|
Hán 21:
Nhứt cú Di Ðà
Nhập vương tam muội
Tự địa quân kình
Như thiên phổ cái.
Việt 21:
Một câu A Di Ðà
Vào tam muội Bảo Vương
Như đất đều nâng đỡ
Tợ trời che khắp miền.
Lược giải:
Niệm Phật tam muội cũng gọi là Bảo
Vương tam muội. Khi chứng được tam muội này, diệt vô lượng tội chướng,
tăng vô biên phước huệ, độ vô số chúng sanh, đức hóa lan rộng khắp mọi
nơi như trời che đất chở. Từ nơi Niệm Phật Bảo Vương tam muội này, Bồ
Tát rưới vô lượng mưa pháp độ khắp chúng sanh. Như trong kinh Hoa
Nghiêm, Ðức Vân Bồ Tát đã bảo Thiện Tài đồng tử:
"Thiện nam tử! Chư đại Bồ Tát có vô biên hành môn trí huệ thanh tịnh.
Ðó là: môn Trí Quang Phổ Chiếu Niệm Phật, thường thấy các thứ cung điện
nghiêm sạch nơi tất cả quốc độ của chư Phật. Môn Linh Nhứt Thiết Chúng
Sanh Niệm Phật, tùy nơi tâm ưa thích của các chúng sanh, đều khiến cho
được thấy Phật và được thanh tịnh. Môn Linh An Trụ Lực Niệm Phật khiến
cho được vào mười lực của Như Lai. Môn Linh An Trụ Pháp Niệm Phật khiến
cho thấy vô lượng chư Phật được nghe pháp mầu. Môn Chiếu Diệu Chư Phương
Niệm Phật, thấy trong tất cả thế giới, các Phật hải đều đồng nhau không
sai khác. Môn Nhập Bất Khả Kiến Xứ Niệm Phật, thấy tất cả cảnh vi tế
trong các việc thần thông tự tại của chư Phật. Môn Trụ Ư Chư Kiếp Niệm
Phật, trong tất cả kiếp thường thấy các việc làm của Như Lai không tạm
mất. Môn Trụ Nhứt Thiết Thời Niệm Phật, trong tất cả thời thường thấy
Như Lai đồng ở gần bên không xa lìa. Môn Trụ Nhứt Thiết Sát Niệm Phật,
trong các quốc độ đều thấy thân Phật vượt hơn tất cả không chi sánh
bằng. Môn Trụ Nhứt Thiết Thế Niệm Phật, tùy nơi tâm mình ưa thích, thấy
khắp chư Như Lai trong ba đời. Môn Trụ Nhứt Thiết Cảnh Niệm Phật, khắp
trong tất cả cảnh giới, thấy chư Như lai lần lượt hiện thân. Môn Trụ
Tịch Diệt Niệm Phật, trong một niệm thấy chư Phật trong tất cả cõi thị
hiện vào Niết Bàn. Môn Viễn Ly Niệm Phật, trong một niệm thấy tất cả
Phật từ chỗ mình ở đi ra. Môn Trụ Quảng Ðại Niệm Phật, tâm thường quán
sát mỗi mỗi thân Phật đầy khắp tất cả các pháp giới. Môn Trụ Vi Tế Niệm
Phật, khoảng một đầu lông có bất khả thuyết Như Lai xuất hiện, đều đến
tận nơi mà thừa sự. Môn Trụ Trang nghiêm Niệm Phật, trong một niệm thấy
tất cả cõi đều có chư Phật thành Ðẳng Chánh Giác hiện sức thần biến. Môn
Trụ Năng Sự Niệm Phật, thấy tất cả Phật hiện ra nơi đời phóng ánh sáng
trí huệ, chuyển bánh xe pháp. Môn Trụ Tự Tại Tâm Niệm Phật, tùy tâm mình
ưa thích, tất cả chư Phật đều biết và hiện ảnh tượng. Môn Trụ Tự Nghiệp
Niệm Phật, biết tùy theo nghiệp lành chứa nhóm của chúng sanh, hiện ra
ảnh tượng khiến cho giác ngộ. Môn Trụ Thần Biến Niệm Phật, thấy Phật
ngồi trên hoa sen tươi nở rộng lớn đầy khắp pháp giới. Môn Trụ Hư Không
Niệm Phật, quán sát Như Lai có nhiều thân như mây, trang nghiêm pháp
giới và hư không giới...".
Môn Niệm Phật xuất sanh nhiều tam muội và lợi ích khắp chúng sanh
như thế, nên gọi là Vương tam muội, và như trời che đất chở.
Hán 22:
Nhứt cú Di Ðà
Ðắc Ðại Tổng Trì
Chuyển nhứt thiết vật
Sử thập nhị thì.
Việt 22:
Một câu A Di Ðà
Khiến được Ðại Tổng Trì
Chuyển hết tất cả vật
Sử dụng mười hai thì.
Lược giải:
Ðại Tổng Trì là sự thông suốt nắm giữ
tất cả pháp với tầm mức lớn lao rộng rãi. "Muốn được tất cả, phải bỏ tất
cả". Ví như tấm gương sáng lớn mà đem vật gì che áng ở trước, dù là một
bình hoa đẹp, tất chỗ đó mất sự chiếu soi tự tại. Chơn tâm của chúng ta
là tấm gương Ðại Viên Cảnh Trí, nếu chấp giữ một pháp nào, dù đó là Phật
lý cao siêu mầu nhiệm, tất cũng sẽ bị kém mất sức chiếu soi tự tại, sự
thông suốt tất cả pháp. Như thế làm sao được Ðại Tổng Trì? Kinh nói:
"Thấy biết mà giữ sự thấy biết là gốc vô minh. Thấy biết không giữ sự
thấy biết, đó mới chính Niết bàn". (Tri kiến lập tri, tức vô minh
bản. Tri kiến vô kiến, tư tức Niết Bàn). Cho nên chuyên nhứt câu niệm
Phật, xả bỏ tất cả, hành giả quyết sẽ được Ðại Tổng Trì, Ðại Tam Muội.
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Nếu chuyển được vật, tức đồng với Như Lai".
(Nhược năng chuyển vật, tức đồng Như Lai). Chúng sanh tâm thường hướng
ngoại, không biết các pháp là huyễn, cho nên bị cảnh lục trần xoay
chuyển, như con trâu lâm cảnh xỏ giàm dắt đi, hằng chịu sự phiền não
buộc ràng không được tự tại. Nếu quán xét các pháp là huyễn, giữ một câu
Phật hiệu xoay chiếu vào trong thì tâm lần lần thanh tịnh tự tại, sẽ làm
chủ được các pháp, không còn bị các pháp sai sử làm chủ nữa. Ðó gọi là
"chuyển vật" là đồng với Như lai. Trái lại, tức là bị vật chuyển, đồng
với chúng sanh vậy.
Ấn Quang pháp sư bảo: "Một lòng không trụ, muôn cảnh đều nhàn!"
(Nhứt tâm vô trụ, vạn cảnh câu nhàn). Khi tâm trụ nơi các pháp thì thấy
thời gian có lâu mau, bị cảnh giới làm cho loạn động, sanh niệm ưa,
chán, ghét, thương, khổ, vui, cùng vô lượng phiền não. Như trên, khi
hành giả giữ câu niệm Phật thanh tịnh, không để cho vật chuyển, thì
trong mười hai thời của ngày đêm, hằng được nhàn nhã, tự tại, tùy ý sử
dụng mọi sự, việc nào đáng làm trước hoặc làm sau đều theo tuần tự,
chẳng khác vị Ðông y sĩ tùy nghi sử dụng các hộc thuốc của mình.
Tóm lại, nếu khéo biết tu hành thì cách tự tại sử dụng trong mười hai
thời, sự làm chủ xoay chuyển các pháp, cho đến chứng đắc cảnh giới Ðại
Tổng Trì, then chốt đều do ở nơi câu niệm Phật.
Hán 23:
Nhứt cú Di Ðà
Tánh bản tự không
Tinh giai củng Bắc
Thủy tận triều Ðông.
Việt 23:
Một câu A Di Ðà
Tánh thể vốn tự không
Các sao chầu Bắc Ðẩu
Muôn nước chảy về Ðông.
Lược giải:
Một tín nữ đến thuật lại với bút giả: "Có vị
sư-cô bảo con bỏ hết đừng nên niệm Phật nữa, hãy để lòng yên lặng cho
tâm không, cảnh không, mới mau ngộ đạo!". Bút giả nói: "Các pháp đều như
huyễn, câu niệm Phật cũng như huyễn, tự thể của nó đã là không rồi, cần
gì phải bỏ? Nếu muốn chứng được tâm không, cảnh không, mà còn ngại câu
niệm Phật, còn bác bỏ sự tướng, thì đó chính là Thiên Không hay Ngoan
Không (cái không thiên lệch, trống rỗng, cứng chắc) của ngoại đạo, chớ
chẳng phải ý nghĩa Chân Không của Phật pháp. Ý nghĩa chân không chân
chánh của đạo Phật ở ngay nơi tất cả cái có thuộc mọi sự tướng, mà không
chấp thấy là có (Chân không bất không, diệu hữu phi hữu). Chẳng phải
riêng sư cô ấy lạc lầm, trong hiện tại có rất nhiều vị tu học Phật pháp
đã sa vào hầm hố đó. Thật là điều không may và đáng thương cảm!" Nay
nhân tiện xin tạm mượn sự việc trên để giải thích về ý nghĩa "tự không"
của câu niệm Phật.
Theo quan niệm địa dư xưa, người Trung Hoa cho rằng vùng đất của loài
người ở là một châu lớn, chỗ họ cư trú thuộc Trung Quốc. Phía Ðông của
châu ấy là biển cả, muôn dòng nước ở lục địa đều chảy ra đó. Người Việt
Nam hấp thụ văn hóa Trung Hoa, cũng đồng với quan điểm ấy. Bởi thế cụ
Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có câu: "Hồng nhật Ðông thăng tri đại hải. Bạch
vân Tây vọng thị thần châu". Và theo thiên văn học xưa, người Trung
Hoa bảo rằng các vì sao đều chầu hướng về ngôi Bắc Ðẩu. Ðể dẫn giải cho
Phật pháp, Triệt Ngộ đại sư cũng phương tiện mượn quan niệm thế gian ấy
mà làm thí dụ. Bởi tất cả pháp đều từ nơi biển Chân Không lưu xuất và
đều tan về Chân Không. Bên tông Tịnh Ðộ gọi thể Chân Không đó là Tự Tánh
Di Ðà. Bài kệ trên đại ý: Câu niệm Phật tánh vốn tu tiến chứng thể tánh
ấy một cách viên mãn, sẽ thức ngộ muôn pháp từ nơi đó mà lưu xuất, lại
cũng qui nhập về nơi đó. Như sao Bắc Ðẩu làm chủ muôn sao, muôn sao chầu
về Bắc Ðẩu, biển Ðông dâng nước vào các sông ngòi, nước sông ngòi đều đổ
về biển Ðông vậy.
Hán 24:
Nhứt cú Di Ðà
Pháp giới duyên khởi
Tịnh nghiệp chánh nhân
Bồ Ðề chủng tử.
Việt 24:
Một câu A Di Ðà
Là duyên khởi pháp giới
Chánh nhân của Tịnh nghiệp
Và chủng tử Bồ Ðề.
Lược giải:
Phật Pháp chia thành hai hệ: Không tông và Hữu tông. Không tông đề ra
thuyết Chân Như Duyên Khởi; Hữu tông đề ra thuyết A-lại-da Duyên Khởi.
Dung nhập vào Trung Ðạo, tức Nhứt Chân Pháp Giới thì Không và Hữu chẳng
khác, Chân Như tức A-lại-da. Ðây ý nói câu niệm Phật là huyễn hữu, cũng
lại là Chân Không, duyên khởi điểm của nó từ nơi pháp giới. Vậy câu niệm
phật là Pháp Giới Duyên Khởi, gồm Chân Như cùng A Lại Da duyên khởi,
dung nhiếp cả Hữu lẫn Không. Bởi thế nên Niệm Phật là chánh nhân của
Tịnh nghiệp. Tịnh nghiệp đây gồm bốn Tịnh Ðộ mà tiêu điểm cuối cùng là
cõi Thường Tịch Quang. Và Niệm Phật cũng là hạt giống Bồ Ðề đưa đến sự
Toàn Giác, gồm giác ngộ mình, giác ngộ chúng sanh, hạnh giác ngộ đầy đủ.
Hán 25:
Nhứt cú Di Ðà
Như cảnh chiếu cảnh.
Uyển chuyển hỗ hàm.
Trùng điệp giao ánh.
Việt 25:
Một câu A Di Ðà
Như gương chiếu các gương.
Uyển chuyển ngậm bóng nhau
Ðiệp trùng giao chói sáng.
Lược giải:
Ðời Ðường, Hiền Thủ đại sư khi giảng kinh Hoa Nghiêm đến nghĩa
"vô tận pháp giới trùng trùng đế võng", ngài phương tiện dùng mười
mặt gương tròn lớn, để tám hướng và trên, dưới mỗi chỗ một tấm, cách
nhau độ hơn trượng và đều cùng đối diện. Chính giữa lại an bài cốt Phật,
rồi thắp một ngọn đèn sáng để soi. Lúc ấy học chúng đều thấy trong mỗi
mặt gương nổi hiện lớp lớp tượng Phật và ánh sáng. Nhân đó tất cả đều
hiểu ý nghĩa: Biển quốc độ giao chiếu xen lẫn nhau lớp lớp điệp trùng,
không cùng tận, không ngằn mé. Ðây là cảnh tượng trang nghiêm của Hoa
Tạng thế giới hải. Bài kệ trên ý nói: Câu niệm Phật sẽ đưa hành giả vào
cảnh đại trang nghiêm không cùng tận đó. Cho nên niệm Phật chẳng phải là
pháp thấp kém thông thường. Ðã có bài kệ khen ngợi.
Niệm Phật vào tướng thật
Chứng biết Phật với Phật.
Cảnh vô tận trang nghiêm
Môn Ðại Ba La Mật!
Hán 26:
Nhứt cú Di Ðà
Tự không hợp không.
Liễu vô ngấn phùng
Khước hữu Tây Ðông.
Việt 26:
Một câu A Di Ðà
Như không hợp hư không.
Tuyệt không chút lằn dấu
Nhưng vẫn có Tây Ðông.
Lược giải:
Ðem một ly nước đổ vào chậu nước thì nước cùng nước dung hòa nhau, không
làm sao tìm thấy lằn dấu. Khi trút nước ra, khoảng hư không trong ly hợp
với hư không bên ngoài, cũng tuyệt không lằn dấu. Hành giả niệm Phật,
nếu trong quên thân tâm, ngoài quên cảnh giới, chẳng thấy mình là người
hay niệm, Phật là vị được niệm, thì tâm rỗng rang, hồn nhiên, dung hợp
với thể tánh Chân Không. Tâm cảnh ấy chẳng phải là không có chi, vì như
thế là lạc vào ngoan không của ngoại đạo. Trái lại, hiện tượng Chân
Không ấy sáng suốt vô tận bao hàm muôn pháp, vẫn có đầy đủ màu sắc của
cỏ cây, sông, núi, trời mây, vẫn có các phương hướng, cho đến cõi Ta Bà
thuộc phương Ðông, cõi Cực Lạc ở phương Tây. Ðó mới đích xác tánh không
chân chánh, cũng gọi là Như Lai nhứt thật cảnh giới.
Thuở xưa có vị cư sĩ đến hỏi đạo một cao tăng ở chốn sơn lâm. Bậc thượng
nhân này không đáp, chỉ trỏ mây trên trời cùng cái bình đựng nước của
mình. Tuy nhiên tuệ căn đã sẵn, vị cư sĩ liền ngộ vào thể đạo, tức thật
tánh chân không, liền làm bài kệ, trình lên rằng:
Luyện được thân hình tợ hạc hình
Ngàn thông tươi tốt mấy pho kinh.
Ta nay hỏi đạo không chi khác
Mây ở trời xanh, nước ở bình!
Niệm Phật đến chỗ vô niệm, sẽ dung hợp với tánh không bao la, tìm
không thấy mối mang dấu vết, mà vẫn đầy đủ tất cả, không thêm bớt là như
thế.
Hán 27:
Nhứt cú Di Ðà
Nhứt Ðại Tạng Kinh
Tung hoành giao thái
Tuyệt đãi u linh.
Việt 27:
Một câu A Di Ðà
Là một Ðại Tạng Kinh
Dọc, ngang giao chói sáng
Tuyệt đối, thể u linh.
Lược giải:
Có một độ, bút giả vừa tụng xong bộ kinh Hoa Nghiêm, tâm niệm bỗng vắng
lặng quên hết điều kiến giải, hồn nhiên viết ra bài kệ sau:
Vi trần phẫu xuất đại thiên kinh
Nghĩ giải thiên kinh không dịch hình!
Vô lượng nghĩa tâm toàn thể lộ
Lưu oanh hựu chuyển tịch thường thinh.
Bài kệ này có ý nghĩa: Chẻ hạt bụi cực vi để lấy ra tạng kinh rộng nhiều
bằng cõi Ðại Thiên thế giới. Tạng kinh ấy đã từ điểm bụi cực vi nơi
Không Tâm diễn ra, thì tìm hiểu nghĩa lý làm chi cho mệt tâm hình? Tốt
hơn là nên trở về chân tâm, bởi tâm này đã sẵn đầy đủ vô lượng vô biên
diệu nghĩa, lúc nào cũng lồ lộ hiện bày. Kìa chim oanh bay chuyền trên
cành cây kêu hót, đang nói lên ý nghĩa chân thường vắng lặng ấy!
Câu niệm Phật cũng thế, nó bao hàm vô lượng vô biên nghĩa lý nghiệm mầu,
đâu phải chỉ một Ðại Tạng Kinh? Gọi một Ðại Tạng Kinh chỉ là lời nói ước
lược mà thôi. Khi niệm Phật dứt hết vọng tưởng, đi thẳng vào chân tâm
hay vô lượng nghĩa tâm thì ánh sáng tự tâm phát hiện dọc ngang chói suốt
bốn bề. Tâm cảnh ấy dứt hết sự đối đãi, u linh nhiệm mầu không thể diễn
tả!
Hán 28:
Nhứt cú Di Ðà
Nhứt đại tạng Luật.
Miết nhĩ tịnh tâm
Giới ba la mật.
Việt 28:
Một câu A Di Ðà
Là một Ðại Tạng luật.
Chớp mắt vào tịnh tâm
Ðủ Giới Ba La Mật.
Lược giải:
Câu niệm Phật đã bao hàm đầy đủ nghĩa lý của một Ðại Tạng Kinh thì đối
với một Ðại Tạng Luật nó cũng như thế. Vì luật chẳng ngoài nhiếp giữ
thân, khẩu, ý cho trong sạch. Và thân, khẩu, ý lại không ngoài tâm, nếu
tâm thanh tịnh thì ba nghiệp cũng đều trang nghiêm thanh tịnh. Luật nói:
"Phật chế tất cả giới, mục đích để trị tất cả
vọng tâm. Nếu không có tất cả vọng tâm thì cần chi dùng tất cả giới?"
(Phật chế nhứt thiết giới, vi trị nhứt thiết tâm. Nhược vô nhứt thiết
tâm, hà dụng nhứt thiết giới?)
Cho nên khi niệm Phật, thoáng chốc dứt hết
vọng tưởng đi vào tịnh tâm, tức đã đầy đủ Giới Ba La Mật rồi. Ba-la-mật
là "bờ bên kia", là nơi giải thoát rốt ráo. Niệm Phật thanh tịnh, tức đã
đầy đủ sự giữ giới đến bờ cứu cánh giải thoát vậy.
Hán 29:
Nhứt cú Di Ðà
Nhứt Ðại Tạng Luận.
Ðương niệm tâm khai
Huệ quang như phún.
Việt 29:
Một câu A Di Ðà
Là một Ðại Tạng Luận.
Ðương niệm tâm mở thông
Ánh huệ tuôn vô tận.
Lược giải:
Như trên, câu niệm Phật đã bao hàm Kinh, Luật, tất nhiên đối với
Luận cũng như thế. Kinh Viên Giác nói: "Trí tuệ sáng sạch vô ngại đều
từ nơi Thiền Ðịnh mà sanh". Niệm Phật thanh tịnh chính là thiền
định, từ Ðịnh phát sanh trí huệ. Ðã có trí huệ thì nguồn biện luận sẽ vô
cùng. Tứ vô ngại biện cũng từ nơi niệm Phật thanh tịnh tâm cảnh mở sáng
mà tuôn trào như suối chảy.
Hán 30:
Nhứt cú Di Ðà
Nhứt tạng bí mật.
Phát bản thần thông
Cụ đại uy lực.
Việt 30:
Một câu A Di Ðà
Là một tạng bí mật.
Phát nguồn cội thần thông
Ðầy đủ uy lực lớn.
Lược giải:
Câu niệm Phật đã gồm ba tạng của Hiển giáo lại cũng đủ thần thông uy lực
của bí tạng Mật giáo. "Bản thần thông" là thần thông sẵn có, phát sanh
từ nguồn gốc chân tâm, không phải do tập luyện mà được. Niệm Phật công
thuần đến mức thanh tịnh, cũng như người có sẵn tiền muốn mua món gì
cũng được. Dùng công đức niệm Phật để cầu an, cầu siêu, trừ tai nạn, trị
đau bịnh, hàng tà ma, sám tội chướng, cầu phước huệ duyên lành, nguyện
sanh lên cung trời hoặc về cõi Phật, cho đến cầu Ðại Niết Bàn cũng đều
thành tựu. Tất cả uy lực thần thông cũng từ câu niệm Phật mà phát sanh.
Như thuở xưa, Thiện Ðạo đại sư khi niệm Phật, mỗi câu đều có một luồng
ánh sáng phóng ra. Một Ðại sư về Tịnh tông bên Nhật Bản, mỗi câu niệm
hồng danh, trong miệng bay ra một vị Phật. Liên Trì đại sư lúc dân chúng
nhờ đảo võ, ngài chỉ ra ngoài đồng gõ mõ niệm Phật, đi tới đâu mưa rơi
đến đó. Niệm Phật tùy ý phát ra thần thông uy lực là như thế.
Hán 31:
Nhứt cú Di Ðà
Hồn toàn Ðại Tạng
Giới, Ðịnh, Huệ quang
Lưu xuất vô lượng!
Việt 31:
Một câu A Di Ðà
Gồm toàn cả Ðại Tạng.
Giới, Ðịnh, Huệ ánh mầu
Tuôn ra không hạn lượng!
Lược giải:
Bài kệ trên nói tổng quát về sự bao hàm các Ðại Tạng của câu niệm
Phật. Các Ðại Tạng đây, gồm Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng, Tạp tập
tạng và Bí Mật tạng. Tạp Tập tạng nói về các pháp Ðại Thừa cũng gọi Bồ
Tát tạng. Bí Mật Tạng gồm các phương thức đàn, ấn, chú, mở một lối tu
đặc biệt, gọi là Kim Cang Thừa.
Ðường lối chứng lên thánh đạo không ngoài căn bản Giới, Ðịnh, Huệ, nhưng
chỉ một câu niệm Phật đã gồm đủ. Niệm Phật nhiếp thân, khẩu, ý trong
sạch là Giới. Niệm Phật thanh tịnh lòng không loạn động là Ðịnh. Niệm
Phật sáng suốt dứt hết vọng tưởng điên đảo là Huệ. Hành trì như thế,
công càng dày, niệm càng sâu thì ánh nhiệm mầu của giới, định, huệ, càng
sáng tỏ và chiếu xa đến nơi vô cùng tận!
Hán 32:
Nhứt cú Di Ðà
Thằng bản thị ma.
Nại hà bất hội
Phiên nghi tác xà?
Việt 32:
Một câu A Di Ðà
Dây vốn chỉ là gai.
Tại sao không thể nhận?
Nghi là rắn lầm thay!
Lược giải:
Duy Thức Luận có đoạn thí dụ: Người nọ đi trong cảnh trời nhá nhem tối,
chợt thấy một sợi dây to nằm uốn lượn, tưởng là con rắn, vội nhảy tránh
la hoảng lên. Ðến chừng nhìn kỹ lại mới biết mình lầm, vì đó chỉ là đoạn
dây. Nếu người ấy thể nhận sâu thêm, sẽ thấy dây kia cũng không thật, vì
do những tơ gai nhỏ kết hợp thành.
Lầm dây là rắn, Duy Thức Học thí dụ cho tánh Biến Kế Sở Chấp thuộc Phi
Lượng, tức chấp trước mọi sự và lượng định một cách sai lạc. Nhận ra là
dây, thí dụ cho tánh Y Tha Khởi thuộc về Tỷ Lượng. Y Tha Khởi là tánh
chất nương nơi cái khác khởi hiện, như sợi dây nương nơi cái khác khởi
hiện, như sợi dây nương nơi tơ gai mà có. Tỷ Lượng là sự lượng định
tương tợ của ý thức so sánh, như thấy dây tương tợ như rắn. Thể nhận sâu
thêm, thấy dây cũng giả, chỉ do tơ gai kết hợp thành, thí cụ cho tánh
Viên Thành Thật thuộc Hiện Lượng. Viên Thành Thật là tánh bao la sáng
suốt tròn đầy xác thật. Hiện Lượng là tâm lượng của trực giác không phân
biệt. Ðây mới là tánh lượng xác thật rốt ráo của chân tâm.
Sự ứng dụng về niệm Phật cũng thế. Nếu cho câu hồng danh là một pháp
lành, dùng nó để tu cầu phước báu hư huyễn của cõi Nhơn Thiên, đó thuộc
về tánh Biến Kế Sở Chấp và Phi Lượng. Có người dùng câu niệm Phật như
một thoại đầu hay phương tiện để dứt trừ vọng tưởng trở lại chân tâm,
cũng còn thuộc về tánh Y Tha Khởi là Tỷ Lượng. Như thể nhận niệm Phật
tức là Phật, ngay câu hồng danh là phước, là huệ, là Thật Tướng, là Chân
Tâm và Bồ Ðề Niết bàn, đó mới là tánh Viên Thành Thật thuộc Hiện Lượng.
Ứng dụng niệm Phật như thế mới đúng mức. Dùng với hai cách trước còn là
khuyết điểm sai lầm. Bài kệ trên, Triệt Ngộ thiền sư muốn nêu cao sự
diệu dụng về niệm Phật, để phá lối nhận thức sai lạc của một số người
đối với pháp môn này.
Hán 33:
Nhứt cú Di Ðà
Hãn văn hãn đổ.
Ảnh hiện cảnh lâm
Hưởng tuyên thiên cổ.
Việt 33:
Một câu A Di Ðà
Rất ít nghe, ít thấy.
Gương hiện bóng rừng cây
Trống trời tiếng vang dậy.
Lược giải:
Nơi cõi trời Ðao Lợi có chiếc thiên cổ do Bồ Tát hóa hiện. Khi chư Thiên
mê say theo ngũ dục, trống ấy nổi lên tiếng ầm ầm để cảnh giác và nói ra
các pháp: Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã. Thiên chúng nghe xong như chợt
tỉnh, liền bỏ các thú vui, cùng nhau tụ họp lại Thiện Pháp Ðường để
giảng luận về đạo đức. Niệm Phật cũng có tác dụng giống như thế. Bởi
công đức câu hồng danh, do sự nhiếp tâm xưng niệm, hành giả sẽ được tiêu
trừ nghiệp chướng, lần lần đi đến chỗ giác ngộ.
Lại như tấm gương tròn sáng vẫn lặng lẽ không phân biệt, mà hiện rõ bóng
hoa cỏ, rừng cây với đầy đủ chi tiết. Hành giả niệm Phật đến mức tịch
tĩnh vô phân biệt thì tấm gương lòng tức Ðại Viên Cảnh Trí sẽ lần lần
hiện ra sáng suốt lan rộng. Trong ấy cảnh y báo và chánh báo của mười
phương đều ảnh hiện, đương nhơn có thể nhận biết rõ từng số điểm hạt mưa
trong tam thiên thế giới. Như Di Lặc Bồ Tát đã khai thị cho Hư Vân thiền
sư:
"Gương đại trí trang nghiêm.
Hiện cảnh giới sum la.
Trời người và phàm thánh.
Thiện ác đều an lạc".
Công đức câu hồng danh rất ít nghe, ít thấy như thế, song tiếc thay cũng
rất ít người am hiểu suốt thông!
Hán 34:
Nhứt cú Di Ðà
Vô khả thí dụ!
Cổ cảnh đương đài
Thủy ngân đọa địa.
Việt 34:
Một câu A Di Ðà
Không thể thí dụ tất!
Gương xưa nơi đài cao
Thủy ngân rơi xuống đất.
Lược giải:
Công năng niệm Phật rất mầu nhiệm, không thể nào dùng thí dụ mà nói
ra cho hết được! Về thể, thì Niệm Phật sẽ phát hiện Ðại Viên Cảnh Trí,
ảnh hiện mọi cảnh giới: như tấm gương xưa để nơi đài cao chiếu rõ và in
bóng cảnh vật một cách không phân biệt. Ðã vô phân biệt thì làm sao dùng
lời nói mà diễn tả thí dụ? Về dụng, câu niệm Phật viên dung không ngại
như hạt thủy ngân rơi xuống mặt đất liền lăn tròn. Sự trì niệm hồng danh
có đủ Thiền, Giáo, Luật, Mật, một ngàn bảy trăm công án, tám muôn tư
pháp tạng. Nói rộng ra, lục độ vạn hạnh, tất cả hành môn đều dung thông
hàm chứa trong câu niệm Phật.
Hán 35:
Nhứt cú Di Ðà
Lão bà tâm khổ!
Vận vạn hộc chu
Phát thiên quân nỗ.
Việt 35:
Một câu A Di Ðà
Lòng thương xót khổ tâm!
Ðẩy thuyền nặng muôn hộc
Kéo cung mạnh ngàn cân.
Lược giải:
Vì lòng đại từ đại bi, đức Thích Tôn cùng hằng hà sa số chư Phật ở sáu
phương, đều hiện tướng lưỡi rộng dài, khen nói công đức không thể nghĩ
bàn của môn Niệm Phật, khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu sanh về Cực
Lạc. Từ xưa đến nay, chư Tổ cũng đã dẫn kinh viết luận rất nhiều, để tán
dương môn Tịnh Ðộ. Tâm xót thương sâu rộng, lời khổ thiết khuyên răn của
chư Phật, Bồ Tát, Tổ Sư như thế, thật đã hết lòng hết sức. Ví như người
đẩy thuyền chở nặng muôn hộc, giương cung cứng mạnh ngàn cân, sự dụng
tâm vận lực đã đến mức điểm cuối cùng vậy.
Hán 36:
Nhứt cú Di Ðà
Minh minh thị hữu
Tứ biện, bát âm
Bà tâm khổ khẩu!
Việt 36:
Một câu A Di Ðà
Rõ ràng chính là có.
Dùng tứ biện, bát âm
Khổ lời thương giải tỏa!
Lược giải:
Trong cảnh giới Nhứt Chân, chẳng phải rỗng không, cũng chẳng phải thật
có các pháp. Cho nên Tâm Kinh nói: "Này Xá Lợi Tử! Huyễn sắc chẳng
khác chân không, chân không chẳng khác huyễn sắc. Huyễn sắc chính là
chân không, chân không chính là huyễn sắc". Tóm lại, Chân Không
chẳng phải cái không trống rỗng, mà chính nó ở ngay nơi hiện tượng huyễn
hữu. Có một số người tu về Không môn, như Thiền tông chẳng hạn, chưa
hiểu chân lý này, lầm nhận chân tâm là một tự thể sáng suốt rỗng không.
Chư cao đức bên Tông môn cũng bác lối tu theo nhận thức sai lạc ấy, cho
đó là Hư Ðầu Thiền. Bởi hiểu biết sai lạc như thế, nên họ rất ngại niệm
Phật, cho tu Tịnh Ðộ còn có cái chướng của tướng có, như cát lẫn vào
cơm. Hoặc họ cũng nhận niệm Phật là có công đức, nhưng còn thuộc về pháp
hữu vi. Vì vậy, trong số các vị ấy có người đã mượn câu nói của cổ đức
để thí dụ: "Mạt vàng tuy là quí, nhưng rơi vào mắt thì xốn xang thành
bịnh!". Kỳ thật cổ nhơn cũng có lời ấy, song nói với một ý khác về
bên Thiền khi hành giả hỏi, chớ không phải thuộc bên Tịnh. Các vị ấy
cũng không hiểu: Pháp vô vi dung thông bao quát, đâu riêng có ngoài pháp
hữu vi?
Thuở xưa ni cô Ðạo Càn đến chùa Quốc Thanh ở non Thiên Thai để phỏng
đạo, có hỏi Bảo Lâm Trân thiền sư: "Bạch tôn đức! Thế nào là tướng đại
nhơn?". Trân công đáp: "Ðợi khi nào ngươi trừ hết ngũ chướng, đến đây ta
sẽ nói cho!" Ni cô thưa: "Thế thì Hòa thượng đã bị che lầm rồi đấy!" Ngũ
chướng là thân tướng người nữ. Ý Ðạo Càn muốn nói Chân Tánh không có
tướng nam nữ, nếu y cứ nơi hình tướng để tìm chân tánh là sai lầm. Ngài
Bảo Lâm Trâm nghe nói biết chỗ tu của Ni cô còn lạc vào lối chấp Thiên
Không, nên quát bảo: "Ngươi học ở đâu được cái Hư Ðầu Thiền như thế?".
Ðạo Càn bị quở, bất giác xuất hạn dầm mình, chợt tỏ ngộ, liền cúi xuống
đảnh lễ. Trân công gạn hỏi lại: "Thế nào là tướng đại nhơn?". Ni cô liền
đứng chẩm hẩm, giang đôi chân, giăng hai tay ra. Ðây là hành động biểu
thị tướng đại trượng phu, cũng ngầm nêu rõ tánh Chân Không ở ngay trong
tướng có. Ngài Bảo Lâm Trân thấy thế biết cô đã lãnh ngộ, liền gật đầu
ấn khả.
Bài kệ trên của tổ Triệt Ngộ, nhấn rõ lý Chân Không ở ngay nơi hình thức
Diệu Hữu của một câu A Di Ðà, nên mới nói: "Rõ ràng chính là có". Tứ
biện tài như tập trước đã dẫn giải. Còn “bát âm” là tám giọng nói của
Phật, gồm có: 1. Âm thanh rất trong tốt. 2. Âm thanh cực dịu dàng. 3. Âm
thanh hòa nhã thích ý. 4. Âm thanh tôn trọng sáng suốt. 5. Âm thanh
không pha lẫn giọng nữ. 6. Âm thanh giác ngộ không mê lầm. 7. Âm thanh
rất sâu xa. 8. Âm thanh sang sảng tuôn trào bất tận. Vì thương xót muốn
cho chúng sanh giác ngộ, chư Phật đã dùng bốn thứ vô ngại biện tài, tám
điệu âm thanh, khổ thiết tỏ bày dẫn đủ phương tiện chỉ rõ lý Chân Không
ở ngay trong Diệu Hữu. Và chư tổ sư trước nay cũng đã thương xót nói đến
đắng miệng cạn lời để giải thích lý này.
Hán 37:
Nhứt cú Di Ðà
Ðích đích thị vô.
Dung tha vạn tượng
Nhập ngã hồng lô.
Việt 37:
Một câu A Di Ðà
Ðích xác chính là không
Nếu tiêu muôn vật tượng
Tan vào một lò hồng.
Lược giải:
Như trên đã nói sáu chữ hồng danh nguyên là Diệu Hữu, bài kệ này
khai thị một câu A Di Ðà chính thật Chân Không. Với mục đích nêu rõ ý
này, xin tạm mượn một việc đã qua để giải thích:
Nhớ lại độ nọ, có vị sư cô tu Thiền đến nói với bút giả: "Gần đây một cư
sĩ niệm Phật hơn ba mươi năm, sau khi nghe lý Thiền, muốn thể nhập vào
cảnh Chân Không, cảm thấy mình bị trói buộc chướng ngại. Sở dĩ như thế,
do vì niệm Phật đã lâu năm, dù muốn xả bỏ tất cả, câu niệm Phật trong
tàng thức vẫn cứ hiện ra tiếp tục mãi, không làm sao dứt thoát được!".
Biết cô muốn bác rằng: Niệm Phật còn sự chướng ngại về sắc tướng, bút
giả đáp:
- Lý tánh chân không vẫn ở ngay nơi các pháp có, nên Bát Nhã Tâm Kinh đã
nói: "Thị chư pháp không tướng". Nếu vị cư sĩ ấy muốn thể nhập
vào Chân Không thì cái không đó là Ngoan Không của ngoại đạo, chớ chẳng
phải Chân Không. Tôi xin dẫn ra đây một ít bằng chứng:
1. Thuở xưa, đức Thế Tôn chỉ dạy nhiều vị Sa Môn thật hành môn Bất Tịnh
Quán để dứt trừ nhiễm dục. Và đã có vô số chư tỳ kheo tu theo pháp này
nên được chứng quả A La Hán. Bất tịnh vốn tướng nhơ ác mà Phật còn bảo
quán tưởng, huống chi câu hồng danh là tướng của công đức lành? Lại nếu
như sắc tướng gây chướng ngại cho việc chứng lý Chân Không thì làm sao
các vị sa môn kia đắc quả A La Hán?
2. Từ trước đến nay, năm chi phái về Thiền tông như Lâm Tế, Quy Ngưỡng,
Tào Ðộng, Vân Môn, Pháp Nhãn đều dùng câu thoại đầu làm công phu hạ thủ.
Chẳng hạn như các thiền giả tham cứu câu: "Muôn
pháp về một, một về chỗ nào?" (Vạn pháp qui nhứt, nhứt qui hà xứ?)
Hoặc có vị chỉ tham đơn độc một chữ Vô hay tham tưởng chữ A theo Phạn
ngữ. Sự tham cứu như thế đều nương nơi tướng có, nào khác chi hành trì
câu niệm Phật? Nếu tham thoại đầu chẳng thể nhập được vào Chân Không thì
làm sao các thiền sư xưa nay đắc ngộ cho đến chứng quả? Và nếu niệm Phật
chẳng có công hiệu tương tợ thì tại sao nhiều bậc tôn đức như Nhứt
Nguyên thiền sư, Minh Bản đại sư chỉ trì niệm một câu hồng danh mà được
đại ngộ, đi sâu vào tam muội?
3. Nếu cho rằng hình tướng của văn tự, ngôn âm gây chướng ngại đến lý
tánh Chân Không thì tại sao các bậc tôn đức khi xưa sau khi đại ngộ rồi,
trở lại niệm Phật, trì chú, tụng kinh, cho đến phiên duyệt tam tạng kinh
điển? Trong số ấy, chẳng hạn như ngài Vĩnh Minh và Thủ Sơn Niệm thiền sư
trọn đời trì tụng kinh Pháp Hoa, Phổ Am tổ sư trì tụng kinh Hoa Nghiêm,
Khuê Phong Ðịnh Huệ thiền sư trì tụng kinh Viên Giác, Kim Hoa Câu Chi
thiền sư trì tụng chú Chuẩn Ðề, Minh Giáo Tung thiền sư chuyên niệm danh
hiệu đức Quán Thế Âm. Cho đến như Phần Châu Vô Nghiệp thiền sư sau khi
đại ngộ, ba lần duyệt xem qua Ðại Tạng kinh điển?
Cho nên vị cư sĩ đó nếu muốn thể nhập vào Chân Không, hãy bỏ sự nhận
thức sai lầm ấy đi, đừng nghĩ rằngNiệm Phật là chướng ngại mà tự thành
chướng ngại. Vị đó cần chuyên nhứt niệm Phật hơn nữa, lâu ngày sẽ thấy
tự thể câu hồng danh chính là Chân Không. Niệm như thế, chẳng những câu
hồng danh là không, mà cho đến muôn vật tượng ở thế gian cũng do nhờ
niệm Phật, được tan biến dung hòa vào lò Chân Không to rộng bao la khắp
mười phương nữa!
Hán 38:
Nhứt cú Di Ðà
Diệc vô diệc hữu.
Mộng lý sơn xuyên
Cảnh trung hoa, liễu.
Việt 38:
Một câu A Di Ðà
Cũng không, cũng có tướng
Non sông nơi giấc mộng
Hoa, liễu ở trong gương.
Lược giải:
Bài kệ trên nêu rõ ý: Câu niệm Phật nói không cũng được, nói có cũng
được. Ví như bóng cành hoa, cội liễu lộ trong gương sáng, cảnh non cao,
sông rộng hiện giữa giấc mơ. Trường hợp ấy, nói không cũng được vì đó
chỉ là hình bóng, là cảnh mơ; nói có cũng được, bởi nó vẫn có ảnh tượng
của cảnh vật vậy.
Hán 39:
Nhứt cú Di Ðà
Phi hữu phi vô.
Nại trước tiện chuyển
Thủy thượng hồ lô.
Việt 39:
Một câu A Di Ðà
Chẳng có chẳng hư vô.
Chạm đến liền lăn chuyển
Trên nước chiếc hồ lô.
Lược giải:
Trong bốn bài kệ liên tiếp, bài đầu nói về lý Có, bài thứ hai nói lý
Không, bài thứ ba nói lý CŨNG CÓ CŨNG KHÔNG, và bài thứ sau sau này nói
lý CHẲNG PHẢI CÓ CHẲNG PHẢI KHÔNG của câu niệm Phật. Thật ra câu hồng
danh tuy không rời bốn lý trên, nhưng cũng chẳng thuộc riêng vào một thứ
nào trong bốn lý ấy. Ý nghĩa đích thật của câu niệm Phật là "Viên dung
tự tại chẳng thể nghĩ bàn!". Nếu hiểu ý này, hành giả có thể tùy duyên
ứng phó với mọi hoàn cảnh trong mọi trường hợp: hoặc có, hoặc không,
cũng có cũng không, cho đến chẳng phải có chẳng phải không, một cách
dung thông tự tại, không bị nó làm dính mắc chướng ngại. Ví như chiếc hồ
lô thả nổi trên mặt nước, chạm đến liền tùy tiện lăn chuyển, không nằm
hẳn một về nào. Bài kệ tiếp sau đây, sẽ nói rõ thêm về thật nghĩa của
câu niệm Phật.
Hán 40:
Nhứt cú Di Ðà
Ðệ Nhứt Nghĩa Ðế.
Thượng siêu bách phi
Khởi lạc tứ cú!
Việt 40:
Một câu A Di Ðà
Là Ðệ Nhứt Nghĩa Ðế.
Còn vượt khỏi bách phi
Huống rơi vào tứ cú!
Lược giải:
Trước tiên xin giải qua về Tứ Cú, Bách Phi. Tứ Cú là bốn câu gồm:
Có, không, cũng có cũng không, và chẳng phải có chẳng phải không. Bách
Phi: Bách là ước số lấy một trăm làm giới hạn. Phi là chẳng phải, tiêu
biểu cho nghĩa bác phá. Ðây nói chân lý vốn phi hữu, phi vô, phi thường,
phi đoạn, phi sanh, phi diệt, phi nhứt, phi dị, phi lai, phi khứ, phi
hữu biên, phi vô biên v.v... cho đến cả một trăm thứ phi. Tại sao thế?
Bởi lý tánh ấy tuyệt ngôn luận, dứt tâm tư, chẳng thể dùng lời nói và sự
suy nghĩ mà viện đến và diễn tả được.
Còn Ðệ Nhứt Nghĩa Ðế là thế nào? Ðây là nghĩa chân thật bậc nhứt, bên
Tông mệnh danh là: Một bước trên đầu sào trăm trượng, bên Giáo
gọi là: Bất Nhị pháp môn hay Thánh Ðế. Xin mượn lời vấn đáp của vua
Lương Võ hỏi tổ Ðạt Ma để tạm giải thích: Hỏi: "Bạch ngài! Sao gọi là Ðệ
Nhứt Nghĩa Ðế hay Thánh Ðế?". Ðáp: "Rỗng rang không tánh!".
Quy kết lại, ý bài kệ trên nói: Một câu A Di Ðà, nếu vận dụng đến mức
cùng tột, hành giả sẽ lìa tứ cú, vượt khỏi bách phi, đi ngay vào Ðệ Nhứt
Nghĩa Môn, tức thể nhập chân tâm vậy.
Qua năm bài kệ liên quan nhau nói trên, từ diễn dịch cho đến quy nạp, ở
điểm nào câu niệm Phật cũng dung thông không ngại. Nhưng luận về phần
căn bản, các lối chấp của nhà tu học Phật pháp xưa nay chẳng ngoài hai
điểm: Có và Không. Bước đầu tiên vào đạo, và cũng thuộc phần đa số,
người tu Phật thường hay chấp Có. Khi làm các công đức lành, họ sanh
niệm trước tướng, đôi khi dẫn đến sự tự mãn khoe khoang. Lối chấp này
gây trở ngại cho bước ngộ đạo, tiến trình đến cảnh giới giải thoát.
Sau khi đi sâu thêm vào biển Phật pháp, xem đến kinh Kim Cang, Pháp Bảo
Ðàn, hoặc nghiên cứu về thiên lý cao siêu, hầu hết lại rơi vào lối chấp
Không. Do đó, có nhiều kẻ đã không xem trọng điểm ăn chay, giữ giới, bác
bỏ sự niệm Phật tụng kinh cùng các việc làm lành, cho là thấp kém trước
tướng, chẳng hợp với trình độ cao siêu của lý Không. Họ đâu hiểu lý
Không của Ðại thừa là làm tất cả công đức hữu vi mà không chấp thấy có
tướng làm. Chẳng hạn như kinh Kim Cang bảo Bồ Tát bố thí chẳng nên trụ
tuớng, là không chấp thấy mình là người thí cho, đây là vật trao giúp,
kia là kẻ được ân huệ nhận lãnh. Bố thí như thế công đức mới vô hạn
lượng, rộng lớn như hư không. Trong ấy cũng nói về tụng kinh này sẽ được
công đức như thế nào? Vậy thì kinh Kim Cang, một áo điển diễn đạt về lý
Không của Ðại Thừa đâu từng bác bỏ việc tụng kinh, bố thí?
Trong hai lối chấp trên, chấp Có hãy còn gốc luân hồi, song chấp với
những việc lành, cũng sẽ được phước báu cõi Nhơn Thiên. Ðến như chấp
Không, bác phá tất cả sự tướng thì quả thật là tai hại. Kinh Phật gọi đó
là tội phá chánh kiến, bởi vì bài bác nhân quả. Nó gây sự lầm lạc cho
mình và người hủy hoại Phật pháp, khiến cho đương nhơn dễ sa vào địa
ngục! Ðây là hiện tượng mà các bậc thiện tri thức gọi là nhức đầu đau
tim (thống tâm tật thủ) vì nó gây tổn thương rất nhiều cho Phật giáo.
Chấp Không như thế lại dễ khiến cho loài Không Ma dựa vào tác hại, làm
hành giả đảo điên. Bút giả đã gặp một Thượng Tọa thuật lại câu chuyện
như sau:
Theo ý tôi, vị Thượng Tọa ấy nói, việc tham thiền chỉ thích hợp riêng
cho một số ít người bậc thượng căn. Thời nay, phần đông hàng tăng, tục
khi tu, nên lấy niệm Phật làm phần chánh, tụng kinh hoặc trì chú làm
phụ. Bởi tham thiền mà chưa thể thường nhiếp tâm vào định, hoặc hiểu sai
lầm rồi trụ tâm nơi cái ngoan không ám muội, tất sẽ bị loài không ma dựa
vào. Chính tôi đã mục kích vài ba người trong trường hợp này. Ðộ nọ, có
một sư cô đến gặp tôi đảnh lễ, trình thưa rằng: "Huynh đệ con hơn mười
người, trước kia đã thọ giáo với một vị tự xưng là Khán Không thiền sư.
Vị này bảo phải gạt hết tướng có, trụ tâm vào nơi không. Huynh đệ con
thật hành theo một thời gian, về sau tất cả đều bị loài ma ám nhập, nói
việc vị lai quá khứ, luận thuyết toàn là lý Không. Riêng phần con, nó đã
dựa vào hơn mười năm. Hiện thời khi gặp tượng hay kinh Phật, nó giục bảo
phải đập phá xé bỏ. Gặp hàng Tăng Ni, lại giục bảo phải chửi mắng, nói
những lời thô tục. Con tự kềm hãm chống trả lại, tìm nhiều bậc Pháp sư
cầu cứu, song họ đều nói con ma này uy lực cao không thể trục xuất ra
được. Nay con đến đây đảnh lễ cầu xin thầy có phương pháp chi giải thoát
dùm con!". Tôi nghe nói, bảo sư cô ấy tạm nằm nơi ghế dựa, rồi ngồi phía
sau để tay kiết ấn nơi đảnh mà trì chú Chuẩn Ðề. Tụng một lát, cô ấy
chuyển lời nói con ma năn nỉ xin tha, vì nó ra ngoài bơ bơ không nơi
nương tựa. Tôi không chấp thuận, tiếp tục trì chú mãi. Ban sơ, sư cô
nghiêng trở, dằn vật mình, kế tiếp lần lần thở gấp gần như đứt hơi. Tôi
thấy thế liền dừng lại, vì biết nếu cứ trì tụng tiếp, nó có thể liều
chết giết người bịnh trước, phó mặc cho sự thể ra sao thì ra. Ðã có vài
vị pháp sư bị cảnh ma giết người bịnh trong trường hợp này.
Tối hôm ấy, tôi trì chú, cầu nguyện xin chư thần giúp đỡ. Hơn một giờ
đêm, trong giấc mơ tôi thấy có hai vị Kim Cang sứ giả. Một vị thân màu
đen như sắt, khôi giáp toàn trắng; vị kia thân trắng như bạc, khôi giáp
toàn đen. Trước tiên, Thiết sứ giả lấy ra một binh khí lạ dường như xa
luân múa lên. Giây phút, từ binh khí ấy phát tiếng kêu vo vo, phóng ánh
sáng lạ mắt. Kế tiếp vị Ngân sứ giả đưa tay ra ngăn lại bảo: "Hãy từ từ
xem nó có chịu cải hối hay không đã!". Tới đây, cảnh tượng đều ẩn mất.
Thức tỉnh, tôi ngẫm nghĩ biết chư vị mách bảo: Nên khuyến hóa hơn là
dùng uy lực gây oan trái. Sáng ra tôi thuyết giáo chỉ rõ lối chấp sai
lầm không lợi ích cho con ma nghe, nó xin sẽ chuyển hướng tu theo chánh
pháp. Riêng phần sư cô nọ, tôi bảo vì loài ma đã dựa vào quá lâu, nên
thể phách của nó có phần dính liền với thể xác. Nếu vội trục xuất, e cho
thân của người bịnh sẽ bị tổn. Tôi truyền ấn và chú Chuẩn Ðề, bảo cô nên
hằng ngày trì tụng. Với uy lực của chú, ma sẽ từ từ xuất ra. Sư cô ấy
vâng lời.
Nói xong vị Thượng Tọa kết luận: Sự nhận thức cùng tu tập sai lầm, gây
nên tổn hại và cứu gỡ khó khăn là như thế. |