Lược Giảng Giáo Nghĩa Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, phần 4

(Nguyên tác: Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị)

Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

(theo bản in của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001)

     

1.10.6. Nguyện lợi ích:

      Chánh kinh:

      Ngã ư nhất thiết chư hữu trung,

      Sở tu phước trí hằng vô tận,

      Định, huệ, phương tiện cập giải thoát,

      Hoạch chư vô tận công đức tạng,

      Nhất trần trung hữu trần số sát,

      Nhất nhất sát hữu nan tư Phật,

      Nhất nhất Phật xử chúng hội trung,

      Ngã kiến hằng diễn Bồ Đề hạnh.

(Tôi ở trong hết thảy các cõi (1),

Tu tập phước trí hằng vô tận,

Định, huệ, phương tiện và giải thoát,

Được vô tận các kho công đức,

Trong mỗi trần có trần số cõi,

Mỗi một cõi có nan tư Phật,

Mỗi một đức Phật ngự chúng hội,

Tôi thấy thường diễn hạnh Bồ Đề)

 

Năm đoạn đầu thiên trọng tự học, thành tựu chính mình. Trong nguyện này, mình đã thành tựu rồi thì phải giúp đỡ người khác giống như chư Phật, Bồ Tát. Tự mình đã tu thành, không còn việc gì nữa thì phải giúp đỡ người khác sao cho họ cũng không còn có việc gì nữa. Phật, Bồ Tát một ngày từ sáng đến tối bận suốt, nhưng cũng chẳng vui lắm ư! Vô sự mà bận, bận nhưng vô sự, tự tại thay! Khoái lạc khôn sánh! Chúng sanh bận bịu vì hữu sự, vì hữu sự nên bận, bởi thế bù đầu héo mặt, chẳng được tự tại, khổ chẳng thể nói!

“Tôi ở trong hết thảy các cõi”: Chữ “nhất thiết hữu” (hết thảy cõi) chỉ tam giới lục đạo. Có nghiệp nhân đương nhiên có quả báo. Các Hữu là cảnh giới phàm phu, chẳng phải là cảnh giới của thánh nhân. Câu này ý nói: Thả bè từ trong tam giới lục đạo để độ chúng sanh. Độ là phục vụ, giúp đỡ. Giúp đỡ hết thảy chúng sanh, vì hết thảy chúng sanh phục vụ, thì gọi là “độ chúng sanh”.

“Tu tập phước trí hằng vô tận”: Câu này nói đến sự tu học trong quá khứ, luôn tu vô tận phước trí. Vô tận công đức do trí huệ sanh ra. Định là phước, do Định mà có phước. Tâm chẳng định, chẳng có phước. Người niệm Phật tu nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn chính là phước báo lớn nhất; làm chủ được nhân sanh vũ trụ, đó là đại phước, vô lượng phước. Trên thực tế, lợi ích chúng sanh cũng chính là lợi ích chính mình, đúng là “người dạy cùng kẻ học cùng phát triển”. Quý vị nhất định phải phát tâm hoằng pháp lợi sanh, việc đó có vô tận công đức đối với sự tu học phước huệ của chính quý vị.

Câu “định, huệ, phương tiện và giải thoát”: nói đến sự phát khởi tác dụng của phước huệ. Quyền trí là ứng dụng trí huệ vào sanh hoạt thường nhật, vào sự đãi người, tiếp vật, đó gọi là “phương tiện giải thoát”. Giải thoát là tự tại.

“Được vô tận các kho công đức”: Ba câu trước nói về tu nhân, câu này luận về quả báo. Người đó tu học đúng là có thâu hoạch, cái thâu hoạch được là vô tận công đức. Tạng là tỷ dụ, giống như kho báu. Nói một cách cụ thể, “công đức tạng” là trí huệ vô tận, đức năng vô tận, tài nghệ vô tận, phú quý vô tận. Thứ nào cũng đều chân thật, đều là đạt được ngay trong một đời. Y báo, chánh báo trang nghiêm nơi thế giới Cực Lạc cũng hiển hiện trong vô tận công đức tạng, tuyệt đối chẳng phải giả.

“Trong mỗi trần có trần số cõi”: Một Phật sát là một đại thiên thế giới. Trong một hạt vi trần có vi trần số đại thiên thế giới. Kinh Hoa Nghiêm dạy: Đó là cảnh giới một và nhiều chẳng trở ngại lẫn nhau, cũng là cảnh giới sự sự vô ngại. Trong lớn hiện nhỏ, chúng ta hiểu được; nhưng trong nhỏ hiện lớn, chúng ta không cách gì hiểu được. Muốn dùng tỷ dụ để diễn tả tìm chẳng ra tỷ dụ, nhưng đó là sự thật.

“Mỗi một cõi có nan tư Phật”: “Nan tư” (không thể nghĩ tưởng) là chẳng thể nghĩ bàn. Trong mỗi một cõi có vô lượng vô biên Phật.

“Mỗi một đức Phật ngự chúng hội”: Mỗi một đức Phật trong lúc thuyết pháp giáo hóa độ sanh có vô lượng vô biên hải hội Bồ Tát vây quanh. Trong mỗi một hạt vi trần đúng là mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn.

“Tôi thấy thường diễn hạnh Bồ Đề”: Ngài trông thấy, Ngài nhập cảnh giới đó, “diễn” là biểu diễn. Ngài cũng vào trong các chúng hội ấy, cũng thị hiện tu Phổ Hiền hạnh, giúp Phật giáo hóa. Đó là quyền trí phương tiện giải thoát hạnh, cảnh giới ấy tối thiểu phải là bậc Bồ Tát Sơ Trụ trong Viên Giáo mới có thể làm nổi. Từ bậc Sơ Trụ trở lên trong Viên Giáo chính là người niệm Phật đạt đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn, nói nghiêm túc thì phải là Bát Địa Bồ Tát mới có thể thật sự chứng nhập cảnh giới này. Phật tuyệt đối chẳng nói dối, chúng ta dù là sơ học, đọc đến câu này vẫn phải bắt chước. Chỉ cần thấy nơi nào có đại chúng tụ tập, chẳng cần biết quý vị hiểu được bao nhiêu, cũng phải giảng cho mọi người đôi chút để cùng tu học pháp Giác - Chánh - Tịnh, thuyết minh công đức lợi ích của lễ kính, tán thán cho đến hồi hướng, tự lợi, lợi người. Hiện thời chúng ta có thể tu học cái nguyện lợi ích này như thế đó.

 

1.10.7 Nguyện chuyển pháp luân

      Chánh kinh:

      Phổ tận thập phương chư sát hải,

      Nhất nhất mao đoan tam thế hải,

      Phật hải cập dữ quốc độ hải,

      Ngã biến tu hành kinh kiếp hải,

      Nhất thiết Như Lai ngữ thanh tịnh,

Nhất ngôn cụ chúng âm thanh hải,

Tùy chư chúng sanh ý nhạo âm,

Nhất nhất lưu Phật biện tài hải,

Tam thế nhất thiết chư Như Lai,

Ư bỉ vô tận ngữ ngôn hải,

Hằng chuyển lý thú diệu pháp luân,

Ngã thâm trí lực phổ năng nhập.

(Khắp tận mười phương biển các cõi,

Mỗi đầu lông có biển ba đời,

Biển Phật và biển các cõi nước,

Tôi tu hành khắp suốt biển kiếp,

Hết thảy Như Lai ngữ thanh tịnh,

Một lời trọn đủ biển âm thanh,

Thuận theo tiếng chúng sanh ưa thích,

Mỗi âm sanh biển Phật biện tài,

Ba đời hết thảy các Như Lai,

Trong biển ngôn ngữ vô tận kia,

Hằng chuyển lý thú diệu pháp luân,

Sức trí sâu tôi đều nhập được)

 

Chuyển pháp luân là giáo học. Bài kệ thứ nhất nói về những nơi chuyển pháp luân. Những nơi để chuyển pháp luân có thể nói là vượt ngoài tận hư không trọn pháp giới.

“Khắp tận mười phương biển các cõi”: trước hết nói đến đại thế giới.

“Mỗi đầu lông có biển ba đời”: cũng có nghĩa giống như trong một vi trần bao gồm tam thiên đại thiên thế giới ở phần trên.

“Biển Phật và biển các cõi nước”: Phật hải tiêu biểu cho hữu tình (hữu tình thế gian), quốc độ hải tượng trưng cho vô tình (khí thế gian). Chín pháp giới là hữu tình thế gian, các vị Phật của Tạng Giáo, Thông Giáo, Biệt Giáo cũng là hữu tình thế gian, chỉ có Phật thuộc Viên Giáo mới không là hữu tình thế gian.

“Ngã biến tu hành kinh kiếp hải” (tôi tu hành khắp suốt biển kiếp): “Ngã biến”“biến nhất thiết xứ” (trọn khắp hết thảy nơi), “Kinh kiếp”: thời gian dài lâu, suốt hết thảy thời; hết thảy xứ, hết thảy thời đều tu hành. Mê tà nhiễm là bệnh, là lầm lạc. Tu hành là sửa đổi những hành vi sai trái. Giác - Chánh - Tịnh là tiêu chuẩn để chúng ta tu hành.

Trong bài kệ thứ hai, Phật pháp thù thắng vì nó viên dung, đúng là chẳng thể nghĩ bàn, vì mỗi cá nhân mà thiết lập cách giáo hóa, trọn chẳng dùng một phương pháp để giáo hóa hết thảy chúng sanh. Nếu dùng một phương pháp [mà có thể giáo hóa hết thảy chúng sanh], cần gì phải giảng tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô luợng pháp môn? Có thể nói: Chỉ có một nguyên tắc bất biến, tức là Giác - Chánh - Tịnh. Chỉ cần đạt được Giác - Chánh - Tịnh thì giáo học bèn viên mãn, hiệu quả bèn hiện tiền. Phương pháp chẳng phù hợp căn tánh thì công phu luống uổng, chẳng thể thành tựu. Phật có đủ vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng biện tài, ứng bệnh cho thuốc, Phật tiếp xúc người thuộc căn tánh nào bèn giảng cho người ấy pháp đúng như thế ấy.

Trong bài kệ thứ ba, “Ba đời hết thảy các Như Lai”: Tam thế chư Như Lai là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật. Chúng ta thấy tất cả hết thảy chúng sanh đang hiện hữu đều là vị lai Phật. Vị lai Phật là hiện tại Phật, là quá khứ Phật, ba đời như một, ba đời chẳng hai. Nếu chia ba đời thành ba phần, quý vị chẳng thể nhất tâm, chẳng thể nhập cảnh giới đó. Hiểu rõ một chính là ba, ba chính là một, tâm quý vị bèn thanh tịnh vì tâm quý vị chẳng có phân biệt. Có quá khứ, hiện tại, vị lai, nhưng chẳng có phân biệt, mầu nhiệm ở chỗ đó. Ba đời hết thảy các Như Lai hiện diện trước chúng ta.

“Trong biển ngôn ngữ vô tận kia”: Mỗi một ngày từ sáng đến tối, quý vị nghe vô tận ngôn ngữ, nếu nghe hiểu được, quý vị sẽ giống như Phổ Hiền Bồ Tát.

“Hằng chuyển lý thú diệu pháp luân”: Họ đều thuyết pháp cho quý vị nghe đấy. Thuyết những pháp nào? Dạy cho tâm địa quý vị thanh tịnh. Tất cả hết thảy chúng sanh thảy đều nói kinh Hoa Nghiêm. Một ngày từ sáng đến tối, toàn là nghe kinh Hoa Nghiêm, toàn là dạy chúng ta lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, rộng tu cúng dường cho đến hồi hướng khắp tất cả, thành kính, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, nhưng quý vị nghe chẳng hiểu gì cả! Bất cứ ai đang cãi cọ, ta cũng đều nghe như kẻ đó đang giảng kinh Hoa Nghiêm. Nếu được như vậy, quý vị thật sự lãnh hội được lý thú diệu pháp luân nơi đó.

“Sức trí sâu tôi đều nhập được”: Phải có trí huệ sâu mới có thể nhập được cảnh giới ấy.

 

1.10.8. Nguyện Tịnh Độ

Chánh kinh:

Ngã năng thâm nhập ư vị lai,

Tận nhất thiết kiếp vi nhất niệm,

Tam thế sở hữu nhất thiết kiếp,

Vi nhất niệm tế ngã giai nhập.  

Ngã ư nhất niệm kiến tam thế,

Sở hữu nhất thiết Nhân Sư Tử,

Diệc thường nhập Phật cảnh giới trung,

Như huyễn giải thoát cập oai lực.

(Tôi có thể thâm nhập vị lai,

Tột hết thảy kiếp làm một niệm,

Tất cả hết thảy kiếp ba đời,

Làm thành một niệm, tôi đều nhập.

Trong một niệm tôi thấy ba đời,

Tất cả hết thảy Nhân Sư Tử,

Cũng thường nhập trong cảnh giới Phật,

Như huyễn giải thoát và oai lực)

 

Hai bài kệ này xem ra chẳng ngoài ý nguyện Tịnh Độ, phải quan sát kỹ mới hiểu được thế nào là Tịnh Độ; điều này liên quan mật thiết đến việc niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương của chúng ta; kinh văn quả thật gồm chứa những ý nghĩa thanh tịnh. Bài kệ thứ nhất nói về pháp giới tánh. Kinh Đại Thừa dạy: “Nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ do tâm tạo”. Tánh tức là bản thể; pháp giới tánh tức là bản thể của pháp giới. Phạm vi bao quát của pháp giới vô cùng rộng lớn; hết thảy pháp bao hàm trong không gian và thời gian đều gọi là pháp giới. Bài kệ thứ nhất giống như phần trên: Cảnh giới được niệm là cảnh giới lý sự vô ngại, sự sự vô ngại.

“Tôi có thể thâm nhập vị lai”: Vị lai còn chưa đến, do một câu này, cho thấy đương nhiên Bồ Tát cũng có thể thâm nhập quá khứ. Nói cách khác, quá khứ, hiện tại, vị lai vốn là một, chẳng phải là ba. Mê thì tựa hồ có ba giai đoạn, ngộ thì chỉ một, nhất chân mà! Kinh Kim Cang nói: “Ba tâm bất khả đắc”. Quá khứ tâm, hiện tại tâm, vị lai tâm, ba tâm ấy bất khả đắc, tìm lấy ba đời cũng chẳng thể được. Về tướng thì có, nhưng về Lý thì không. Mê thì có, ngộ rồi chẳng còn có nữa. Tiếp đó, Ngài nói thâm nhập bằng cách nào?

“Tột hết thảy kiếp làm một niệm”: Vừa mới mở đầu kinh đã giảng về Nhất Chân pháp giới, toàn là nói về một: nhất chân, nhất âm, nhất niệm. Nhưng pháp môn Niệm Phật đây dạy trực tiếp phải tu một thứ, tức là tu nhất tâm bất loạn đấy! Toàn thể pháp giới gọi là Nhất Chân, Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới là Sở Nhập (đối tượng để được chứng nhập), Nhất Tâm Bất Loạn là Năng Nhập (chủ thể thực hiện sự chứng nhập đó). Nhất Tâm Bất Loạn là Phổ Hiền hạnh nguyện. Phương pháp thuận tiện nhất để tu học Phổ Hiền hạnh nguyện là niệm A Di Đà Phật. Nếu thật sự niệm cho tốt một câu A Di Đà Phật, thì trong một câu A Di Đà Phật đã bao gồm trọn vẹn mười đại nguyện vương, không sót một điều nào của hạnh nguyện Phổ Hiền. Bởi lẽ, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, Nhất Tâm Bất Loạn cũng là vãng sanh Cực Lạc, chẳng khác gì nhau.

Muốn nghĩ đến vị lai, hoặc muốn trở về quá khứ, phải dùng phương pháp nào đây? Chỉ một niệm là được. Hễ “một” thì chẳng có giới hạn, chứ hai niệm bèn có giới hạn. Hễ có giới hạn thì không cách gì đạt được quá khứ, vị lai cả. Tiêu trừ giới hạn thì quá khứ, vị lai, hiện tại đều hiện tiền. Nói “thâm nhập” vốn là dư thừa, bởi lẽ chúng đã hiện tiền rồi.

Đại Kinh nói: “Mười pháp giới một hiện chín ẩn”. Chúng ta hiện đang sống trong nhân pháp giới (pháp giới loài người), nhân pháp giới hiện tiền chúng ta trông thấy rất rõ ràng, còn chín pháp giới kia chẳng thấy. Chín pháp giới vẫn tồn tại, vì sao lại ẩn? Là vì quý vị có giới hạn! Tiêu trừ được giới hạn thì mười pháp giới thảy đều hiện tiền, ấy là Nhất Chân pháp giới.

Làm thế nào mới chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Nhất niệm bèn chứng đắc, nhị niệm là trật rồi. Những ai tam tâm nhị ý chính là phàm phu. Tiểu Thừa, Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát đều dùng tam tâm nhị ý. Tam tâm là tâm ý thức, tâm là A Lại Da thức, Ý là Mạt Na thức, Thức là thức thứ sáu. Thanh Văn, Duyên Giác, lục đạo phàm phu thảy đều dùng cái tâm ấy, tâm đó gọi là vọng tâm. Nhất niệm là chân tâm.

Ai sử dụng nhất niệm? Chính là Thật Giáo Bồ Tát, cũng như hàng Pháp Thân đại sĩ được nói trong kinh này: trong Viên giáo thì từ Sơ Trụ trở lên, trong Biệt Giáo thì từ Sơ Địa trở lên đều dùng Nhất Tâm này. Dùng được chân tâm thì là chân tu hành. Tột cùng hết thảy kiếp làm thành một niệm, hiểu theo mặt văn tự nghĩa là kiếp và niệm viên dung. Một kiếp thời gian dài lâu, một niệm thời gian ngắn ngủi. Thời gian dài và thời gian ngắn là một chứ không phải là hai, bởi thế Ngài mới có thể nhập được quá khứ, đến được vị lai. Trên mặt thời gian chẳng có chướng ngại, sự sự vô ngại.

“Tất cả hết thảy kiếp ba đời, làm thành một niệm, tôi đều nhập”: hết thảy kiếp quá khứ, hết thảy kiếp hiện tại, hết thảy kiếp vị lai. Kinh Thiên Phật Danh nói đến ba ngàn vị Phật, quá khứ một ngàn vị Phật, hiện tại một ngàn vị Phật, vị lai một ngàn vị Phật. Phật thuyết pháp như vậy đều là tùy thuận chúng sanh mà phương tiện nói, bởi lẽ trong cảnh giới của chúng sanh đúng thật là như thế. Phật thuyết pháp chia thành hai loại lớn, Phật dùng Nhị Đế để thuyết pháp: Chân Đế và Tục Đế. Tục Đế là tùy thuận sự thấy biết của chúng sanh mà nói, Chân Đế là thuận theo cảnh giới chính Ngài đã chứng để nói. Chân, Tục chẳng hai. Ở đây hoàn toàn giảng pháp môn Bất Nhị, cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, chúng ta chẳng dễ gì lãnh hội nổi.

Một và nhiều tương tức (một tức là nhiều, nhiều tức là một), niệm và kiếp viên dung, sự lý vô ngại, sự sự vô ngại. Đấy vốn là cảnh giới của chúng ta. Hôm nay chúng ta trông thấy thần thông rộng lớn chẳng thể nghĩ bàn, nhờ đó chúng ta hiểu được mình vốn là như thế. Hiện tại đâu đâu ta cũng gặp chướng ngại, gặp phải cảnh đáng thương như thế, rất phải nên hổ thẹn. Sa chân đến nông nỗi này là vì chúng ta chẳng biết dụng tâm, dùng nhầm cái tâm, dùng nhầm vọng tâm. Chúng ta càng phân biệt nhiều, càng chấp trước nhiều, vọng tưởng càng nhiều, đau khổ càng nhiều. Phân biệt, chấp trước, vọng niệm càng ít thì tinh thần càng sung sướng, càng ít phiền não.

Phiền não do tự quý vị sanh, chẳng phải người ngoài tạo ra. Người khác chửi quý vị, quý vị có nhận lấy thì quý vị mới phiền não; giống như người ta tặng quà cho mình, mình nhận lấy vậy. Nếu quý vị chẳng tiếp nhận, làm sao phiền não sanh? Vì sao người ta chửi người khác, quý vị chẳng sanh phiền não? Là vì người khác bị chửi, chính mình chẳng sanh phân biệt, chấp trước. Danh tự là giả danh. Nương vào danh tự để chửi thì chửi không được, nương vào thân thể để chửi thì thân thể là giả tướng Tứ Đại Ngũ Ấm hòa hợp, thân cũng chẳng phải là Ta. Người ta chửi quý vị, quý vị chẳng nhận lấy bèn được đại tự tại. Quý vị dùng vọng tâm bèn tiếp nhận; quý vị dùng chân tâm thì trong chân tâm một pháp chẳng lập. Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần? Đó là chân tâm, trong chân tâm vốn chẳng có một vật, không gì dính vào được, bởi thế tự tại. Người học Phật phải biết dùng tâm.

“Trong một niệm tôi thấy ba đời, tất cả hết thảy Nhân Sư Tử”: Hiện tại chúng ta dùng pháp môn Niệm Phật, niệm A Di Đà Phật tức là huấn luyện “nhất niệm” của chúng ta. Muốn khôi phục “nhất niệm” chẳng dễ dàng gì, bởi lẽ phiền não tập khí từ vô lượng kiếp đến nay sức chúng quá lớn. Đi, đứng, nằm, ngồi đều khởi vọng niệm. Dùng phương pháp nào để khôi phục “nhất niệm”? Dùng một câu Phật hiệu. Một câu Phật hiệu này là thủ đoạn, là phương pháp. Trong lúc chúng ta khởi vọng niệm, chẳng cần phải quán sát ý niệm ấy là thiện niệm hay ác niệm, đáng khởi hay không nên khởi, niệm nào cũng mặc kệ, cứ một niệm vừa khởi lên bèn thay bằng A Di Đà Phật, dùng một câu A Di Đà Phật để thay thế cái niệm đó, sao cho không khởi niệm thì thôi, hễ khởi niệm bèn thành A Di Đà Phật. Đó cũng là “nhất niệm”.

Nhưng đấy chẳng phải là “nhất niệm” thật sự, chỉ là tương tự “nhất niệm”, từ quá trình tương tự mới có thể chứng đắc nhất niệm chân thật. Nhất niệm chân thật là vô niệm. Nếu chúng ta nghĩ đến vô niệm thì cái vô niệm đó cũng là một ý niệm lầm lạc, chẳng phải là “nhất niệm” chân chánh. Nhất niệm chân chánh là hữu niệm lẫn vô niệm đều chẳng có, chẳng những lìa hết thảy hữu niệm mà cũng lìa vô niệm luôn, đấy mới là nhất niệm.

“Nhân Sư Tử”: Sư tử trong loài người, là ví dụ dùng để chỉ Phật. Lúc niệm đến nhất niệm, tất cả hết thảy các Như Lai trong ba đời quý vị đều thấy hết. Nhất niệm là thanh tịnh, nhị niệm chẳng thanh tịnh. Tâm tịnh cõi nước tịnh, tịnh độ vốn từ đó mà có. Câu nào cũng bao gồm ý nghĩa thanh tịnh. Công phu, cương lãnh tu hành đều nằm trong “nhất niệm”. Thời thời khắc khắc chẳng quên mất nhất niệm là tốt. Trong giai đoạn hiện tại thì thời thời khắc khắc chẳng quên A Di Đà Phật, hết thảy mọi niệm đều quy về A Di Đà Phật.

“Cũng thường nhập trong cảnh giới Phật”: Tâm tịnh, thân bèn thanh tịnh. Thân thanh tịnh, trong tâm chẳng có phiền não, thân chẳng có bệnh khổ. Thân tâm thanh tịnh thì ngoại cảnh chẳng có gì không thanh tịnh, ngay khi đó, Tịnh Độ lập tức hiện tiền. Đấy là nguyên tắc, nguyên lý được giảng bởi Hoa Nghiêm, cảnh chuyển theo tâm. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói: “Nếu chuyển được cảnh thì giống hệt Như Lai”. Bởi thế chúng ta phải chuyển cảnh, chớ để cảnh chuyển mình.

Chuyển cảnh bằng cách nào? Cảnh giới có hai thứ thuận và nghịch, cũng tức là thuận duyên và nghịch duyên. Hai thứ cảnh giới hiện tiền, sáu căn của chúng ta tiếp xúc, hiểu rành rẽ phân minh cảnh giới (thật sự thấy tướng rốt ráo, tướng viên mãn); như thế thì trí huệ tăng trưởng, như như bất động, đó là Nhất Niệm. Rèn luyện Nhất Tâm Bất Loạn từ nơi đó, ấy là chuyển cảnh giới. Trong thuận cảnh, đối với thể, tướng, dụng, nhân duyên, quả báo, sự lý của thuận cảnh, quý vị hoàn toàn thấy rõ ràng, thì gọi là rành rẽ phân minh. Rành rẽ phân minh, tự mình như như bất động, quyết định chẳng khởi tâm động niệm phân biệt nơi tướng cảnh giới. Chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, lại càng rành rẽ phân minh thì cảnh giới trở thành Phật, Bồ Tát, càng làm cho chúng ta thành tựu vô lượng trí huệ, thiền định rất sâu. Tu hành chỉ là có biết dụng tâm nơi cảnh giới hay không!

Phật pháp sợ quý vị chấp tướng, nên từ đầu đến cuối Đại Thừa Phật pháp chỉ phá chấp trước mà thôi. Lìa hết thảy phân biệt, chấp trước, chân tướng bèn sáng tỏ. Có như vậy mới thường nhập trong cảnh giới Phật, cảnh giới ấy là cảnh giới của chư Phật Như Lai. Quý vị nhập được cảnh giới Phật mà quý vị không là Phật, thì còn ai là Phật nữa đây? Khéo dụng tâm thì cảnh giới nhãn tiền, cuộc sống thực tế đều thành kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm hết. Thấy sắc, nghe tiếng, không gì chẳng phải [là kinh Hoa Nghiêm]. Trong mỗi một vi trần có trần số Phật đều vì chúng ta giảng kinh Hoa Nghiêm, đều vì chúng ta chuyển diệu pháp luân. Do trong tâm ta khởi tâm động niệm nên tự mình bèn sanh chướng ngại, gây chướng ngại cho diệu pháp của hết thảy Như Lai, tự mình chẳng thấy, chẳng nghe, như điếc, như ngây. Phải nhập cảnh giới, phải giữ được nhất niệm thì mới nên.

“Như huyễn giải thoát”: Cảnh giới được chứng bởi bậc địa thượng Bồ Tát (2) đều có một chữ Huyễn, ý nói y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới có Tướng, nhưng không có Thể.

Thể là không, bởi vậy cái Hữu ấy là Huyễn Hữu, chẳng phải là Chân Hữu. Hiểu được hết thảy pháp đều là huyễn hữu, quý vị sẽ thọ dụng tự tại, bởi quý vị chẳng chấp trước. Chẳng chấp trước thì đối với hết thảy pháp, quý vị chẳng chấp trước được mất, nên chẳng mê hoặc, chẳng tạo nghiệp, chẳng sanh phiền não, chẳng thọ quả báo. Trong hết thảy pháp, quý vị du hý thần thông, tự tại lắm! Có thể hưởng thọ hết thảy pháp, nhưng chớ có chấp trước, hễ chấp trước bèn sanh phiền não. Phải hiểu hết thảy pháp trọn chẳng thể được. Cũng giống như nằm mộng, mộng là giả, thời gian nằm mộng ngắn, lúc tỉnh bèn biết mộng là giả.

Nếu trong mộng, quý vị nhận biết mình đang mộng, thì trong mộng quý vị sẽ có thể tận hưởng hết mức. Trong mộng được vàng, quý vị chẳng sanh hoan hỷ; quý vị biết đó là giả. Trong mộng thấy cọp ăn quý vị, quý vị cũng rất khảng khái, phát tâm từ bi đem thân nuôi nó, bởi quý vị hiểu đấy là giả, chính mình không có chết, chỉ là du hý thần thông. Cuộc sống hiện tại của chúng ta thật sự là mộng cảnh, thời gian dài hơn một chút đó thôi, sao quý vị còn chưa biết mình đang nằm mộng? Nếu quý vị giác ngộ thế gian giống như mộng cảnh, đối với danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần thế gian, quý vị cũng có thể tận tình hưởng thọ, nhưng trọn chẳng có ý niệm chấp trước.

Trong thế gian này, hết thảy vạn vật, chúng ta có quyền sử dụng, nhưng chẳng có quyền sở hữu. Chẳng có một thứ gì là sở hữu của quý vị cả! Nếu nói có sở hữu thì chỉ là một ý niệm hư vọng, lầm lạc; ngay đến thân thể còn chẳng sở hữu được, huống gì vật ngoài thân? Vì quyền sở hữu mà tranh giành đến đầu rơi máu chảy, một ngày từ sáng đến tối tạo phiền não, thật chẳng đáng gì! Lầm lạc quá lớn, đó gọi là mê hoặc điên đảo. Nếu dẹp được cái tâm được - mất là dẹp được tám mươi phần trăm phiền não. Dẹp được tám mươi phần trăm phiền não thì tội nghiệp cũng tiêu trừ quá nửa.

Chẳng phải là con người đến chết mới biết “mọi sự là không”, thật ra, mỗi ngày chúng ta đều chết một lần. Lúc quý vị ngủ, chẳng giống như đã chết rồi sao? Lúc ngủ say, còn cái gì là quý vị? Những thứ quý vị sở hữu đâu cả rồi? Một khi quý vị đã mộng say rồi, quý vị hoàn toàn ly khai thế giới hiện thực này. Thế giới này chẳng có một thứ là quý vị cả. Quý vị phải thường suy nghĩ đạo lý này thì mới có thể chân chánh lãnh hội sự giải thoát như huyễn của Bồ Tát: Ngài thọ dụng hết thảy đại tự tại, Ngài tuyệt đối chẳng chiếm hữu cái gì, ngay cả thân thể của chính Ngài. Thân thể cũng chẳng phải là mình thì cái gì là mình vậy? Tận hư không khắp pháp giới chẳng có một pháp nào chẳng là mình cả!

Nếu một ngày nào đó, quý vị nhận ra mình đang nằm mộng, tất cả cảnh giới trong mộng đúng hay sai đều là chính mình cả thôi! Mộng do tâm chính mình biến ra, vậy thì trong mộng cảnh chẳng có pháp nào chẳng phải là mình. Trong mộng có mình, có người khác, có sơn hà đại địa, không gì chẳng phải là mình. Toàn tâm tức mộng, toàn mộng tức là tâm. Tâm là Thể, là Năng Biến, mộng cảnh là Sở Biến, là tướng phần, là hiện tượng.

Phật pháp nói: “Toàn vọng tức là chân, toàn chân tức là vọng”. Nói Chân là nói về Tâm. Tâm Năng Biến là chân, mộng cảnh Sở Biến là vọng. Chân - vọng chẳng hai, chân - vọng nhất như. Nhập cảnh giới này thì gọi là chứng đắc Pháp Thân thanh tịnh. Một pháp là vạn pháp, vạn pháp chính là tự mình. Bởi vậy, đạt đến nhất niệm nhất tâm (Lý Nhất Tâm Bất Loạn) thì tận hư không khắp pháp giới chỉ là chính mình mà thôi, đó là Pháp Thân, Pháp Thân chẳng sanh chẳng diệt.

Mỗi một cá nhân chúng ta đều có Pháp Thân, tiếc là ta mê mất Pháp Thân. Người ngộ là ngộ Pháp Thân, người mê là mê Pháp Thân, mê ngộ chẳng hai. Mê là mê điều này, mà ngộ cũng là ngộ điều này. Lúc mê, cái chi cũng chẳng ít, lúc ngộ cái gì cũng chẳng nhiều, chẳng tăng giảm chút nào, mê - ngộ bất nhị. Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm chỉ giảng một sự việc này; nhập cảnh giới này được đại tự tại. Giải thoát là tự tại.

“Oai lực”: Oai là oai đức, mà cũng là năng lực. năng lực chẳng thể nghĩ bàn, quý vị có năng lực đến nỗi trong vũ trụ vạn hữu chẳng có một sự nào quý vị chẳng làm được. Năng lực ấy là đức năng của tự tánh. Chẳng hạn như: Người sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, ăn mặc tự nhiên, nghĩ muốn ăn thứ gì, thứ đó liền biến hiện ra ngay trước mặt. Đó là oai lực. Nhìn thấy liền no, những thứ ấy tự động biến mất. Khoa học gia giải thích đạo lý này như sau: Đó là sự chuyển biến giữa năng lượng và vật chất. Khoa học gia hiểu được lý luận, nhưng chẳng biết cách biến như thế nào.

Đức Phật dạy chúng ta: Nhất tâm là Năng Biến. Hiện thời chúng ta dùng vọng tâm nên chẳng biến được, hễ nhất tâm bèn khôi phục được năng lực ấy. Bây giờ đến nơi xa xôi chúng ta phải ngồi máy bay, phải mất mấy tiếng đồng hồ mới đến nơi. Nếu dùng nhất niệm thì tận hư không, trọn pháp giới, chẳng cần phải dựa vào bất cứ máy móc nào, trong khoảng một niệm liền đến ngay. Ở chỗ này chẳng thấy thân thể, ở chỗ kia thân thể hiện hữu, thật quá nhiệm mầu, tốc độ vượt xa tốc độ ánh sáng. Đó chính là oai lực.

 

1.10.9. Nguyện thừa sự

      Chánh kinh:

      Ư nhất mao đoan cực vi trung,

      Xuất hiện tam thế trang nghiêm sát,

      Thập phương trần sát chư mao đoan,

      Ngã giai thâm nhập nhi nghiêm tịnh,

      Sở hữu vị lai Chiếu Thế Đăng,

      Thành đạo chuyển pháp ngộ quần hữu,

      Cứu cánh Phật sự thị Niết Bàn,

      Ngã giai vãng nghệ nhi thân cận.

      (Trong một cực vi đầu sợi lông,

      Xuất hiện ba đời cõi trang nghiêm,

      Mười phương đầu lông trần số cõi,

      Tôi đều thâm nhập để nghiêm tịnh,

      Tất cả Đấng Soi Đời vị lai,

      Thành đạo chuyển pháp giác quần sanh,

      Phật sự rốt ráo hiện Niết Bàn,

      Tôi đều đi đến hòng thân cận)

 

      Bài tụng này nói về nguyện Thừa Sự, tức là thân cận chư Phật Như Lai, hoặc có thể hiểu là thân cận hết thảy thiện tri thức cũng được. Bài kệ thứ nhất hoàn toàn nói về cảnh giới.

“Trong một cực vi đầu sợi lông”: rất ư là nhỏ bé. Vi trần đã rất nhỏ, cực vi so với vi trần càng nhỏ hơn nữa, gọi là “lâm hư trần”, không có gì nhỏ bằng. Đem vi trần chẻ ra thì gọi là “sắc tụ vi”, sắc tụ vi lại chia nhỏ ra gọi là cực vi vi. “Vi” nói ở đây là cực vi vi, gần với hư không (quá nhỏ, hầu như không có gì), chẳng thể chia nhỏ hơn nữa. Chia nhỏ ra là không có gì hết, biến thành hư không.

Trong cực vi lại: “Xuất hiện ba đời cõi trang nghiêm” (xuất hiện tam thế trang nghiêm sát): Sát là sát-độ (ksetu), tức tam thiên đại thiên thế giới, là khu vực giáo hóa của một đức Phật. Tam thiên đại thiên thế giới thanh tịnh trang nghiêm nằm trong một cực vi vi. Vi trần “cực vi vi” chẳng phóng đại, tam thiên đại thiên thế giới chẳng rút nhỏ, lớn - nhỏ chẳng hai. Đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, là cảnh giới hiện lượng của Phật, chẳng thể dùng lý luận để suy lường được nổi.

“Mười phương đầu lông trần số cõi”: Trong mười phương có vô lượng vô biên các cực vi trần nơi những đầu sợi lông như thế, trong mỗi một cực vi nơi đầu một sợi lông ấy, các cõi Phật ba đời được hiện ra đương nhiên là vô lượng vô biên.

“Tôi đều thâm nhập để nghiêm tịnh”: Phổ Hiền Bồ Tát nói Ngài đều có thể thâm nhập [những cõi ấy], đều có thể tham dự vào việc trang nghiêm các cõi Phật. Tịnh độ của mỗi một đức Phật, Ngài đều đến được, không sót một cõi nào. Những điều đó đều từ nhất tâm hiển hiện. Nhất tâm là quý báu, hết thảy của cải thế gian đều là giả, nhất tâm mới là của báu chân chánh, hãy nên tu nhất tâm.

“Tất cả Đấng Soi Đời vị lai”: Chiếu Thế Đăng là biệt hiệu của Phật.

      “Thành đạo chuyển pháp giác quần sanh”: Chư Phật sau khi thị hiện thành Phật, nhất định chuyển pháp luân giáo hóa chúng sanh. Mục đích của việc giáo hóa là giác ngộ quần hữu. Chữ “hữu” chỉ chúng sanh. Có nghiệp nhân Dục Giới bèn thọ sanh trong Dục Giới. Có nghiệp nhân Sắc Giới bèn thọ sanh trong Sắc Giới. Phật thuyết pháp khiến cho ba cõi sáu đường hết thảy chúng sanh khai ngộ.

      “Phật sự rốt ráo hiện Niết Bàn”: Phật sự là sự nghiệp giáo hóa chúng sanh; rốt ráo là viên mãn. Giáo hóa viên mãn rồi, tối hậu bèn thị hiện nhập Niết Bàn. Thích Ca Mâu Ni Phật trụ thế tám mươi năm, những chúng sanh căn cơ chín muồi được độ không còn sót một ai, đã độ hết cả rồi. Dẫu Phật chẳng tại thế, cứ tu học đúng theo kinh điển Phật cũng được thành tựu giống như thế. Tín nguyện trọn vẹn trăm phần trăm là kẻ “căn cơ chín muồi”.

Sau khi Phật diệt độ, pháp môn thật sự có thể tiếp dẫn kẻ căn cơ thuần thục chỉ có mỗi mình pháp môn Tịnh Độ. Đối với pháp môn Tịnh Độ tin tưởng sâu xa chẳng nghi ngờ, phát nguyện cầu sanh, không ai không sanh về. Chỉ cần vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn được độ thoát, chẳng khác gì thành tựu của hàng đệ tử được Phật Thích Ca Mâu Ni độ khi Ngài còn tại thế, thậm chí còn thù thắng hơn. Tướng căn cơ chín muồi là: chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Nếu tu hành tin tưởng sâu, nguyện thiết tha, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, người ấy là căn tánh thượng thượng, trong vòng ba năm nhất định có thành tựu lớn.

      “Tôi đều đi đến hòng thân cận” là câu nói tổng kết. Phổ Hiền Bồ Tát thân cận thừa sự chư Phật Như Lai, chẳng bỏ sót một vị Phật nào.

 

1.10.10. Nguyện thành Chánh Giác

      Chánh kinh:

      Tốc tật châu biến thần thông lực,

      Phổ môn biến nhập Đại Thừa lực,

      Trí hạnh phổ tu công đức lực,

      Oai thần phổ phú đại từ lực,

      Biến tịnh trang nghiêm thắng phước lực,

      Vô trước vô y trí huệ lực,

      Định huệ phương tiện oai thần lực,

      Phổ năng tích tập Bồ Đề lực,

      Thanh tịnh nhất thiết thiện nghiệp lực,

      Tồi diệt nhất thiết phiền não lực,

      Hàng phục nhất thiết chư ma lực,

      Viên mãn Phổ Hiền chư hạnh lực.

(Sức thần thông trọn khắp mau chóng,

Sức phổ môn nhập khắp Đại Thừa,

Sức trí hạnh tu mọi công đức,

Sức đại từ oai thần che khắp,

Sức trang nghiêm khắp tịnh thắng phước,

Sức trí huệ không vướng, không nương,

Sức định huệ phương tiện oai thần,

Sức tích tập Bồ Đề rộng khắp,

Sức thanh tịnh hết thảy thiện nghiệp,

Sức dẹp tan hết thảy phiền não,

Sức hàng phục hết thảy các ma,

Sức viên mãn các hạnh Phổ Hiền)

 

Bài tụng nói về nguyện thành Chánh Giác. Kinh văn nêu lên mười hai sức, chín loại đầu nói về nghiệp dụng, ba loại sau nói về “kết nhân thành quả”. Nghiệp là sự nghiệp, hành động, hoạt động. Trong hết thảy hoạt động đều được đại tự tại.

Thứ nhất, Ngài có “sức thần thông trọn khắp mau chóng”: “Tốc tật” là mau chóng. Các cõi Phật trong mười phương, Ngài vừa nghĩ đến liền đến, còn có thể trở về quá khứ, đi đến vị lai, mười phương ba đời thông đạt vô ngại, cứ nghĩ đến bèn đến được, đủ thấy sức hoạt động của Ngài thật chẳng thể nghĩ bàn. Nhất niệm nhất tâm chẳng có chướng ngại, tam tâm nhị ý bèn có chướng ngại.

“Sức phổ môn nhập khắp Đại Thừa”: Giảng về pháp môn. Pháp môn vô lượng vô biên, bởi thế gọi là “phổ môn”. Vô lượng vô biên pháp môn Ngài đều có thể thông đạt. Vô lượng pháp môn đều lưu xuất từ nhất tâm. Bây giờ, chúng ta từ bất cứ pháp môn nào mà nhập, hễ nhập được thì cái mà ta chứng đắc chính là nhất tâm; bởi thế mới nói: “Thông một môn, hết thảy môn đều thông” (thông đạt). Môn nào cũng thông với nhất tâm, nhất chân, bởi thế gọi là “bất nhị pháp môn”. Mở ra nhiều môn như thế là vì phương tiện tiếp dẫn. Phật đại từ đại bi chẳng ép buộc quý vị học một môn nào, nếu miễn cưỡng học, sẽ học chẳng giỏi. Vô lượng pháp môn khiến cho mỗi cá nhân tu học đều sung sướng, thoải mái. Nếu thấy học Phật rất khổ thì phải phản tỉnh, nhất định là mình đã đi theo con đường chưa đúng.

“Sức trí hạnh tu mọi công đức”: Tu hành nhất định phải dựa vào trí huệ. Trí hạnh là Bát Nhã Ba La Mật, nếu hành vi ba nghiệp thân - khẩu - ý là hành vi mê lầm thì phải sửa đổi, giác chứ không mê thì gọi là “trí hạnh”. Hết thảy hành vi đều chiếu theo lý trí, chẳng bị mê hoặc, gọi là “phổ tu” (tu khắp cả). Có vậy mới thành tựu công đức. Công đức chỉ định huệ. Định là tâm thanh tịnh, tức là nhất tâm. Huệ là điều gì cũng đều hiểu rõ.

“Sức đại từ oai thần che khắp”: Đặt nặng từ bi, phải dùng tâm đại từ bi đối đãi hết thảy chúng sanh. Trông thấy người ác, hay nói tổng quát là thấy những chuyện trái mắt, đó đều là những cảnh giới dạy ta tu tâm đại từ bi. Nếu trong những hoàn cảnh ấy, quý vị tu thành tựu tâm đại từ bi thì kẻ ác trở thành thiện tri thức của quý vị, là Bồ Tát. Không có họ, quý vị chẳng thể tu thành tâm từ bi.

“Biến tịnh trang nghiêm thắng phước lực” (sức trang nghiêm khắp tịnh thắng phước): Phước báo lớn nhất, thù thắng nhất là thân tâm thanh tịnh. Tâm địa thanh tịnh mới là sự hưởng thọ chí cao vô thượng. “Biến tịnh”: thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh, hết thảy cảnh giới thanh tịnh, chẳng có một pháp nào không thanh tịnh, chẳng có một chỗ nào không thanh tịnh.

“Sức trí huệ không vướng, không nương”: Tự hành, dạy người đều phải không vướng mắc, dựa dẫm thì mới có thể thành tựu trí huệ viên mãn. Tự mình tu hành tâm thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh tâm địa thanh tịnh, quyết định chẳng chấp trước. Tam Quy Y là quy y Giác - Chánh - Tịnh nơi tự tánh.

“Sức định huệ phương tiện oai thần”: Câu này thiên trọng vấn đề giáo hóa chúng sanh. Không có định huệ thì phương tiện trở thành có vấn đề. Nhà Phật thường nói: “Từ bi lắm họa hại, phương tiện thành hạ lưu”. Phải có định và huệ thì Phật mới có thể nhiếp thọ hết thảy chúng sanh. Định huệ khởi tác dụng chính là phương tiện từ bi. “Sức oai thần”: Oai là chữ để hình dung, Thần là chẳng thể nghĩ bàn, chỉ phương pháp giáo học. Thân giáo, ngôn giáo, pháp phương tiện chẳng thể nghĩ bàn.

“Sức tích tập Bồ Đề rộng khắp” (Phổ năng tích tập Bồ Đề lực): Phổ là phổ biến, tùy thời tùy chỗ tu tập vô thượng Bồ Đề.

“Sức hàng phục hết thảy các ma” (3)

a) Ngũ Ấm Ma: là bản thân chúng ta. Thân thể ta do ngũ ấm, tứ đại tụ tập thành. Hàng phục được Ngũ Ấm Ma thì sanh tử tự tại.

b) Phiền Não Ma: Dẹp yên được ma phiền não thì xa lìa được bệnh khổ nơi thân tâm.

c) Tử Ma.

d) Thiên ma: Là oán thân trái chủ từ vô thỉ kiếp đến nay. Quý vị muốn vượt thoát tam giới, chúng bèn đến quấy rối. Lúc lâm chung thấy thân quyến đã chết của mình, thật ra là oán gia trái chủ biến hiện thành thân quyến, người nhà của mình đến lôi kéo người chết đi theo để trả thù. Lúc lâm chung bệnh ngặt nghèo cho thấy mình chưa hàng phục được ma. Người niệm Phật công phu giỏi, biết trước lúc chết, không bệnh mà mất. Phải dùng cái tâm thanh tịnh để hàng phục ma. Tâm thanh tịnh ma chẳng dám quấy quý vị.

“Sức viên mãn các hạnh Phổ Hiền”: Nhân hạnh thù thắng của Phổ Hiền đều tu được, Phổ Hiền hạnh vô lượng vô biên, vậy thì phải một ngày hay một kiếp mới có thể tu được viên mãn? Niệm và kiếp viên dung, một niệm cũng như vô lượng kiếp, vô lượng kiếp cũng như một niệm. Tâm thanh tịnh bèn tu viên mãn, tâm chẳng thanh tịnh bèn tu vô lượng kiếp.

 

      Chánh kinh:

      Phổ năng nghiêm tịnh chư sát hải,

      Giải thoát nhất thiết chúng sanh hải,

      Thiện năng phân biệt chư pháp hải,

      Năng thậm thâm nhập trí huệ hải,

      Phổ năng thanh tịnh chư hạnh hải,

      Viên mãn nhất thiết chư nguyện hải,

      Thân cận cúng dường chư Phật hải,

      Tu hành vô quyện kinh kiếp hải,

      Tam thế nhất thiết chư Như Lai,

      Tối thắng Bồ Đề chư hạnh nguyện,

      Ngã giai cúng dường viên mãn tu,

      Dĩ Phổ Hiền hạnh ngộ Bồ Đề.

(Nghiêm tịnh trọn khắp các biển cõi,

Giải thoát hết thảy biển chúng sanh,

Khéo hay phân biệt các biển pháp,

Thâm nhập biển trí huệ rất sâu,

Thanh tịnh trọn khắp các biển hạnh,

Viên mãn hết thảy các biển nguyện,

Thân cận cúng dường các biển Phật,

Tu hành không mệt trải biển kiếp,

Ba đời hết thảy các Như Lai,

Các hạnh nguyện Bồ Đề tối thắng,

Tôi đều cúng dường, tu viên mãn,

Dùng Phổ Hiền hạnh ngộ Bồ Đề)

 

Ba bài kệ này tổng kết mười khoa mục nhỏ trong phần “phổ giai hồi hướng”. Chữ “hải” biểu thị rộng sâu chẳng có ngằn mé. Phổ Hiền hạnh nguyện phải dùng tâm thanh tịnh mà tu, dùng cái tâm chân thành mà tu. Chân thành, thanh tịnh chẳng có chướng ngại, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước; bởi thế tâm lượng rộng sâu vô biên. Dùng tâm như thế để tu hành thì bất cứ hạnh nào cũng đều tương ứng tự tánh, bởi thế hạnh nào cũng sâu rộng không ngằn mé.

“Nghiêm tịnh trọn khắp các biển cõi”: Nghiêm là trang nghiêm, Tịnh là thanh tịnh. “Chư sát” là các cõi nước Phật. Câu này ý nói trang nghiêm cõi Phật. Các cõi Phật vô lượng vô biên, bởi thế dùng chữ “hải” để làm tỷ dụ hình dung. Câu này mang ý nghĩa rất sâu, rất rộng. Trong một lỗ chân lông có vô lượng vô biên các cõi nước Phật; mỗi một lỗ chân lông đều giống như thế. Đó là “đại tiểu tương dung” (lớn nhỏ chứa đựng lẫn nhau), “đại tiểu vô ngại”. Đại thế giới trang nghiêm và tiểu thế giới trang nghiêm chỉ là một việc. Có thể trang nghiêm tiểu thế giới sẽ có thể trang nghiêm đại thế giới; trang nghiêm được đại thế giới nhất định trang nghiêm được tiểu thế giới.

Đại thế giới và tiểu thế giới cái nào khó, cái nào dễ? Thưa cùng quý vị, không có khó dễ gì cả! Nếu đại thế giới là khó, tiểu thế giới là dễ, tức là có sai biệt, làm sao bình đẳng được? Xứng tánh chẳng có sai biệt. Vì thế nói “hết thảy vạn pháp bình đẳng nhất vị”. Sát (cõi nước) là hoàn cảnh sanh sống của chúng ta. Lớn thì cũng là hoàn cảnh sanh sống, mà nhỏ thì cũng là hoàn cảnh sanh sống. Phải từ đây mà hiểu câu này thì mới được thọ dụng.

Hoàn cảnh sanh sống phải tính từ tấm áo lót mình của chúng ta trở đi. Áo lót mình thuộc hoàn cảnh sanh sống. Những gì ngoài thân thể ra đều là hoàn cảnh sanh sống cả. Trang nghiêm cõi Phật phải bắt đầu từ hoàn cảnh sanh sống. Hoàn cảnh sanh sống của chúng ta chưa tốt làm sao trang nghiêm cõi Phật cho được? Y phục là hoàn cảnh sanh sống của chúng ta; mặc áo thì y phục phải sạch sẽ, tề chỉnh, thay giặt quần áo cho sạch sẽ, khô ráo, xếp gọn ghẽ cất vào tủ, đó là trang nghiêm. Ăn cơm, lau bàn cho sạch, chớ để dính dầu mỡ, tro bụi; bát đĩa phải rửa sạch, úp ngay ngắn. Đối người, đối sự, đối vật, chẳng những tâm phải thanh tịnh, mà còn phải chân thành. Với sự cũng phải làm cho đến thật viên mãn. Chẳng tận tâm tận lực làm là tâm ta chẳng thành, chẳng kính.

Bồ Tát nói Ngài có năng lực trang nghiêm khắp các biển cõi, chúng ta phải học theo. Trong sanh hoạt, mọi sự mọi vật phải cẩn thận lưu ý, điều gì cũng rất viên mãn là đã thực hiện được việc trang nghiêm cõi Phật vậy. Kinh Hoa Nghiêm dạy rất rõ: “Một là hết thảy, hết thảy tức là một”. Trong cuộc sống, ta đạt được thanh tịnh trang nghiêm thì mười phương các cõi Phật đương nhiên thanh tịnh trang nghiêm. Nói từ căn bản thì trang nghiêm chỉ là cái tâm thanh tịnh. Tâm tịnh, thân bèn thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, lẽ nào hoàn cảnh sống của chúng ta chẳng thanh tịnh? Tự nhiên nó phải thanh tịnh theo. Đối người, đối vật đều thanh tịnh. Đó là “phổ năng” (khắp có thể), chúng ta phải nên tu học. Học Phật là học ở chỗ này.

“Giải thoát hết thảy biển chúng sanh”: Hết thảy chúng sanh, đặc biệt là phàm phu lục đạo, cuộc sống chẳng tự tại, quý vị phải giúp họ được giải thoát. Vì sao họ chẳng được tự tại? Là vì có rất nhiều ràng buộc, giống như bị dây rợ chằng trói, chẳng cử động được, chẳng tự do. Cái gì ràng buộc vậy? Phiền não, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ưu lự, vướng víu… đều là dây trói. Những dây trói đó đều do mê mất tự tánh mà sanh khởi. Bồ Tát là người đã chân chánh giác ngộ, bởi thế phải giúp những chúng sanh ấy khai ngộ.

Trước hết, phải hiểu vì sao chúng sanh chẳng khai ngộ? Giống như thầy thuốc chữa bệnh, trước hết phải tìm ra gốc bệnh. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn đã nêu ra cái gốc bệnh, Ngài giảng rất minh bạch. Đức Phật nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng của Như Lai, đều vì vọng tưởng, chấp trước, mà chẳng thể chứng đắc”. Nói cách khác, mỗi một cá nhân đều là Phật. Đức Phật có trí huệ nhiều và lớn, mỗi cá nhân chúng ta ai nấy đều có.

Đức tướng là thân tướng khỏe mạnh nhất, viên mãn nhất, chúng ta ai nấy đều có, toàn là thân kim cang bất hoại cả! Có những đồng tu thân thể hư nhược, tinh thần chẳng phấn chấn, quanh năm bệnh tật, gốc bệnh là do vọng tưởng, chấp trước. Bỏ được vọng tưởng, chấp trước, trí huệ bèn khôi phục, sức khỏe khôi phục, vô lượng công đức nơi tự tánh, vô lượng đức năng thảy đều khôi phục hết. Phật pháp chỉ là dạy chúng ta đoạn trừ vọng tưởng, chấp trước mà thôi.

Bồ Tát giúp hết thảy chúng sanh được đại tự tại như thế nào? Phải dẹp trừ gốc bệnh của chúng sanh, dạy chúng sanh hiểu rõ tình trạng sự thật. Vọng tưởng, chấp trước do chính mình khởi thì phải do chính mình đoạn. Chúng ta chẳng biết gốc bệnh là vọng tưởng, chấp trước; Phật, Bồ Tát một lời vạch trần, đấy là các ngài gia trì chúng ta, giúp đỡ chúng ta. Từ nay trở đi, chúng ta dẹp được vọng tưởng là thành công. Vọng chẳng phải là chân, phàm là có tưởng đều là vọng, chân tâm chẳng có tưởng.

Ngày ngày niệm A Di Đà Phật thì câu Phật hiệu này là chân hay là vọng? Ở đây, tôi thưa thật cùng quý vị, chỉ có một câu Phật hiệu này chẳng vọng; vì nếu vọng tưởng những cái khác, quý vị phải luân hồi lục đạo. Lục đạo luân hồi lẫn mười pháp giới đều chẳng phải là chân, Nhất Chân Pháp Giới mới là chân. Thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà là Nhất Chân Pháp Giới.

Chúng ta nghĩ đến Phật A Di Đà, niệm Phật A Di Đà, tuyệt đối chẳng phải là khởi vọng tưởng; ngoài ra tất thảy đều là vọng tưởng. Tự mình đắc độ, từ nay trở đi chẳng khởi vọng tưởng. Quá khứ đã qua rồi, chẳng cần phải nghĩ đến nữa, hệt như một giấc mộng. Vị lai vẫn chưa tới, nghĩ đến để làm gì? Nói đến hiện tại thì hiện tại đã chẳng có, đã qua mất rồi.

Kinh Kim Cang dạy: “Tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai, ba tâm bất khả đắc”. Nghĩ đến quá khứ, nghĩ đến hiện tại, nghĩ đến vị lai đều là vọng tưởng. Quá khứ, hiện tại, vị lai đều chẳng nghĩ đến, tự tại thay! Việc gì chẳng liên quan đến cuộc sống của mình, ta chẳng cần biết đến. Chẳng phải là nhân vật ta phải nhận biết, ta chẳng cần biết đến, tâm bèn thanh tịnh. Cổ nhân nói: “Càng biết nhiều việc, phiền não càng lắm”.

Tôi khuyên các đồng tu: chẳng cần phải xem truyền hình, đừng nghe radio, chớ xem báo chí. Nghe kinh là để đoạn nghi sanh tín, tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng. Dùng tín tâm thanh tịnh chấp trì danh hiệu bèn có thể giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Nói chung, phải nhận thức rõ ràng chính mình và hoàn cảnh sanh sống của chính mình, ngàn kinh muôn luận chỉ nói một chuyện này, đó chính là luận đề trung tâm của Phật pháp vậy.

“Khéo hay phân biệt các biển pháp”: Pháp là hết thảy pháp. Trong hết thảy pháp, có pháp chân thật, có pháp sai biệt; chân thật là Thể. Phật nói vạn pháp đều không, nói Không là nói về Thể, đó là chân thật. Hết thảy vạn pháp đều chẳng phải thật tồn tại. Kinh Kim Cang nói: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng… Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng” đều là nói về thể tánh của các pháp. Đó là chỗ giống nhau. Nếu từ Tướng và tác dụng của hết thảy pháp mà nói thì có sai biệt.

Trong vũ trụ, vạn pháp sai biệt vô lượng, vô biên, có nhiễm - tịnh, chân - vọng, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác, quý vị phải có năng lực phân biệt. Chỉ có giáo dục mới có thể làm cho quảng đại chúng sanh phân biệt các pháp sai biệt là đúng hay sai, thiện hay ác, lợi hay hại. Phân biệt được thiện - ác, nhất định có thể đoạn ác tu thiện; phân biệt được lợi - hại, tự nhiên sẽ hướng đến cái tốt, tránh cái xấu. Chẳng nhận thức pháp sai biệt, sẽ thường coi xấu là tốt, coi ác là lành, lúc quả báo hiện tiền, có hối chẳng kịp nữa. Người niệm Phật nhiều, người vãng sanh ít là do chính mình tạo nghiệp chướng mà thôi. Vì sao tạo nghiệp? Vì chẳng hiểu rõ sự tướng chân thật. Bởi thế, chúng ta phải thường coi trọng giáo dục.

“Thâm nhập biển trí huệ rất sâu”: Mục đích của việc thọ trì Phật pháp là khai trí huệ, nhưng trí huệ vốn sẵn có, chứ chẳng phải từ bên ngoài đưa đến. Đọc nhuần kinh điển, đọc nhuần cổ văn, tu Căn Bản Trí là bước khởi đầu để “thâm nhập biển trí huệ rất sâu”; từ Vô Lượng Thọ kinh, Tứ Thư, Ngũ Kinh mà khởi sự. Chỉ có khôi phục nền giáo học Khổng Mạnh và Đại Thừa, chúng ta mới đạt được hạnh phúc chân chánh. Lợi ích công đức thù thắng nói đến trong kinh Phật chúng ta có thể đạt được, dẫu chẳng đạt được viên mãn, nhưng nhất định đạt được ít phần. Gia đình mỹ mãn, sự nghiệp thành công, đều nhờ những sách giáo khoa ấy.

“Thanh tịnh trọn khắp các biển hạnh”: Có thể phân biệt tà - chánh, thị - phi, có thể thành tựu trí huệ chân thật rồi thì sau đấy tự nhiên quý vị có năng lực thanh tịnh ba nghiệp thân - khẩu - ý. Tâm thanh tịnh: tư tưởng, kiến giải thanh tịnh, chẳng bị nhiễm ô, chẳng bị cảnh giới bên ngoài lay động. Ngữ thanh tịnh: nói năng câu nào, chữ nào cũng đều lợi ích chúng sanh, đều là dẫn dụ, chỉ dạy chúng sanh hướng thiện, dẫn dụ chúng sanh chứng chân; hành vi nhất định là gương mẫu cho thế gian. Đấy là thanh tịnh trọn khắp các biển hạnh; có vậy rồi thì nguyện vọng của chúng ta mới hòng đạt được viên mãn.

“Viên mãn hết thảy các biển nguyện”: Bốn hoằng thệ nguyện: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Mười đại nguyện Phổ Hiền, bốn mươi tám nguyện A Di Đà, chúng ta muốn chân chánh tu hành thì cũng có thể viên mãn những nguyện đó; huống chi những sở nguyện sở cầu thế gian, trọn chẳng hư uổng. Trong nhà Phật, hữu cầu tất ứng, nhất định nguyện vọng sẽ được thỏa mãn. Cầu nguyện chẳng thể mãn nguyện ắt phải là do có chướng ngại. Trừ được chướng ngại rồi, có nguyện ắt thành, chuyện gì cũng xứng tâm vừa ý.

“Thân cận cúng dường các biển Phật”: Đây cũng như nói muốn chân thật tu hành thì phải nỗ lực đem những tập khí xấu, những hành vi chẳng tốt trong cuộc sống sửa đổi cho đúng, đó gọi là “tu hành”. Muốn sửa đổi cho đúng thì phải bắt đầu từ việc thân cận thiện hữu. Gần son thì đỏ, gần mực thì đen. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta thân cận chư Phật (thiện tri thức) thì mới chẳng bắt chước cái xấu, đạo nghiệp quyết định thành tựu. Ngài dạy chúng ta cúng dường chư Phật, cúng dường chân chánh là y giáo phụng hành, thầy chỉ dạy sao phải nỗ lực làm như thế. Thân cận một vị giáo sư tốt chỉ đường, thân cận bạn lành thiết tha chính là mấu chốt cho việc tu hành thành công trong một đời.

“Tu hành không mệt trải biển kiếp”: Đây là Tinh Tấn. Phát tâm dài lâu, tâm thường hằng, tâm nghị lực, vĩnh viễn chẳng lùi, dũng mãnh tinh tấn, chớ sợ người khác phỉ báng. Chúng ta tu học là nhằm viên mãn thành tựu đạo nghiệp, là chân thật cống hiến cho hết thảy chúng sanh. Sự cống hiến ấy chẳng cần người khác biết, cũng chẳng cần ai tán thán. Người khác phỉ báng, lăng nhục, chửi rủa quý vị thì phải gấp cảm ơn, bởi lẽ nghiệp chướng được họ tiêu trừ giùm.

Phổ Hiền dạy cho chúng ta tấm gương như sau: Khi chưa thành Phật, tu hành trải vô lượng kiếp, thành Phật rồi, lại lui xuống làm Bồ Tát, lại phải tu hành, lại phải khởi sự từ đầu, thật là phi thường! Chẳng cần biết là trước khi thành Phật hay đã thành Phật rồi, Ngài tu hành vĩnh viễn chẳng gián đoạn. Hiện tại chúng ta tu hành vì chính mình, các Bồ Tát tu hành vì chúng sanh. Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát thị hiện, cũng là trì giới niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, nêu gương tốt cho chúng ta.

“Ba đời hết thảy các Như Lai”: Ý nghĩa trọng yếu trong bài kệ này là ba người cùng đi, ắt có người là thầy ta, đó cũng chính là điều Thiện Tài đã hiển thị trong kinh này: Hết thảy chúng sanh đều là thiện tri thức của chúng ta, hết thảy chúng sanh trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều là “học xứ” (nơi để chúng ta học tập). Tam thế chư Phật: Quá khứ chư Phật và hiện tại chư Phật đều đã thành Phật, vị lai chư Phật là hết thảy chúng sanh, còn chưa thành Phật. Tất cả hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật. Trọng điểm của câu này là vị lai Phật. Hết thảy chúng sanh còn chưa thành Phật, có kẻ ác, có người lành, đều là học xứ của chúng ta cả. Quá khứ Phật, hiện tại Phật, trong kinh điển đức Thế Tôn đã giới thiệu, đã trần thuật những giáo huấn của hết thảy chư Phật đối với chúng sanh, chúng ta đọc đến thì phải như thuyết tu hành.

Hiện tại hết thảy đại chúng (vị lai Phật), thiện tâm, thiện nguyện, thiện hạnh của họ, ta trông thấy, nghe thấy phải sanh tâm hoan hỷ, khởi tâm cung kính, muốn học theo. Nếu chúng ta không có những thiện hạnh thì phải học theo. Những thiện nhân ấy là thiện tri thức của chúng ta. Gặp phải kẻ ác khởi ác tâm ác niệm, tạo tác hết thảy tội nghiệp, chúng ta trông thấy, nghe thấy phải phản tỉnh, chúng ta có những lỗi ấy hay chăng? Nếu có, phải gấp sửa lỗi đổi mới. Những kẻ ác đó cũng là thầy ta (thiện tri thức). Chẳng có ai chẳng phải là thầy! Chẳng có ai chẳng phải là thiện tri thức, đều thời thời khắc khắc chỉ dạy, giúp đỡ chúng ta. Chỉ có mình ta là học trò; trừ ta ra, ai nấy đều là thầy mình hết. Bài kệ này chủ yếu dạy chúng ta đạo lý này.

“Các hạnh nguyện Bồ Đề tối thắng”: Tối thù thắng là quý vị biết học theo người thiện, chẳng học người ác. Gặp được người thiện phải học theo; gặp kẻ ác, phải phản tỉnh mình có những điều ác như thế chăng, họ dạy chúng ta kiểm điểm tâm hạnh của chính mình. Con người rất thường hay chẳng thấy lỗi mình. Thấy lỗi người khác phải quay trở lại xét kỹ mình có hay không có, phải tìm cho ra. Tìm thấy lỗi mình phải sửa đổi. Những kẻ đó là ân nhân của ta, không có họ chúng ta chẳng thể phát hiện lỗi lầm của mình. Đấy là sự khai ngộ thù thắng. Tất cả hết thảy hạnh nguyện phải tu theo cách ấy.

“Tôi đều cúng dường, tu viên mãn”: Đối với hết thảy chúng sanh, bình đẳng cúng dường, bình đẳng lễ kính, bồi dưỡng cái tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng của chính mình. Người lành, kẻ ác, chúng ta biết phải học theo ai; thuận cảnh, nghịch cảnh, cũng phải biết nên tu như thế nào. Thuận cảnh hay nghịch cảnh đều là cảnh giới tốt, người thiện lẫn kẻ ác đều là người tốt. Người tu học như thế nhất định viên mãn thành Phật ngay trong một đời, bởi lẽ tất cả chướng ngại thảy đều chẳng có. Chướng ngại nằm trong tâm mình, tự mình tạo chướng ngại, cảnh giới bên ngoài thật sự chẳng có chướng ngại.

Chúng ta chẳng biết là tự mình chướng ngại mình, cứ sợ chướng ngại bên ngoài làm khó mình, người này chướng ngại ta, việc nọ chướng ngại ta, hoàn cảnh kia chướng ngại ta, đâu đâu cũng đều là tìm pháp ngoài tâm, chẳng biết chướng ngại thật sự phát sanh từ trong tâm! Nội tâm thanh tịnh, chân thành, sẽ đột phá tất cả hết thảy chướng ngại bên ngoài; hết thảy chướng ngại đều biến thành trợ duyên, đều giúp cho quý vị, đều thành tựu quý vị.

Sáu bài kệ tiếp theo đây quy kết Văn Thù, Phổ Hiền, nguyện đồng nhị thánh.

 

2. Nguyện đồng nhị thánh

      Chánh kinh:  

      Nhất thiết Như Lai hữu trưởng tử,

      Bỉ danh hiệu viết Phổ Hiền tôn,

      Ngã kim hồi hướng chư thiện căn,

Nguyện chư trí hạnh tất đồng bỉ,

Nguyện thân khẩu ý hằng thanh tịnh,

Chư hạnh, sát độ diệc phục nhiên,

Như thị trí huệ hiệu Phổ Hiền,

Nguyện ngã dữ bỉ giai đồng đẳng.

(Hết thảy Như Lai có trưởng tử,

Danh hiệu Ngài là đức Phổ Hiền,

Tôi nay hồi hướng các căn lành,

Nguyện các trí hạnh đều giống Ngài,

Nguyện thân - khẩu - ý luôn thanh tịnh,

Các hạnh, cõi nước cũng giống thế.

Trí huệ như thế gọi Phổ Hiền,

Nguyện tôi cùng Ngài đều đồng đẳng)

 

Bài kệ này khuyên chúng ta lấy Phổ Hiền Bồ Tát làm gương, học theo Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát ở đâu? Phổ Hiền Bồ Tát chính là toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, nhưng phẩm kinh này chính là tổng kết của kinh Hoa Nghiêm, tổng kết hết thảy những lý luận, phương pháp tu hành, cảnh giới đã giảng trong kinh Hoa Nghiêm, đúc kết thành mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Có đọc Hoa Nghiêm Sớ Sao mới thật sự hiểu rõ Phổ Hiền Bồ Tát, hiểu rõ Văn Thù Bồ Tát, biết phải học theo các ngài như thế nào.

Những tượng Phật thờ trong Phật môn đều nhằm biểu thị pháp. Chính giữa thờ Phật, Phật tượng trưng cho bản thể, tượng trưng cho Chân Như Bản Tánh. Chân Như Bản Tánh là thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh một pháp chẳng lập. Bởi thế, trong hội Hoa Nghiêm, Phật chẳng thuyết pháp (Ngài là bản thể, không cách gì diễn tả được), chỉ có Bồ Tát thuyết pháp. Bồ Tát biểu thị từ Thể khởi Dụng, khởi dụng là pháp. Khởi Dụng nhất định phải dùng đến hai vị Bồ Tát làm đại biểu: Một là khởi tác dụng trí huệ (Trí), hai là khởi tác dụng hành vi (Hạnh).

Hoa Nghiêm Tam Thánh, chính giữa là Tỳ Lô Giá Na Như Lai, bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát (biểu thị hạnh nguyện), bên trái là Văn Thù Bồ Tát (biểu thị trí huệ). Trong hội Hoa Nghiêm, Phổ Hiền là trưởng tử, Văn Thù là con thứ, nghĩa là giáo học Hoa Nghiêm lấy hạnh nguyện (thực tiễn) làm chủ, nhưng hạnh nguyện phải kiến lập trên cơ sở trí huệ. Hạnh nguyện Phổ Hiền tối hậu là mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Chắc thật niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ chính là viên mãn hạnh nguyện Phổ Hiền. Kinh khuyên chúng ta phải học theo Phổ Hiền Bồ Tát.

“Nguyện thân khẩu ý luôn thanh tịnh”: Người giác không mê, chánh không tà, tịnh chẳng nhiễm thì thân - ngữ - ý của người đó đương nhiên thanh tịnh. Thân - ngữ - ý thanh tịnh là thân tâm thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, cảnh giới bèn thanh tịnh.

Các hạnh, cõi nước cũng giống thế”: Cảnh giới thanh tịnh.

“Trí huệ như thế gọi Phổ Hiền”: thân tâm, cảnh giới không gì chẳng thanh tịnh, đó gọi là Phổ Hiền.

“Nguyện tôi cùng Ngài đều đồng đẳng”: Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, là diệu pháp duy nhất được sử dụng bởi các vị Văn Thù, Phổ Hiền. Nếu chúng ta niệm Phật, tâm định nơi nhất tâm bất loạn thì sẽ chẳng khác gì Phổ Hiền cả.

 

Chánh kinh:

Ngã vị biến tịnh Phổ Hiền hạnh,

Văn Thù Sư Lợi chư đại nguyện,

Mãn bỉ sự nghiệp tận vô dư,

Vị lai tế kiếp hằng vô quyện,

Ngã sở tu hành vô hữu lượng,

Hoạch đắc vô lượng chư công đức,

An trụ vô lượng chư hạnh trung,

Liễu đạt nhất thiết thần thông lực,

Văn Thù Sư Lợi dũng mãnh trí,

Phổ Hiền huệ hạnh diệc phục nhiên,

Ngã kim hồi hướng chư thiện căn,

Tùy bỉ nhất thiết thường tu học.

(Tôi vì tịnh khắp hạnh Phổ Hiền,

Và các đại nguyện của Văn Thù,

Trọn sự nghiệp ấy không còn sót,

Đến tận vị lai thường chẳng mệt,

Hạnh tôi tu hành không hạn lượng,

Đạt được vô lượng các công đức,

An trụ trong vô lượng các hạnh,

Thấu rõ hết thảy sức thần thông,

Văn Thù Sư Lợi trí dũng mãnh ,

Huệ hạnh Phổ Hiền cũng giống thế,

Tôi nay hồi hướng các căn lành,

Thường tu học theo hết thảy đó)

 

Nguyện kiến lập trên cơ sở tín giải; hạnh lấy nguyện làm cơ sở. Phải có đại nguyện thì mới có thể tu đại hạnh.

“Tôi vì tịnh khắp hạnh Phổ Hiền”: Hạnh pháp Phổ Hiền thanh tịnh trang nghiêm trọn khắp. Trên thực tế, trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, một ngày từ sáng đến tối những sự đãi người, tiếp vật đều là những hạnh ấy.

“Và các đại nguyện của Văn Thù”: Đại nguyện của Văn Thù Sư Lợi cũng là cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ.

“Trọn sự nghiệp ấy không còn sót”: Sự nghiệp của Phật, Bồ Tát là giáo hóa chúng sanh, giúp đỡ người khác phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.

“Đến tận vị lai thường chẳng mệt”: Đây là tinh thần của Phổ Hiền Bồ Tát, mười đại nguyện vương mỗi nguyện đều chẳng mệt chán.

“Hạnh tôi tu hành không hạn lượng, đạt được vô lượng các công đức”: Hai câu này nói lên thành tựu của chính mình. Trong hết thảy những gì mình hành trì, mình đã thành tựu vô lượng công đức. Công đức là định huệ, thành tựu vô lượng trí huệ cho chính mình, vô lượng thiền định (tam-muội, nhất tâm bất loạn).

“An trụ trong vô lượng các hạnh, thấu rõ hết thảy sức thần thông”: hai câu này nói đến việc giáo hóa chúng sanh. Liễu đạt là giác không mê, thị hiện năng lực lợi ích người khác.

“Văn Thù Sư Lợi trí dũng mãnh”: Bài kệ này nói lên nguyện vọng của chính mình. Chúng ta muốn được trí huệ như ngài Văn Thù, hạnh đồng Phổ Hiền. Đem hết thảy những thiện căn chính mình đã tu học hồi hướng chúng sanh, hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng pháp giới, thường học theo Phật, thường học theo Văn Thù, Phổ Hiền.

 

Chánh kinh:

Tam thế chư Phật sở xưng tán,

Như thị tối thắng chư đại nguyện,

Ngã kim hồi hướng chư thiện căn,

Vị đắc Phổ Hiền thù thắng hạnh.

(Các đại nguyện tối thắng như thế,

Được tam thế chư Phật khen ngợi,

Tôi nay hồi hướng các căn lành,

Để được hạnh Phổ Hiền thù thắng)

 

Kết quy hồi hướng. Trước tiên nói Bồ Tát hạnh nguyện chẳng thể nghĩ bàn, là những hạnh nguyện được tam thế chư Phật khen ngợi. Tu mười đại nguyện, đem công đức hồi hướng có nghĩa là trọn chẳng chấp trước. Chẳng hồi hướng thì công đức chỉ riêng mình có, đâu đâu cũng chấp vào chính mình, chẳng phá được Ngã Chấp. Hồi hướng là phá Ngã Chấp. Có phá Ngã Chấp thì vãng sanh Cực Lạc sẽ có thể vượt khỏi phẩm vị của chính mình.

Phần kệ tụng của mười đại nguyện vương đến đây là hết, trình bày xong hết những ý nghĩa của phần Trường Hàng ở phần trước. Tiếp theo đây là phần trần thuật tánh đức thù thắng của kinh, đặc biệt là khen ngợi những công đức thù thắng của bộ kinh này.

 

3. Tán thán công đức thù thắng của kinh này

      Chánh kinh:

      Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời,

Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại,

Diện kiến bỉ Phật A Di Đà,

Tức đắc vãng sanh An Lạc sát,

Ngã ký vãng sanh bỉ quốc dĩ,

Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện,

Nhất thiết viên mãn tận vô dư,

Lợi lạc nhất thiết chúng sanh giới,

Bỉ Phật chúng hội hàm thanh tịnh,

Ngã thời ư thắng liên hoa sanh,

Thân đổ Như Lai Vô Lượng Quang,

Hiện tiền thọ ngã Bồ Đề ký,

Mông bỉ Như Lai thọ ký dĩ,

Hóa thân vô số bách câu-chi,

Trí lực quảng đại biến thập phương,

Phổ lợi nhất thiết chúng sanh giới.

(Nguyện tôi lúc mạng sắp chấm dứt,

Trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại,

Tận mắt thấy Phật A Di Đà,

Liền được vãng sanh cõi An Lạc,

Tôi đã vãng sanh cõi ấy rồi,

Hiện tiền thành tựu đại nguyện này,

      Viên mãn hết thảy không còn sót,

      Lợi lạc hết thảy chúng sanh giới,

      Chúng hội Phật kia đều thanh tịnh,

      Khi đó tôi sanh trong sen đẹp,

      Chính mắt thấy Phật Vô Lượng Quang,

      Liền được Phật thọ ký Bồ Đề,

      Được đức Như Lai thọ ký rồi,

      Hóa thân vô số trăm câu-chi,

      Trí lực rộng lớn trọn mười phương,

      Lợi khắp hết thảy chúng sanh giới)

 

      Bốn bài kệ này là phần kệ tụng trọng yếu nhất của phẩm kinh này, khải thị cho chúng ta điều trọng yếu nhất, khiến chúng ta kiên định tín tâm, học đòi Phổ Hiền Bồ Tát niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Mười sáu câu này là đại nguyện do chính Phổ Hiền Bồ Tát phát ra, Ngài cũng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Mười sáu câu này cho thấy Phổ Hiền Bồ Tát phát nguyện vãng sanh, thọ ký thành Phật, thả chiếc bè từ phổ độ chúng sanh. Mười sáu câu này là tinh hoa của bản kinh, là phần tối tinh hoa trong những tinh hoa của kinh Hoa Nghiêm, là đoạn văn tinh vi đẹp đẽ nhất, chúng ta phải nhớ nằm lòng.

      Bài kệ thứ nhất nói lên tình hình vãng sanh và điều kiện để vãng sanh.

“Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời” (nguyện tôi lúc mạng sắp chấm dứt): Tôi ở đây là Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Lão nhân gia phát nguyện, nguyện chính mình lúc lâm chung. “Dục” là sắp sửa, lúc còn chưa chết. Lúc mạng sắp chấm dứt là cửa ải khẩn yếu nhất. Lúc ấy, chẳng sanh Tây Phương ắt phải luân hồi; đường đi đã đến chỗ giao thoa, xem quý vị chọn lựa như thế nào, có quan hệ thiết thân đối với mỗi cá nhân đấy, phải nhớ kỹ! Đấy là cửa ải sanh tử; gọi là cửa ải sanh tử vì từ đó sẽ sanh về đâu, ải này tối khẩn yếu.

“Trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại”: Chẳng trừ khử chướng ngại, chẳng thể vãng sanh. Một đời niệm Phật, nếu lúc lâm chung chướng ngại hiện tiền, vẫn chẳng thể vãng sanh. Trừ khử chướng ngại để trong sát-na cuối cùng chẳng bị chướng ngại không thể vãng sanh là một điều kiện tối trọng yếu. Những chướng ngại nào? Vọng niệm. Trong lúc đó khởi lên một vọng niệm là hỏng rồi, chẳng đến Tây Phương được. Có đảm bảo lúc ấy chẳng khởi vọng niệm hay không? Rất khó. Bởi thế, thời khắc mấu chốt ấy phải nhờ vào bình thường dụng công, như thường nói: “Luyện binh ngàn ngày, dùng binh một buổi”. Niệm Phật là luyện binh, hy vọng dốc toàn bộ tinh thần chuyên chú vào một câu Phật hiệu, trừ khử ý niệm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

Lúc niệm Phật chẳng khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là tâm thanh tịnh. Bình thường làm chủ được như thế, trong lúc bệnh làm chủ được như thế, làm chủ được khi bệnh sẽ làm chủ được khi sanh tử. Thấy việc vừa ý tâm bèn hoan hỷ là tâm động; thấy việc chẳng vừa lòng tâm bèn nổi nóng; mừng, giận, buồn vui, yêu ghét, ham muốn, thất tình, ngũ dục là chướng ngại.

Trong sanh hoạt thường ngày, xử sự, đãi người, tiếp vật chẳng bị ngũ dục, lục trần lay động, tâm chúng ta bèn được tự tại. Tự tại là chẳng bị hoàn cảnh mê hoặc, lay động, thì Phật hiệu quý vị niệm đó mới tính là đắc lực, công phu thành phiến. Chẳng bị cảnh giới chuyển, một ngày niệm mười niệm là đủ rồi, nếu vẫn còn bị cảnh giới chuyển thì một ngày niệm mười vạn tiếng cũng chưa thấm vào đâu!

Làm sao mới chẳng bị ngoại cảnh lay chuyển? Đây là học vấn chân chánh, là công phu chân thật. Học vấn là thấy thấu suốt, công phu là buông bỏ. Buông bỏ chẳng phải là buông bỏ cảnh giới, chẳng phải là buông bỏ trên mặt Sự, mà là buông bỏ nơi tâm. Sự sự vô ngại, sự chẳng gây trở ngại. Trở ngại là do ý niệm, là tâm. Sự thì vẫn làm như cũ, nhưng lại làm càng viên mãn. Người chẳng thấy thấu suốt, buông xuống, nhìn chẳng ra thiện ác, thị phi sẽ làm chuyện lầm lạc. Thấy thấu suốt, buông xuống, tâm thanh tịnh; đối với sự vật thấy rõ ràng minh bạch, xét đoán sự việc hợp lý, chẳng lầm lỗi tí nào.

Ngàn vạn phần quý vị chớ vướng mắc vào thế sự nhân tình. Cái gì cũng buông xuống hết thì có phải là người gỗ bất nhân chăng? Có phải là biến thành kẻ ngây cuồng ư? Quý vị hiểu lầm rồi! Buông thân tâm thế giới xuống sẽ biến thành một người trí huệ nhất, đầu não là trái cầu thủy tinh, lưu ly, trong suốt lại có thể chuyển động. [Chưa buông xuống được], não chúng ta là cục gỗ vuông vức, xoay không được, phía nào cũng không hở một kẽ. Quý vị mới biết thấy thấu suốt, buông xuống là cao minh vậy! Phải nên học như thế.

Bồ Tát thấy thấu suốt, buông xuống, bởi thế trong sát-na lâm chung, trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại. Lúc bình thường, có lúc nào Bồ Tát lại chẳng trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại? Chướng ngại gì cũng không có, bất luận khi nào, bất luận ở đâu, tâm Ngài vĩnh viễn thanh tịnh, giống như hoa sen chẳng dính nước. Đối với thế giới ấy (Cực Lạc) có thể vãng sanh bất cứ lúc nào. Lúc nào muốn đi là đi ngay lúc đó, nghĩ không đi cũng chẳng ăn nhằm gì, không đi cũng được, sanh tử tự tại. Thân như hoa sen chẳng dính nước, sanh tử tự tại.

Muốn đến được thế giới ấy (Cực Lạc) nhất định phải buông xuống. Phải thật sự buông xuống, nhất định phải thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt, buông xuống là công phu viên mãn thành tựu. Có những người thấy thấu suốt, nhưng buông xuống không được. Có người buông xuống được, nhưng không thấy thấu suốt. Ngày thứ nhất buông xuống được, ngày hôm sau lại hối; ngày thứ ba lại nắm giữ lấy, buông xuống không được. Thật sự thấy thấu suốt thì lẽ đâu chẳng thể buông xuống được? Buông xuống là được đại tự tại. Buông xuống được rồi, hết thảy thọ dụng thuận theo lòng muốn.

Người chân chánh buông xuống thì mới có thể tâm tưởng sự thành, vừa khởi ý niệm sự việc liền thành tựu, rất tự tại! Ở đâu, lúc nào đều phải trừ chướng ngại, chẳng được đợi đến lúc lâm chung mới trừ. Đấy thật sự là mấu chốt thành hay bại của công phu học Phật, niệm Phật. Trong tâm thanh tịnh, chẳng có nhiễm trước, công việc vẫn làm, giống như năm mươi ba vị thiện tri thức đã nói trong kinh Hoa Nghiêm. Người kinh doanh vẫn cứ buôn bán như cũ, tâm địa thanh tịnh chẳng nhiễm trước, dù thương trường qua lại là bùn nhơ hay là nước trong, đóa sen của quý vị vẫn nở trên mặt nước, chẳng nhiễm trước; vẫn cứ làm việc như cũ, đó gọi là công phu thành tựu. Làm việc theo kiểu đó, bất luận hạnh nghiệp nào cũng không có gì chướng ngại; ấy là tu tâm.

Một câu Phật hiệu khiến thân tâm ta thanh tịnh. Có vậy mới có năng lực “tận mắt thấy Phật A Di Đà, liền được vãng sanh cõi An Lạc”. Cõi An Lạc tức là Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến thế giới Cực Lạc như thế nào? Trước hết là thấy Phật, sau đó vãng sanh. Phật đến tiếp dẫn cho nên trước hết thấy Phật. Lúc thấy Phật, quang minh của Phật chiếu soi người ấy, trong quang minh người ấy thấy Phật, theo chân Phật sanh về thế giới Cực Lạc. Thật ổn thỏa, thích đáng, chẳng sai chút gì! Phàm là người vãng sanh, không ai chẳng có cảnh giới như thế. Lúc dứt hơi thở bèn mỉm cười, nhất định vãng sanh, bởi họ đã thấy đức Phật. Lúc tắt thở, sắc mặt chẳng tươi, tựa hồ có gì đau khổ, có hoảng sợ, người ấy chẳng được vãng sanh. Sanh về Tây Phương rồi, tình trạng mỗi cá nhân phần lớn tương đồng.

“Tôi đã vãng sanh cõi ấy rồi, hiện tiền thành tựu đại nguyện này”: Phổ Hiền Bồ Tát tại cõi này phương khác tu mười đại nguyện, đều không có cách gì viên mãn được. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, được hoằng nguyện oai thần của Phật A Di Đà gia trì, và được oai thần của tận hư không trọn pháp giới hết thảy chư Phật Như Lai gia trì, mười đại nguyện bèn viên mãn. Đấy là xứng tánh viên mãn, là chân viên mãn.

Tuy chúng ta là phàm phu, dù chưa phá được một phẩm vô minh nào, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc bèn giống hệt như Phổ Hiền Bồ Tát, đều là tu tín nguyện trì danh, nhân đã tương đồng thì quả báo phải giống hệt. Tất cả hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới trên đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới đến chúng sanh trong địa ngục, nơi nhân địa thảy đều là tín nguyện trì danh; bởi thế, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy đều bình đẳng.

      “Viên mãn hết thảy không còn sót”: Câu này chẳng thể nghĩ bàn, hết thảy viên mãn, không có gì chẳng viên mãn. “Vô dư” (không còn sót) là không còn mảy may nào khiếm khuyết, không mảy may gì bỏ sót, mọi thứ đều viên mãn. Chẳng hạn như: trí huệ viên mãn, đức năng viên mãn, dung mạo viên mãn, năng lực viên mãn, nguyện vọng viên mãn, giống như chư Phật Như Lai, hết thảy đều viên mãn.

      Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ khuyên những vị đồng tu nào học Mật Giáo thì nhất định phải xem ba bản kinh: Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh Yếu Giải của đại sư Ngẫu Ích và Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Nếu chẳng chiếu theo lý luận, phương pháp trong ba kinh ấy để tu hành, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì học Mật rất khó thành tựu! Hết thảy viên mãn, có năng lực trí huệ như thế, đương nhiên là có thể “lợi lạc hết thảy chúng sanh giới”. Giống như chư Phật, Như Lai, cho nên có thể phổ độ hết thảy chúng sanh, ban cho chúng sanh lợi ích lớn nhất, ban cho chúng sanh khoái lạc chân chánh.

      “Chúng hội Phật kia đều thanh tịnh”: Bài kệ này tường thuật tình hình Tây Phương Cực Lạc thế giới; đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thấy thế giới ấy thanh tịnh. Chữ “chúng hội” chỉ tình huống tâm trạng con người trong xã hội. Tâm địa mọi người đều thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh, cùng tu cùng học một chỗ. Phổ Hiền Bồ Tát thấ