tâm bất loạn, công phu vẫn còn sâu cạn khác nhau, nhưng đến khi cứu cánh viên mãn thì đều thành Phật.

Những thứ này đều là nói về ‘Tự phần’ – công phu của tự mình, chưa nói đến sự gia trì của A Di Ðà Phật.  Nếu luận về sự gia trì của A Di Ðà Phật thì mọi người đều bình đẳng.  Ðây là sự khác biệt giữa Cực Lạc thế giới và tha phương thế giới, Cực Lạc thế giới có Phật lực gia trì.  Nếu tự mình chịu nỗ lực, công phu của mình đã đắc lực, phẩm vị tăng lên, đến Tây phương Cực Lạc thế giới thành Phật sẽ nhanh hơn; người vãng sanh mà phẩm vị Tự phần hơi thấp tuy cũng được Phật lực gia trì nhưng sẽ viên mãn thành Phật chậm hơn.  Cũng tức là thời gian đạt đến viên mãn Bồ Ðề có sự nhanh chậm khác nhau.

 

5. Xung đột     (Buổi sáng 26-01-95)

Xung đột giữa người với người ở tại chỗ nào?  Ở chỗ lợi hại (quyền lợi).   Chúng ta đối với người chẳng có lợi hại thì sẽ rất dễ tiếp xúc, đối đãi lẫn nhau, thiệt có thể làm được ‘chẳng tranh với người, chẳng cầu với đời’.  Trong kinh Kim Cang có hai câu: ‘Chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’, làm được vậy thì mới giống một người tu hành.

Mọi người tụ lại ở một chỗ nhất định phải có một mục tiêu phương hướng chung để cùng nhau nỗ lực, đây là một khái niệm cơ bản.  Ngoài ra còn phải đồng tâm hiệp lực, nỗ lực vì Phật giáo, vì chúng sanh, nhất định phải xả bỏ lợi ích cá nhân.  Chẳng kể là xuất gia hay tại gia đều nên buông xuống, nếu buông xuống chẳng nổi thì đây sẽ là một chướng ngại to lớn.  Ðương nhiên chướng ngại nghiêm trọng nhất là chướng ngại tự mình, không những tự mình không thể thành tựu, cho đến việc vãng sanh, khai ngộ, thậm chí đến việc đạt được niệm Phật tam muội cũng không chắc, bởi vậy nên nhất định phải buông xuống.

Tu hành thiệt ra chẳng phải là một việc dễ dàng, người chân chánh muốn tu hành trong một đoàn thể phải tập tánh khiêm nhượng, học khách sáo, học nhẫn nhường.  Khổng Lão Phu Tử dạy chúng ta phải giữ lễ, lễ là gì?  Lễ là tự ty [hạ thấp mình] và tôn trọng người khác.  Phải giảm bớt sự xích mích, giảm bớt xung đột, luôn luôn nhẫn nhường, như vậy mới có thể thành công, lập đại nghiệp.

Người quá nổi danh sẽ bị đố kỵ, đây cũng là hiện tượng thông thường vì con người là phàm phu, đố kỵ và sân hận là tập khí từ vô lượng kiếp đến nay, nếu chẳng có những tập khí này thì họ đã là Phật, Bồ Tát tái lai rồi.

 

6. Tâm Phật    (Buổi sáng 26-01-95)

Bất cứ lúc nào chúng ta cũng phải giữ tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi.  Thường thường dùng tâm này để kiểm điểm và phản tỉnh; chúng ta có tâm này hay không?  Có tâm này tức là tâm Phật, mới có tư cách học Phật, mới có tư cách vãng sanh.

Trong lúc xử sự, đãi người, tiếp vật, tu hành phải nắm giữ những nguyên tắc này: nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, phải niệm Phật.  Nếu có thể giữ chặt những nguyên tắc cơ bản này thì sẽ chẳng sai lầm.  Thật sự có thể nắm lấy thì hết thảy sự việc của mình đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài.  Ðây là lời Chương Gia đại sư dạy tôi lúc trước: ‘Một người chân chánh muốn học Phật, chân chánh là người muốn hoằng pháp lợi sanh thì đừng lo lắng suy nghĩ về tương lai, sanh hoạt của mình, chư Phật sẽ hộ niệm, thần hộ pháp sẽ chiếu cố, lo lắng cho bạn’  Việc gì cũng chẳng cần phải suy nghĩ, một lòng một dạ làm theo lời dạy trong kinh điển, Phật pháp coi trọng thực hành, nếu có thể làm được thì sẽ tương ứng, làm chẳng được thì sẽ chẳng có tương ứng (cảm ứng).

 

7. Chấp tướng (Buổi sáng 29-01-95)

Tâng bốc, khen ngợi mình, hạ thấp người khác trong Du Già Giới Bổn là một giới nặng nhất -- giới tự tán hủy tha.  Trong Phạm Võng Giới Bổn thì thấp hơn bốn giới trọng.  Tại sao lại nặng như vậy.  Vì chấp tướng.  Tiêu chuẩn của kinh Kim Cang nói chấp bốn tướng thì chẳng phải Bồ Tát.  Nếu cống cao ngã mạn, cứ nghĩ mình đúng, cứ nghĩ mình hạng nhất thì tiêu tùng rồi, cho dù làm được rất nhiều việc tốt thì cũng là phước báo hữu lậu của thế gian, đối với việc liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng có liên quan gì hết.

Chúng ta học Phật, đặc biệt là người xuất gia, một lòng một dạ phải muốn thoát ly tam giới, đây là phương hướng, mục tiêu chung.  Hết thảy danh văn lợi dưỡng, vinh hoa phú quý trong thế gian đều phải xả bỏ sạch sành sanh từ trong tận đáy lòng, phải niệm niệm vì Phật pháp, vì chúng sanh, vì muốn tương ứng với bổn nguyện của A Di Ðà Phật và mười phương chư Phật.  Nếu niệm niệm vẫn còn một cái ‘Ta’ tồn tại thì sẽ tương ứng với ma.  Chỗ khác nhau của ma và Phật tức là niệm niệm của ma đều vì tự mình.

 

8. Nhẫn nhường       (Buổi sáng 30-01-95)

Người xưa nói: ‘Xử sự khó, đối xử với người còn khó hơn’.  Con người là phàm phu, tâm người biến đổi muôn vàn, tâm niệm của phàm phu thay đổi tùy theo cảnh giới thì giao thiệp, tiếp xúc đương nhiên sẽ khó khăn, nguyên tắc duy nhất chính là nhẫn nhường.  Phải mở rộng tâm lượng của mình, tập tánh dung hòa, tập nhẫn nhường, tránh hết thảy xung đột, va chạm, hộ trì tinh thần giới luật của đạo tràng -- lục hòa kính.  Hộ trì lục hòa kính tức là nhẫn nhường, nếu chẳng thể nhẫn, chẳng thể nhường thì hòa kính sẽ bị phá hoại, trong giới luật gọi là ‘phá hòa hợp tăng’.  Tội phá hòa hợp tăng là một trong năm tội ngũ nghịch, đây là nghiệp nhân đọa địa ngục A Tỳ.  Trong năm tội ngũ nghịch, bốn tội kia chẳng dễ phạm đến, chỉ có tội này dễ phạm nhất, vả lại còn phạm một cách vô cớ [phạm rồi mà người đó chẳng hay biết], chỉ có người một lòng hướng về đạo, người có thể nhẫn nhường mới tránh khỏi mà thôi.

Giống như lời của Lục Tổ: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh thì chẳng thấy lỗi của người khác’.  Họ chỉ vì việc lớn sanh tử nên luôn giữ tâm cảnh giác cao độ.  Một lòng một dạ muốn liễu sanh tử, xuất tam giới, hết thảy việc trong thế gian đều chẳng liên can gì với họ.  Cảnh thuận, cảnh nghịch gì cũng tùy thuận vì họ coi việc liễu sanh tử là quan trọng nhất.  Người niệm Phật chúng ta đem việc vãng sanh làm việc quan trọng hàng đầu, trừ việc cầu vãng sanh chẳng có việc gì khác đáng giữ trong tâm.

Người chân chánh từ bi gặp đồng tham đạo hữu vi phạm quy củ, phá giới, làm việc ác, không những phải bao dung nhẫn nại mà còn phải dùng trí huệ, thiện xảo cảm hóa họ, như vậy mới là đại từ đại bi.

 

9. Giải hành tương ứng     (Buổi sáng 30-01-95)

Xây dựng đạo tràng, hộ trì đạo tràng nhất định phải giải hành tương ứng.  Giảng kinh thuyết pháp là Giải môn, lãnh chúng tu hành là Hành môn, cả hai đều quan trọng, cả hai đầy đủ mới là một đạo tràng hoàn chỉnh.  Nhưng người tu hành có đầy đủ giải và hành từ xưa đến nay rất hiếm, nếu cả hai đều chẳng đủ thì thà chọn Hành môn, chẳng cầu Giải môn.

Chọn hành môn, tức là cảm thấy mình chẳng hiểu, chẳng biết gì cả, việc gì cũng chẳng sánh bằng người khác, người như vậy sẽ rất khiêm tốn, chịu chắc thật niệm Phật, thông thường người như vậy sẽ được vãng sanh phẩm vị rất cao.  Người có Giải nhưng chẳng có Hành thì hoàn toàn tương phản, họ cống cao ngã mạn, cứ nghĩ mình giỏi nhất, cứ coi thường việc tu hành, sẽ chẳng thể vãng sanh.

Lãnh chúng tu hành là công việc tự lợi, lợi tha, quan trọng nhất là phải chân thành, chân thật, tự mình có tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm cung kính, tâm từ bi thì sẽ thành công.

 

10. Phương pháp niệm Phật        (Buổi sáng 30-01-95)

Tu hành dụng công muôn vàn phải ghi nhớ chẳng thể coi việc khởi vọng tưởng thành quán chiếu.  Nhưng lúc mới bắt đầu học, đích thực là có dùng tâm ý thức, nếu quán chiếu đắc lực thì vọng tưởng và phiền não sẽ giảm bớt, trí huệ sẽ tăng trưởng, việc này cho biết việc tu hành của mình đã đi đúng đường.  Nếu vẫn còn vọng tưởng, phiền não chẳng đoạn hết thì chứng minh công phu quán chiếu của mình chẳng đắc lực, đây là chỗ khó khăn của phương pháp tu hành thông thường.

Phương tiện của Tịnh Ðộ Tông là dùng tâm ý thức chuyển thành trì danh hiệu, công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn, danh hiệu đích xác là chân thật nên dùng vọng tâm, tâm ý thức để trì danh hiệu chân thật này, vọng tâm này tức là chân tâm.  Ðây là chỗ thù thắng của pháp môn niệm Phật, cũng là chỗ hết thảy pháp môn khác chẳng có, thế nên mới gọi pháp môn này là pháp môn phương tiện hạng nhất.

Bất cứ lúc nào, chỗ nào đều có thể quy về danh hiệu này, cho đến khi công phu thành phiến, trình độ này cũng giống như trình độ ‘quán chiếu’ trong Tông Môn.  Nếu có thể niệm đến Sự nhất tâm bất loạn tức là ‘chiếu trụ’.  Niệm đến Lý nhất tâm bất loạn tức là ‘chiếu kiến’.  Thế nên cổ đức thường nói: ‘pháp môn niệm Phật thầm hợp đạo diệu’ (Niệm Phật pháp môn, ám hiệp đạo diệu).  Ðạo diệu tức là minh tâm kiến tánh, rất nhiều người dùng phương pháp này đắc được định, kiến tánh.  Cho dù chẳng được định, chẳng kiến tánh, cũng có thể vãng sanh.  Tổ sư đại đức cũng nói:

‘Gặp được Di Ðà thì lo gì chẳng khai ngộ’

(Ðản đắc kiến Di Ðà, hà sầu bất khai ngộ).

Khai ngộ tức là minh tâm kiến tánh, một khi vãng sanh thì tuyệt đối sẽ khai ngộ, sẽ kiến tánh.  Ðiểm thù thắng của pháp môn Tịnh Ðộ là ở tại chỗ này.

Nhưng nguyên tắc tu học của pháp môn Tịnh Ðộ là phải ‘Phát Bồ Ðề tâm, một hướng chuyên niệm’.  ‘Một hướng’ tức là một phương hướng, một lòng một dạ.  Bồ Ðề tâm là gì?  Ngoài cái tâm mình nhất quyết cầu vãng sanh còn phải dùng những thiện xảo phương tiện giới thiệu pháp môn niệm Phật cho người khác, đây tức là Bồ Ðề tâm.  Vì chúng ta hiểu rõ chỉ có pháp môn này có thể đoạn phiền não, xuất tam giới, có thể bất thoái thành Phật.

Cho nên việc lớn nhất suốt cả đời của người tu học Tịnh Ðộ là tự mình cầu sanh Tịnh Ðộ, giới thiệu pháp môn niệm Phật cho người khác, tự hành hóa tha.  Trừ việc này ra chẳng còn tâm niệm nào khác nữa, như vậy gọi là ‘phát Bồ Ðề tâm, một hướng chuyên niệm’.  Có tâm nguyện như vậy thì hành trì nhất định sẽ vãng sanh.  Tuy chẳng dồn sức để đoạn phiền não, vọng tưởng, nhưng nó sẽ từ từ giảm bớt, trí huệ sẽ tự nhiên tăng trưởng hằng ngày.

 

11. Nguyên tắc tu hành      (Buổi sáng 01-02-95)

Việc quan trọng nhất trong việc tu hành là nắm lấy cương lãnh, giữ chặt nguyên tắc, công phu sẽ dễ đắc lực.  Cương lãnh, nguyên tắc tức là ‘Phát Bồ Ðề tâm, một hướng chuyên niệm’.  Nhất định phải hiểu tường tận đạo lý và ý nghĩa của hai câu này, phải thực hành theo ‘Nguyên tắc phải tuân thủ của đồng học Tịnh Tông’, đó là Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Ðộ, Thập Nguyện.  Nhất định phải ứng dụng trong đời sống hằng ngày, đây tức là tự hành hóa tha.

Tiết lục (trích lục, trích đoạn và ghi chép lại) của cuốn ‘Yếu lược Sa Di Luật Nghi’ tức là những điểm chính của năm khoa mục nêu trên, thế nên ‘Nguyên tắc tu hành’ là thuộc về Hạnh Kinh.  Kinh có bốn thứ là Giáo, Lý, Hạnh, Quả.  ‘Hạnh Kinh’ là muốn chúng ta thật sự làm được.  Chúng ta thực sự có thể dùng tâm ‘chân thành, cung kính’ để tu học, phục vụ chúng sanh, nhất định sẽ được pháp hỷ sung mãn, sẽ được tâm thanh tịnh.  Có thể dùng tâm chân thành, tâm cung kính để phục vụ hết thảy chúng sanh chính là tu học Ðại Thừa.

Trong pháp Ðại Thừa, viên mãn cứu cánh nhất là ‘Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh’.  Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát là gì?  Tức là Lễ Kính Chư Phật, Xưng Tán Như Lai, Quảng Tu Cúng Dường, Sám Hối Nghiệp Chướng, Tùy Hỷ Công Ðức, Thỉnh Chuyển Pháp Luân, Thỉnh Phật Trụ Thế, Thường Tùy Phật Học, Hằng Thuận Chúng Sanh, Phổ Giai Hồi Hướng.  Những hạnh này đều nằm trong sinh hoạt hằng ngày.  Lễ kính nhất định phải bao gồm chân thành, cung kính; xưng tán nhất định phải pháp hỷ sung mãn; rộng tu cúng dường tức là phục vụ hết thảy chúng sanh.  Thế nên Phổ Hiền hạnh bao gồm phạm vi rất rộng lớn, chẳng phải chỉ là lấy một chút tiền bỏ vào bao giấy đỏ là cúng dường đâu, quan điểm này là sai lầm.

Bồ Tát đạo và tinh thần của Phật pháp Ðại Thừa chính là rộng tu cúng dường, rộng độ chúng sanh.  Kinh Kim Cang nói: ‘Ta làm cho hết thảy chúng sanh đều nhập Vô Dư Niết Bàn để diệt độ’ (Nhất thiết chúng sanh, ngã giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi diệt độ chi) .  Nói theo cách bây giờ thì là: ‘Tận tâm tận lực giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ’.  Kết quả của việc phá mê khai ngộ tự nhiên sẽ là lìa khổ được vui.  ‘Mê, phải giúp họ phá hết; Ngộ, phải giúp họ viên mãn’, đây tức là thành Phật, tức là ‘nhập Vô Dư Niết bàn, nhi diệt độ chi’.  Nếu chẳng sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới mà tu hành ở thế giới này, hoặc tu hành tại mười phương cõi Phật phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp mới viên mãn.  Nếu có người hỏi tại sao phải chọn Tịnh Ðộ?  Chúng ta có thể nói với họ: ‘Là vì sợ luân hồi, sợ sanh tử, sợ dày vò, sợ chướng ngại, và vì tự lợi lợi tha đạt đến viên mãn nên mới quyết định cầu sanh Tịnh Ðộ’.

Sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới chính là như trong kinh có nói: ‘Hết thảy khổ nạn đều lìa khỏi’.  Hơn nữa có thể trong thời gian ngắn viên mãn thành tựu Phật quả.  Trí huệ đức năng viên mãn hiện tiền, sau đó mới trở lại chín pháp giới rộng tu cúng dường, phục vụ cho chúng sanh thì sẽ chẳng có chướng ngại nữa, đây tức là việc nhà Phật thường nói: ‘thừa nguyện tái lai’.

 

12. Phát bồ đề tâm, một hướng chuyên niệm (Buổi sáng 02-02-95)

Người niệm Phật ít nhất phải hiểu rõ tám chữ ‘Phát Bồ Ðề tâm, một hướng chuyên niệm’.  Nếu chẳng hiểu rõ tám chữ này thì chẳng thể nào niệm được tốt, công phu sẽ chẳng được đắc lực.  Không những chẳng thể chuyển cảnh giới, mà vẫn bị cảnh giới chuyển như cũ; bị cảnh giới chuyển tức là tiếp tục luân hồi lục đạo.  Nếu có thể chuyển cảnh giới thì nhất định sẽ được vãng sanh, cho nên tám chữ này vô cùng quan trọng.

Bồ Ðề tâm là gì?  Làm thế nào phát?  Kinh Kim Cang nói: ‘Sanh tâm’, Sanh tâm tức là phát tâm, sanh tức là sanh khởi, ý nghĩa giống như phát khởi.  Cư sĩ Giang vị Nông trong cuốn Kim Cang Giảng Nghĩa nói: ý nghĩa của chữ ‘sanh’ sâu và rốt ráo hơn chữ ‘phát’.

Một hướng chuyên niệm, một hướng có nghĩa hẹp và nghĩa rộng.  Nghĩa hẹp là niệm niệm đều hướng về Tây phương Cực Lạc thế giới.  Một phương hướng, hướng về Tây phương Tịnh độ, như vậy mới có thể vãng sanh, đây là thuộc về ‘sự’, có thể đạt được Sự nhất tâm.  Nói theo nghĩa rộng, ‘nhất’ là Nhất chân pháp giới, hướng về Nhất chân pháp giới.  Phàm phu, Nhị Thừa, Quyền Giáo Bồ Tát chẳng biết Nhất chân pháp giới, chẳng nhập vào Nhất chân pháp giới nên vọng tưởng, chấp trước, chướng ngại trùng trùng.

Nhất chân pháp giới ở tại đâu?  Thiệt ra, chẳng nơi đâu chẳng phải, chẳng lúc nào chẳng phải [là Nhất Chân Pháp Giới].  Người hiện nay ưa nói về ‘đột phá’.  Nhất chân thì sẽ đột phá hết thảy.  Các khoa học gia và triết học gia trong thế gian tư duy, tưởng tượng, cảm nhận về thời [gian và] không [gian], đặc biệt là thời gian không gian nhiều chiều, tức là không gian bốn chiều, không gian năm chiều, sáu chiều, … cho đến không gian vô số chiều, trên thực tế tức là ‘pháp giới’ nói trong nhà Phật.  Pháp giới chia một cách đại khái thì có mười pháp giới, nếu chia nhỏ ra thì thành vô lượng vô biên, cách nói này rất kề cận với không gian vô số chiều.  Những hiện tượng này đều là từ vô minh, bất giác sanh ra, nếu có thể đột phá từng tầng thì có thể nhìn thấy Nhất chân pháp giới; khi nhìn thấy Nhất chân pháp giới thì thành Phật rồi, như nhà thiền nói ‘kiến tánh thành Phật’.  Nhất chân tức là chân tánh, chân tâm.  Phật nói hết thảy vạn pháp duy tâm mà hiện, thập pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm (không gian nhiều chiều) là do duy thức biến.  Có thể nương vào phương hướng này một hướng chuyên niệm thì sẽ được Lý nhất tâm bất loạn, đây gọi là ‘biết niệm Phật’, công phu dễ đắc lực.

Hiện tượng công phu đắc lực tức là vọng tưởng, phiền não, phân biệt, chấp trước sẽ ngày càng giảm bớt, trí huệ ngày càng tăng trưởng, tâm địa ngày càng thanh tịnh, tự tự nhiên nhiên sẽ buông xuống.  Họ từ bi, họ chịu niệm Phật, đây đều là hiện tượng công phu đắc lực.  Trong đời sống hằng ngày những hiện tượng này của chúng ta chẳng thể hiện tiền tức là còn mê hoặc điên đảo rất nặng cho nên công phu chẳng thể đắc lực.

Lời nói của Phật, câu nào câu nấy cũng đều chân thực.  Kinh Kim Cang nói: ‘Phàm hết thảy các tướng đều là hư vọng’.  Hết thảy tướng đích thực là hư vọng, là mộng, huyễn, bọt, bóng.  Nếu ở trong đó khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước, như vậy tuyệt đối là sai lầm.  Nghĩ trong đó có thể có cầu, có được thì tuyệt đối là vọng tưởng.  Có những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước này bày trước mặt là chướng ngại to lớn.  Không những chướng ngại chứng đạo, vãng sanh, còn chướng ngại công phu đắc lực.  Những thứ chướng ngại này đều do tự mình tạo thành nên vẫn phải do mình tự giải trừ, bất cứ người nào cũng chẳng thể giúp mình giải trừ, cho dù là Phật, Bồ Tát cũng chẳng có năng lực ấy.

 

13. Làm thế nào mới được vãng sanh  (Buổi sáng 03-02-95)

Trong cả đời tu học nếu người tu hành chẳng thoát khỏi tam giới thì chẳng kể là thành công, nhưng siêu việt tam giới thực sự là một việc rất khó.  Tuy nói Tịnh Ðộ là pháp dễ hành (dễ hơn so với những pháp môn khác), trên thật tế thì cũng chẳng dễ, thế nên người niệm Phật thì nhiều nhưng người vãng sanh rất ít.

Người vãng sanh thực sự gồm có hai hạng.  Một hạng là những người thượng căn lợi trí, họ có thể thông suốt chân tướng sự thật nên họ chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, tịnh niệm tiếp nối mà vãng sanh.  Hạng thứ nhì là những người ‘ngu độn’, phần đông thường nói là những ông già, bà cả, cái gì họ cũng chẳng biết, chẳng hiểu, nhưng họ chết lòng trọn ý niệm câu A Di Ðà Phật đến cùng, những người này cũng có thể vãng sanh.  Còn những người ở chính giữa chẳng phải là thượng trí cũng chẳng phải là hạ ngu thì khó hơn.  Tại vì họ có phân biệt, có tri kiến, đây tức là chướng ngại.  Chúng ta phải nên lắng lòng suy nghĩ xem chúng ta thực sự thuộc về hạng nào?

Bắt chước theo người thượng trí rất khó; bắt chước người ngu chỉ cần thực sự chịu học theo thì có thể học được, tức là phải buông xả hết thảy.  Quan trọng nhất là phải buông xả hết danh văn lợi dưỡng.  ‘Lợi dưỡng’ bao gồm ngũ dục, lục trần, ‘danh văn’ bao gồm quyền thế, địa vị, hết thảy chúng ta đều đừng đụng đến, chỉ một lòng một dạ chắc thật niệm Phật, phục vụ đại chúng.

Như Ðàm Hư pháp sư nói trong phần sau của cuốn Niệm Phật Luận, trong những người xuất gia có thầy Tu Vô, thầy là người ngu độn, cái gì cũng chẳng biết, cái  gì cũng chẳng hiểu.  Bà họ Trương ở chùa Trạm Sơn, Thanh Ðảo, chồng bà làm nghề kéo xe chở khách, một ngày không kéo xe thì chẳng có cơm ăn.  Mỗi ngày chủ nhật chùa Trạm Sơn có pháp hội, bà đều đến nhà bếp giúp việc rửa chén, bà làm những việc cực nhọc này, bạn hãy xem họ vãng sanh vô cùng thong dong, tự tại!  Ðó là những người ‘ngu độn’.  Người ngu cũng có thể vãng sanh, người tuyệt đỉnh thông minh cũng có thể vãng sanh, những người ở chính giữa hai hạng này thì khó hơn nhiều.

Khó khăn đều là chướng ngại do mình tạo ra – tranh danh đoạt lợi, tham hưởng lợi dưỡng.  Chúng ta có thể gặp được pháp môn Tịnh Ðộ là một nhân duyên hiếm có, nếu luống qua nhân duyên hy hữu này thì thiệt là vô cùng đáng tiếc!

 

14.                         Sám hối     (Buổi sáng 04-02-95)

[Các pháp] trong Hạnh môn có thể tóm lại thành một, đó chính là pháp Sám hối – Sám hối nghiệp chướng [trong thập nguyện] Phổ Hiền Bồ Tát.  Ðiều quan trọng trong pháp sám hối là sửa đổi tâm niệm, sửa đổi hành vi, dù chẳng có hình thức nhưng là chân sám hối.  Nếu có đầy đủ hình thức và y theo kinh văn mà làm lấy có, chẳng biến cải tâm niệm thì chẳng phải là sám hối, chẳng có ích gì hết.

Phật dạy Bồ Tát tu hành tức là dạy Bồ Tát nên nghĩ tưởng về chúng sanh, phục vụ chúng sanh, đó là Bồ Tát đạo, Bồ Tát hạnh.  Luôn vì chúng sanh là Bồ Tát đạo, phục vụ cho chúng sanh là Bồ Tát hạnh.  Phàm phu khi khởi tâm động niệm đều vì mình, đều làm cho mình, thế nên chỗ khác biệt giữa Phật, Bồ Tát và phàm phu là ở tại chỗ này.

Hộ trì đạo tràng điểm quan trọng nhất là Lục hòa kính, xả bỏ Lục hòa kính thì chẳng là đạo tràng Phật pháp, chẳng phải đạo tràng của Phật thì nhất định phải là đạo tràng của ma.  Ðạo tràng của Phật là dùng để hoằng pháp lợi sanh, là nơi để hướng dẫn đại chúng tu hành, làm cho đại chúng phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.  Hướng về mục tiêu này mà làm thì đúng, đây là đạo tràng của Phật.  Nếu chiếm giữ đạo tràng của Phật mà chẳng làm công tác giáo học, bỏ việc chánh và chuyên làm những chuyện chẳng cần thiết thì là ma sự.  Là Phật hay là Ma đều ở tại một niệm, làm Phật thì có thể vãng sanh, làm Ma thì đời sau nhất định sẽ đi vào tam ác đạo, cho dù bạn làm hết thảy thiện pháp thì cũng chẳng tránh khỏi đọa lạc.  Tại sao vậy?  Vì bạn đã phá hoại chánh pháp.  Do đó hết thảy thiện pháp chẳng bù nổi tội lỗi này.

 

15.                         Ba giai đoạn của sự tu hành  (Buổi sáng 05-02-95)

Ðích thực chúng ta đã gặp chẳng ít người chân chánh muốn tu hành, thực sự muốn thành tựu, nhưng cửa ải khó khăn nhất là vọng tưởng và tạp niệm, muốn trừ nhưng chẳng trừ nổi.  Vấn đề này chẳng phải người đời nay mới có, từ xưa đến nay đều như vậy.  Trong kinh điển đức Phật dạy chúng ta, đây cũng là một đề mục chính, làm thế nào để đoạn trừ vọng tưởng, chấp trước.  Thực ra hết thảy các kinh luận đều nhằm giải quyết vấn đề này.  Phật đã giảng rất thấu triệt, phương pháp cũng rất khéo léo, đáng tiếc là chúng ta chẳng ráng sức mà làm nên từ vô lượng kiếp đến nay đều bị vọng tưởng phiền não trói buộc, chẳng thể giải thoát.  Có rất nhiều phương pháp giải quyết mà trong đó niệm Phật đích thực là một phương pháp tốt nhất nhưng nhiều người chẳng dùng.

Người niệm Phật, miệng niệm Phật hiệu nhưng trong tâm khởi vọng tưởng không ngừng, như vậy thì chẳng thể thành tựu.  Miệng niệm và tâm cũng phải niệm, tâm và miệng có tương ứng thì công phu mới đắc lực.  Ðắc lực tức là có thể đè nén vọng tưởng, phiền não.  Ðè nén được lâu rồi thì sẽ đắc định, sẽ thành tựu tam muội.  Ðịnh được lâu thì sẽ khai mở trí huệ, trí huệ vừa khai mở thì liền chuyển phiền não thành Bồ Ðề, chuyển sanh tử thành Niết bàn, đó là thành công.  Chỉ cần công phu được đắc lực, có thể đè nén vọng tưởng và phiền não thì có thể đới nghiệp vãng sanh.  Ðây là chỗ pháp môn này thù thắng hơn những pháp môn khác.  Chỉ cần chịu dụng công thì ai cũng có khả năng làm được hết.

Vãng sanh đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, cổ đức nói: ‘Ðã gặp được Di Ðà thì lo gì chẳng khai ngộ’, gặp được đức Phật A Di Ðà thì chẳng ai chẳng khai ngộ.  Khai ngộ là khai mở trí huệ, khai trí huệ tức là chuyển phiền não thành Bồ Ðề.

Chúng ta thường đề xướng khuyến khích mọi người, sự tu hành của chúng ta có ba giai đoạn:

a. Giai đoạn thứ nhất: Ðọc thuộc kinh văn.  Niệm kinh ba ngàn lần, đọc thuộc lòng kinh, ghi nhớ lời dạy trong kinh, nếu lời dạy của Phật cũng chẳng nhớ thì tu cái gì?  Làm sao để tu theo lời dạy?  Ðây là bước thứ nhất.

b. Giai đoạn thứ nhì: Yêu cầu viên giải.  Phải hiểu rõ những lời dạy của Phật, phải hiểu được viên dung thì mới chẳng chết cứng trên văn tự.  Phải hiểu lời dạy của Phật là có nguyên lý nguyên tắc gì, phải có thể ứng dụng những lời dạy này một cách khéo léo trong đời sống hằng ngày, như vậy mới chẳng là chỉ đọc suông, đó mới là khai trí huệ.

c. Giai đoạn thứ ba: Là phải thực hành, y theo lý luận và phương pháp dạy trong kinh để sửa đổi tư tưởng, sự hiểu biết, hành vi sai lầm của mình, như vậy mới gọi là chân chánh tu hành, như vậy thì mới vãng sanh được.  Chứ chẳng phải đọc kinh ba ngàn lần là xong xuôi, đọc như vậy chẳng có ích gì hết.  Phải biết từ đầu đến cuối Phật pháp đều chú trọng thực hành, nghĩa là phải làm cho bằng được.

Chân chánh tu hành là tu ở nơi khởi tâm động niệm chứ chẳng phải là ở chỗ học thuộc lòng.  Nhớ nhiều, hiểu nhiều chẳng hữu dụng gì hết, phải làm cho bằng được.  Có thể làm được một phần thì sẽ được một phần lợi ích; làm được hai phần thì được hai phần lợi ích, nếu chẳng hết lòng nỗ lực mà làm thì lợi ích chân thật này chẳng thể nào đạt được.

 

16.                         Bồ Tát hạnh       (Buổi sáng 07-02-95)

Phật dạy chúng ta những gì:  Tổng hợp lại thì chính là ‘sửa đổi tâm niệm’.  Tâm phàm phu là gì?  Tâm Phật, Bồ Tát là gì?  Phải hiểu rõ, minh bạch hoàn toàn.  Làm thế nào để thay đổi tâm phàm phu thành tâm Phật?  Làm sao thay đổi sự hành trì của phàm phu trở thành sự hành trì của Phật, Bồ Tát?  Nếu tự mình chúng ta chẳng hiểu đạo lý này, chẳng gắng sức đi làm mà còn giả danh Phật pháp, dạy sai chúng sanh, tội lỗi đều ở địa ngục A Tỳ, đây là việc Phật, Bồ Tát chẳng muốn nhìn thấy.  Cho nên những người đảm nhiệm trọng trách giáo học nhất định phải ráng sức nỗ lực khắc phục tập khí, khó khăn của mình.

Phật pháp và Thế pháp là một chứ chẳng phải hai.  Dùng tâm của Phật, Bồ Tát vào thế gian thì Thế pháp thành Phật pháp, chẳng có pháp nào chẳng phải là Phật pháp.  Dùng tâm phàm phu vào Phật pháp thì hết thảy Phật pháp đều biến thành pháp thế gian.  Từ điểm này có thể biết cái gọi là Phật pháp và Thế pháp đều chẳng ở tại sự tướng mà ở tại tâm niệm của mỗi người, đó là ‘tâm tịnh thì cõi nước tịnh’.

Phật pháp chẳng làm hoại thế gian pháp cho nên lúc Thế Tôn còn tại thế, khi dạy rất nhiều tín đồ của các tôn giáo ở Ấn độ, Phật chẳng thay đổi phương thức sanh hoạt của họ, chỉ sửa đổi quan niệm của họ cho đúng, giúp họ từ sinh hoạt mê tín quay trở về sinh hoạt giác ngộ, chánh tín.  Thế Tôn chẳng thay đổi họ, chỉ thêm vào cách giải thích mới, tư tưởng mới, quan niệm mới, phương pháp này đúng như thánh nhân Trung quốc gọi là: ‘Cực cao minh nhi đạo trung dung’ (vô cùng cao minh nhưng đường lối trung dung), đó mới là trí huệ chân thật.

Sanh hoạt giác ngộ tức là Bồ Tát hạnh, nói cách khác nghĩa là từ sanh hoạt của phàm phu đổi thành sanh hoạt của Bồ Tát.  Nhưng sanh hoạt chẳng có biến đổi, lúc trước làm nghề nghiệp gì thì bây giờ cũng làm nghề đó, khác nhau ở chỗ lúc trước là mê, bây giờ đã giác ngộ.  Lúc mê thì khổ, lúc giác thì vui, cái niềm vui này chính là ‘pháp hỷ sung mãn’, khác nhau ở chỗ này.  Chẳng thay đổi đời sống của họ, chẳng thay đổi chức nghiệp, ngành nghề của họ.  Năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy những Bồ Tát, nam nữ già trẻ, các ngành các nghề, tức là các ngành nghề vốn có của họ, trong đời sống tập quán sanh hoạt vốn có của họ giác ngộ xong thì lìa khổ được vui, đây là Phật pháp.

Thí dụ chúng ta làm việc trong nhà bếp, mỗi ngày nấu cơm, rửa chén, lau bàn, người thế gian cho những việc này là những việc khổ nhọc, nhưng người giác ngộ cho là những việc sung sướng, thiệt ra những chuyện này trong lục độ vạn hạnh tức là Giới Ðịnh Huệ tam học.  Công việc giống như nhau, sự việc cũng giống nhau, chỉ là tâm lý, quan niệm thay đổi.  Vừa thay đổi thì là đời sống của Bồ Tát.  Ðời sống của Bồ Tát là gì?  Tức là mỗi ngày nấu cơm, lau bàn, rửa chén.  Kinh Hoa Nghiêm dạy chúng ta những thứ này, dạy chúng ta làm thế nào để sống một đời sống sung sướng nhất, hạnh phúc nhất.  Ðây là sự thật, đây tức là tu hành, Ðại Thừa Bồ Tát hạnh, Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác là tu ở chỗ này.  Người chẳng hiểu cho rằng mỗi ngày làm những chuyện này thiệt là khổ quá chừng, các bà nội trợ ai cũng muốn chạy trốn.  Như vậy là mê, mê thì sẽ khổ; khi ngộ rồi thì sẽ vui.  Người giác ngộ biết tu bố thí, tu xưng tán, tu cúng dường, tu nhẫn nhục, tu thiền định, tu Bát Nhã ngay trong những trường hợp này.  Thế nên mê và ngộ hoàn toàn sẽ chẳng giống nhau.

 

17.                         Tu thanh phước  (Buổi sáng 08-02-95)

Họa phước thiệt ra ở tại một niệm mà thôi.  Một niệm thiện thì là phước, một niệm ác là tai họa.  Phật dạy chúng sanh phước huệ song tu, khi phước huệ viên mãn rồi thì xưng là Nhị Túc Tôn, thế nên tu phước và tu huệ đều vô cùng quan trọng.  Trong các thứ phước báo, ‘thanh phước’ là quý nhất.  Trong thanh phước có trí huệ cao độ cho nên chẳng tạo tội nghiệp.  Trong phước báo của thế gian thì phước báo càng lớn tạo tội càng dễ, vì vậy nên tác dụng phụ [của phước báo] cũng lớn.  Ðây là điểm chúng ta phải ghi nhớ.

Nếu chúng ta có thể hiểu rõ thanh phước, hưởng thọ thanh phước thì phước báo này thiệt là vô lượng vô biên, trí huệ nhất định sẽ tăng trưởng theo.  Chúng ta phải cố gắng tu phước và khuyên mọi người tu phước, khi mọi người đều có phước báo rồi thì khu vực này sẽ chẳng bị nạn.  Giả sử chỉ có cá nhân mình có phước, mọi người khác chẳng có phước thì chúng ta cũng chẳng thể tránh khỏi cộng nghiệp, thế nên khuyên lơn chúng sanh tu phước là một việc vô cùng, vô cùng quan trọng.

Phải tu phước như thế nào?  [Những gì chúng ta] nghĩ và làm đều vì chúng sanh, có thể quên mình thì đó là phước báo to lớn.  Tạo ác là gì?  Niệm niệm đều vì mình mà tưởng, mà làm thì đó là chuyện ác to lớn.

 

18.                         Mục tiêu của sự tu hành        (Buổi sáng 09-02-95)

‘Chân thành, Thanh tịnh, Bình đẳng, Chánh giác, Từ bi.

Nhìn thấu, Buông xuống, Tự tại, Tuỳ duyên, Chắc Thật Niệm Phật’ là mục tiêu hiện nay của chúng ta trong công việc hoằng pháp lợi sanh, và cũng là mục tiêu tu học của chúng ta.  Tất cả những kinh luận, hành pháp đều nhằm giúp chúng ta đạt đến mục tiêu này, hoàn thành mục tiêu này.

Chúng ta tự hành hóa tha đã có phương hướng, mục tiêu chính xác, đời sống này mới có ý nghĩa, có giá trị, sẽ rất vui sướng và rất hạnh phúc.  Hy vọng đại chúng từ điểm này thể hội -- tự mình phải nên tu học như thế nào, làm thế nào đãi người, tiếp vật.  Ðây là Phật pháp chân chánh, Phật pháp chân thực.

 

19.                         Ly tướng tu phước       (Buổi sáng 09-02-95)

Xả tài là phước, nhưng càng quan trọng hơn là phải chẳng chấp tướng.  Tu phước mà chấp tướng là phước báo nhân thiên, tu phước mà ly tướng mới có thể minh tâm kiến tánh, mới có thể vãng sanh, bất thoái thành Phật.

Chẳng những ngoại tài có thể xả, nội tài cũng phải xả.  Nội tài là gì?  Tinh thần, lao lực của chúng ta, nếu có thể phục vụ cho đại chúng một cách vô điều kiện thì gọi là xả nội tài.  Chẳng cầu báo đáp, thực sự vì xã hội, vì đại chúng mà phục vụ là bố thí.

 

20.                         Phước báo và trí huệ   (Buổi sáng 11-02-95)

‘Có tiền là phước báo, dùng tiền là trí huệ’.  Nếu người có phước báo to lớn nhưng chẳng có trí huệ, toàn bộ [tiền của] họ dùng đều vô ích; người có trí huệ tuy phước báo nhỏ nhưng họ có thể đem mỗi đồng tiền của họ tu những phước báo to lớn, đó gọi là ‘xả tài tu phước’.  Từ đó có thể biết người chẳng có trí huệ muốn tu phước cũng chẳng tu được.

Trên thực tế xét từ lúc tu nhân mà nói thì trí huệ quan trọng hơn phước báo, vì người có trí huệ sẽ chẳng tạo tội nghiệp và giảm bớt những lỗi lầm của mình đến mức thấp nhất; người chẳng có trí huệ khi tạo tội nghiệp còn tưởng là mình đang tu phước.  Trước mắt chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều trường hợp này, họ thiệt là có tiền và cũng phát tâm nhưng những gì họ tạo tác đều là tội nghiệp, chẳng phải tu phước, lại cứ tưởng mình đang tu phước, chuyện này thiệt là rất đáng tiếc.

 

21.                         Tùy hỷ       (Buổi sáng 12-02-95)

Trong các đoàn thể, phiền não tập khí dễ nhìn thấy nhất là ‘đố kỵ’.  Người nào chẳng có tâm đố kỵ?  Ai nói ‘Tôi chẳng có tâm đố kỵ’ thì người đó chẳng phải là phàm phu.  Hễ là phàm phu thì chắc chắn sẽ có tâm đố kỵ, cho dù là người xuất gia cũng chẳng ngoại lệ.  Tùy, Ðường là thời đại hoàng kim của Phật giáo Trung Quốc, là thời đại Phật pháp vô cùng hưng thịnh, Lục Tổ Huệ Năng đã xuất hiện trong thời đại này.  Sau khi được truyền trao y bát ở Hoàng Mai, bạn xem ai có thể nhịn được [không giành lại y bát]?  Ðây là hiện tượng gì?  Ðố kỵ!

Nếu chúng ta không thể hàng phục được tâm đố kỵ, tham, sân, si, mạn, chẳng những đạo nghiệp không thể thành tựu mà kết quả của việc này nhất định sẽ phá hoại đạo tràng.  Cho dù ảnh hưởng không rõ ràng thì cũng gây chướng ngại cho sự phát triển của đạo tràng và gây chướng ngại cho sự thành tựu của đồng tham đạo hữu.  Nói một cách khác thì là chướng ngại cho việc hoằng pháp lợi sanh.  Mọi người đều biết tội này được gọi là ‘năm tội vô gián’ trong giới luật.  Thế nên Phật, Bồ Tát dạy chúng ta tu ‘Tùy hỷ’.  Tại sao không tu tùy hỷ? [Tại sao phải tu tùy hỷ?]  Thay đổi tâm niệm ngược lại, nếu có thể tùy hỷ thì người ta có thành tựu bao lớn, thành tựu của mình cũng sẽ bằng họ, công đức của việc tùy hỷ chẳng thể nghĩ bàn.

Lúc thấy người khác làm việc tốt nếu chúng ta có thể sanh tâm hoan hỷ, có thể giúp họ, giúp họ thành tựu thì công đức của họ chính là công đức của mình, thế nên chúng ta phải biết tu tùy hỷ.  Những gì mình không thể làm được nhưng họ làm được thì mình giúp họ; nếu giúp chẳng được thì mình tán thán, mình hoan hỷ, mình lo lắng cho họ, như vậy công đức sẽ bằng nhau vì tâm của mình được thanh tịnh, đây là việc mà chúng ta thường gọi là pháp hỷ sung mãn.

Ðây cũng là lý do tại sao chúng ta đổi khoá tụng buổi tối thành tụng kinh Vô Lượng Thọ, phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy.  Chúng ta có thể mỗi ngày đọc những tập khí lỗi lầm nói trong đoạn kinh này một lần, đọc xong phản tỉnh, kiểm điểm xem mình có những tội lỗi này hay không?  Nếu có thì phải sửa sai đổi mới, như vậy mới gọi là chân chánh tu hành.

 

22.                         Khóa tụng sáng tối       (Buổi sáng 12-02-95)

‘Xã hội’ hiện nay có thể nói là đã lan rộng đến toàn thế giới, chẳng còn giới hạn ở một địa phương nào, đều có sự hiểu lầm rất lớn đối với Phật pháp.  Sự hiểu lầm này sẽ gây chướng ngại cho sự tu học Phật pháp, chướng ngại cho sự truyền bá Phật pháp.  Thế nên cần phải in hai cuốn sách mỏng ‘Nhận thức Phật giáo’ và ‘Truyền thọ Tam Quy’ với số lượng thật nhiều và truyền bá rộng ra.

Tu hành, những khóa tụng và nghi quỹ mà cổ đức soạn ra đích thực có thể đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh thời xưa.  Ngày nay nghiệp chướng chúng sanh sâu nặng và cơ sở đã mất hết – cơ sở là chẳng đọc sách Khổng - Mạnh, Lão - Trang, những lý luận Ðạo giáo cũng chẳng hiểu, Tiểu Thừa cũng chẳng học.  Giống như ngày nay chúng ta xây nhà lầu mà chẳng có nền móng vậy, chẳng có cơ sở thì đi vào Ðại Thừa làm sao có thể thành tựu được?  Xưa nay phàm những đại đức có thành tựu bất kể là tại gia hay xuất gia, căn bản Nho học của họ đều rất sâu dày.  Vì vậy những nghi quỹ (thời xưa gọi là Khoá tụng sáng tối) bây giờ chẳng dùng được.  Mục đích của công khóa sáng tối là nhằm giúp chúng ta sửa đổi tâm hạnh, nếu chúng ta tụng xong mà tâm hạnh chẳng có thay đổi gì hết thì khóa tụng sáng tối này cũng dư thừa.  Vì vậy chúng tôi mới thay đổi nội dung của khóa tụng, buổi sáng tụng phẩm thứ sáu, buổi tối tụng phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy của kinh Vô Lượng Thọ.

Mục đích của khóa sáng là hy vọng trong tâm của mỗi người đều có bốn mươi tám lời nguyện, như vậy mới gọi là niệm Phật, nhớ Phật.  Trong tâm thực sự có Phật, trong tâm có A Di Ðà Phật, có bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Ðà.  Trong bốn mươi tám nguyện này bao gồm hết thảy y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới.  Khóa tối là niệm niệm chẳng quên lời dạy của Phật A Di Ðà, chúng ta phải y giáo phụng hành, như pháp tu trì, đây mới thực là chân chánh niệm Phật, chẳng phải niệm suông trong miệng mà thôi.

          Kinh Vô Lượng Thọ là đốn giáo.  Ðốn giáo nghĩa là chẳng có thứ lớp, cho dù chúng ta chẳng có cơ sở Nho học sâu dày cũng có thể thành tựu, đây là chỗ thù thắng của pháp môn này.  Từ đó có thể y theo nguyện của A Di Ðà Phật mà phát nguyện, y theo lời dạy của A Di Ðà Phật mà tu hành -- phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là lời dạy của A Di Ðà Phật, nội dung là ngũ giới, thập thiện, là cơ sở chung của Ðại Thừa và Tiểu Thừa.  Từ đây gắng sức học tập, chúng ta niệm Phật mới có thành tựu, đây là lý do tại sao chúng tôi thay đổi khóa tụng sáng tối.

 

23.                         Tâm thanh tịnh   (Buổi sá