Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Lược Giảng, phần 2

    

3. Di Lặc Bồ Tát nhân đó hỏi Bồ Tát đời mạt thành tựu mấy pháp để được an ổn độ thoát

 

      Tiếp theo đây là đoạn thứ năm, kinh văn không dài, chỉ có một hàng rưỡi.

 

      Chánh kinh:

      Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát phục bạch Phật ngôn:

      - Thế Tôn! Nhược hữu Bồ Tát ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, pháp dục diệt thời, thành tựu kỷ pháp, an ổn vô não, nhi đắc giải thoát.

      (Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

      - Bạch đức Thế Tôn! Nếu có Bồ Tát trong đời mạt sau, trong năm trăm năm, khi pháp sắp diệt, phải thành tựu mấy pháp để an ổn, không phiền não hòng được giải thoát).

 

      Tôi nghĩ đây cũng là vấn đề chúng ta quan tâm phi thường. “Ư mạt hậu thế, ngũ bách tuế trung” là nói đến năm trăm năm đầu tiên trong thời kỳ Mạt Pháp gọi là “ngũ bách tuế trung”. Trong pháp vận của Phật Thích Ca Mâu Ni, Chánh Pháp tồn tại một ngàn năm, Tượng Pháp một ngàn năm, Mạt Pháp là một vạn năm. Năm trăm năm đầu của thời kỳ Mạt Pháp, nói chính xác là hai ngàn năm trăm năm sau khi đức Phật diệt độ. Bởi thế, câu này chính là để giảng cho thời đại hiện tại của chúng ta.

“Pháp dục diệt thời”: Diệt ở đây không phải là thật diệt, mà là Phật pháp ngày càng suy thoái. Chúng ta xem thấy Phật pháp trong xã hội hiện đại, đúng là “pháp sắp diệt” như đức Phật đã nói. Đừng tưởng Phật pháp tại Đài Loan hưng thạnh phi thường, tướng hưng thạnh ấy là giả, chẳng thật đâu, chỉ có thể nói là Phật pháp tại Đài Loan náo nhiệt mà thôi! Xưa kia, lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ (cụ chưa từng đến Đài Loan) giảng kinh thuyết pháp ở Bắc Kinh đã công khai bảo mọi người: “Phật pháp tại Đài Loan là giả, chẳng phải thật. Phật pháp chân chánh nằm ở Hoa Lục”. Tôi đến Bắc Kinh, thính chúng đem câu nói ấy hỏi tôi: “Phật pháp tại Đài Loan có phải là giả hay không?”

      Chư vị hãy để tâm quan sát một phen: Phật pháp ở Đài Loan rốt cuộc là thật hay chỉ là giả? Phật pháp chân chánh dạy người liễu sanh tử, thoát tam giới, còn Phật pháp giả dạy người tiếp tục gây tạo lục đạo luân hồi. Người Đài Loan tu phước rất nhiều, người tu đạo rất ít. Người tu phước nhiều thì phước báo tu được ấy sẽ hưởng cách nào? Vấn đề này lớn lắm nghe!

      Đời sau có lại được làm người nữa hay không là một vấn đề lớn. Đời sau nếu chẳng được làm thân người thì vẫn có phước báo. Trong đường súc sanh có rất nhiều phước báo đó chứ! Chúng ta chẳng cần phải tự hào mình phước báo rất lớn; thật ra, nghĩ lại, bọn ta phước báo không bằng súc sanh đó nghe! Quý vị có thấy người ngoại quốc nuôi các con thú cưng chưa? Không ít người phục dịch, chăm sóc chúng. Chúng ta đến những chỗ đó, có ai chiếu cố mình chăng? Nghĩ ra, mình phước báo chẳng bằng chúng! Quý vị thấy những con mèo nhỏ, con chó nhỏ đó được chăm sóc chu đáo thì phước báo của chúng do đâu mà có? Là do đời trước tu đấy. Quan sát nhiều sẽ hiểu rõ, quý vị phải nên thức tỉnh.

      Đoạn kinh này nói trong thời đại Mạt Pháp, chúng ta cần phải thành tựu mấy pháp mới hòng đạt được “an ổn, không phiền não, đạt được giải thoát”. Ở đây, “giải thoát” là siêu thoát luân hồi lục đạo. Điều thứ hai là gì? Lại còn phải tiến lên, vượt khỏi mười pháp giới thì mới là giải thoát rốt ráo. Bởi lẽ siêu thoát lục đạo luân hồi vẫn chưa rốt ráo, nhất định phải siêu việt mười pháp giới. Pháp môn Tịnh Độ vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chính là siêu thoát mười pháp giới, Tây Phương Tịnh Độ chẳng thuộc trong mười pháp giới.

     

4. Phật đáp: Dùng hai loại “bốn pháp” để được giải thoát

 

      Chánh kinh:

      Phật cáo Di Lặc Bồ Tát ngôn:

      - Di Lặc! Nhược hữu Bồ Tát ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, pháp dục diệt thời, đương thành tựu tứ pháp, an ổn vô não, nhi đắc giải thoát.

      (Đức Phật bảo Di Lặc Bồ Tát rằng:

      - Này Di Lặc! Nếu có Bồ Tát vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, lúc pháp sắp diệt, nên thành tựu bốn pháp sẽ được an ổn, không phiền não, được giải thoát).

 

      Trong đoạn này, Phật dạy chúng ta bốn nguyên tắc trọng yếu phi thường, ta cần phải tuân thủ. Chẳng cần biết là tu học pháp môn nào, nếu trái nghịch, vi phạm bốn nguyên tắc này thì quý vị đều chẳng thể tu học thành tựu.

 

      Chánh kinh:

      Hà đẳng vi tứ? Sở vị: Ư chư chúng sanh, bất cầu kỳ quá.

      (Những gì là bốn? Chính là: Với các chúng sanh, chẳng tìm lỗi họ).

 

      Chẳng những chỉ đối với các vị Đại Thừa Bồ Tát, mà đối với hết thảy chúng sanh đều chẳng nên bới tìm điều đáng bực, đều chẳng nên tìm lỗi lầm của họ. Câu này giống như câu Lục Tổ đã nói trong Đàn Kinh: “Nếu là người thật sự tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. Người chân chánh tu đạo, trong mỗi một niệm chỉ quan tâm đến chánh niệm của chính mình, có thời gian đâu để thấy lỗi người khác cơ chứ! Chúng ta phải nhận rõ điểm này, thấy lỗi người khác tức là mình có lỗi sờ sờ. Nếu tâm quý vị thanh tịnh không có phiền não, làm sao quý vị thấy lỗi người khác được? Nếu một phen tiếp xúc với cảnh giới bên ngoài mà trong tâm phiền não bèn hiện hành, thì đấy là do “thấy lỗi người khác”.

Bởi thế, Phật thấy hết thảy chúng sanh đều là Phật, Bồ Tát thấy hết thảy chúng sanh đều là Bồ Tát. Bọn ta là hạng nghiệp chướng sâu nặng, thấy chư Phật, Bồ Tát nghiệp chướng cũng sâu nặng luôn! Đấy chính là điều Phật dạy “tướng tùy tâm chuyển”. Bởi thế, quý vị thấy cảnh giới bên ngoài tướng trạng ra sao sẽ biết rõ tâm mình như thế nào. Quý vị thấy ai cũng có lỗi lầm nghĩa là chính mình lầm lỗi vô lượng vô biên. Khi nào thấy hết thảy chúng sanh đều chẳng có lầm lỗi thì xin chúc mừng quý vị, quý vị đã thành Phật rồi! Điều này rất khẩn yếu đấy! Vì thế mới nói “với các chúng sanh, chẳng tìm lỗi họ” chính là điều thứ nhất người tu hành phải tuân thủ. Điều thứ hai là:

 

      Chánh kinh:

      Kiến chư Bồ Tát hữu sở vi phạm, chung bất cử lộ.

      (Thấy các Bồ Tát có vi phạm gì, trọn chẳng nêu bày)

 

      “Bồ Tát” ở đây là người hoằng dương chánh pháp. Bất luận là tại gia Bồ Tát hay xuất gia Bồ Tát, cũng chẳng cần biết người ấy là Bồ Tát thật hay Bồ Tát giả, chỉ cốt những điều người ấy giảng là chánh pháp, chẳng phải là tà pháp, dẫu cho người ấy có lầm lỗi chi, cũng chẳng nghe, chẳng hỏi đến, vẫn cứ sanh tín tâm thanh tịnh, tâm cung kính đối với người ấy. Điều này rất trọng yếu. Điều thứ ba là:

 

      Chánh kinh:

      Ư chư thân hữu, cập thí chủ gia, bất sanh chấp trước.

      (Với các thân hữu, và hàng thí chủ, chẳng sanh chấp trước).

 

      Đối với thân hữu, thí chủ cúng dường pháp sư, nếu chẳng chấp trước thì chẳng tạo thành chướng ngại. Điều thứ tư là:

 

      Chánh kinh:

      Vĩnh đoạn nhất thiết thô quánh chi ngôn.

      (Vĩnh viễn dứt trừ hết thảy lời lẽ thô lỗ, hung tợn).

 

      “Thô” là lời lẽ thô lỗ. “Quánh” là lời lẽ hung ác. Chẳng được có thái độ như thế.

     

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Thị vi Bồ Tát ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, pháp dục diệt thời, thành tựu tứ pháp an ổn vô não, nhi đắc giải thoát.

      (Này Di Lặc! Đấy là Bồ Tát vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, lúc pháp sắp diệt, thành tựu bốn pháp an ổn không phiền não mà được giải thoát).

 

      Chỉ cần giữ đúng bốn pháp này mà hành theo thì đạo nghiệp của quý vị có thể thành tựu.

 

      Chánh kinh:

      Nhĩ thời Thế Tôn, dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

      (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn nhắc lại nghĩa này, bèn nói kệ rằng)

 

      Thể lệ Phật dùng để thuyết kinh chẳng giống với cách mọi người chúng ta trước tác văn chương. Trong kinh Phật, có Trường Hàng (văn xuôi), có Kệ Tụng, có lúc còn có cả Chú Ngữ. Dụng ý Ngài rất sâu. Kệ Tụng gần giống như thi ca Trung Quốc, cũng có gieo vần, nhưng không câu nệ bằng trắc, mục đích là thuận tiện nhớ tụng. Nhân vì Phật khai thị điều gì rất trọng yếu xong, sợ bọn ta quên tuốt, kinh văn cũng có lúc chẳng nhớ kỹ hết, Ngài bèn dùng Kệ Tụng cho dễ thuộc, cho thường nhớ mãi trong tâm, để hết thảy lúc, hết thảy nơi đều y giáo phụng hành. Vì thế, Phật bèn nói bốn câu sau đây:

 

      Chánh kinh:

      Bất cầu tha quá thất,

      Diệc bất cử nhân tội,

      Ly thô ngữ, xan lận,

      Thị nhân đương giải thoát.

Di Lặc! Phục hữu Bồ Tát ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, pháp dục diệt thời, đương thành tựu tứ pháp an ổn vô não, nhi đắc giải thoát.

      (Chớ tìm cầu lỗi người,

      Cũng đừng cử tội người,

      Lìa lời thô, keo bẩn,

      Người ấy sẽ giải thoát.

      Này Di Lặc! Lại có Bồ Tát vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, lúc pháp sắp diệt, nên thành tựu bốn pháp sẽ an ổn, không phiền não, mà được giải thoát).

 

      Tiếp theo đây, đức Phật nói bổ sung bốn câu kinh cũng trọng yếu phi thường. Trong phần trên, đức Phật nói bốn pháp, trong phần này lại nói bốn pháp nữa, tổng cộng là tám câu. Trong thời hiện tại chúng ta phải giữ gìn được tám điều này thì học Phật mới có thể thành tựu, chẳng lui sụt.

 

      Chánh kinh:

      Hà đẳng vi tứ? Sở vị: Bất ưng thân cận giải đãi chi nhân.

      (Những gì là bốn? Chính là: Chẳng nên thân cận người biếng nhác).

     

      Chúng ta thường thân cận hạng người ấy, họ sẽ ảnh hưởng đến sự tu học của ta. Chúng ta là phàm phu sơ học, chẳng có định lực, chẳng có trí tuệ, vì thế giao du phải chọn lựa người. Có khá nhiều bạn đồng tu đối với điều này chẳng hề để tâm cảnh giác, bị hoàn cảnh xoay chuyển, đáng tiếc vô cùng! Đấy chính là điều ta thường gọi là “nhân tình Phật sự”, nó có ảnh hưởng rất lớn đối với phàm phu sơ học. Học Phật ắt cần phải có lý tánh, thói tình phải buông xuống được thì mới có thể thành tựu. Pháp thứ nhất đây nhắm vào ý đó. Phạm vi của chữ “giải đãi” rộng phi thường, quý vị có nhận ra chưa? Giải đãi, lười biếng có phải là mỗi ngày ngủ dậy thật trễ hay chăng? Đối với hạng người ấy, đương nhiên quý vị chẳng thể thân cận: Họ còn bận ngủ, họ cũng chẳng kề cận quý vị được.

      Vậy thì ai mới là kẻ giải đãi? Trước đây, Ấn Quang đại sư từng giảng là kẻ nào ưa đến đạo tràng, ngày ngày la cà đạo tràng, ngày ngày tìm náo nhiệt. Vì sao họ là kẻ giải đãi? Họ giải đãi đối với việc tu đạo, biếng nhác tu định. Kẻ chẳng tu định, tu huệ, cứ ngày ngày đuổi theo náo nhiệt thì gọi là “kẻ giải đãi”. Bởi thế, chẳng được hiểu lầm ý nghĩa đoạn kinh này. Quý vị xem trong Văn Sao, trong Vĩnh Tư Lục sẽ thấy mỗi khi lão hòa thượng vừa thấy đệ tử quy y đến thăm, Ngài liền quở mắng:

- Ngươi đến đây làm chi?

      - Con đến gặp sư phụ.

      - Trước kia ngươi gặp sư phụ rồi, còn đến đây làm chi nữa? (Ngài quát quay về). Đến chỗ bon chen, tâm cũng loạn động theo, bảo ngươi ở nhà chắc thật niệm Phật, ngươi chẳng chịu niệm, ngươi còn muốn đến chùa miếu gặp sư phụ, có gì hay mà xem! Đó gọi là “giải đãi”.

Sở dĩ Ấn Quang đại sư nói ra điều gì, ai nấy đều rất tôn kính là vì pháp giáo hóa của Ngài chưa có ai đề xướng cả. Hiện thời, các đạo tràng mong mỏi tín đồ đông đảo, tín đồ không đến làm sao duy trì được đạo tràng. Bởi thế, con người hiện tại đều chuộng náo nhiệt. “Náo nhiệt” chính là giải đãi; đối với tu định, tu huệ, tu tâm thanh tịnh mà giải đãi. Ở đây, Phật dạy chúng ta chớ nên thân cận những kẻ như thế, đừng ngày ngày bắt chước họ khiến cho tâm bị loạn động. Điều thứ hai là:

 

      Chánh kinh:

      Xả ly nhất thiết hội náo chi chúng.

      (Rời bỏ hết thảy các chúng ồn náo).

 

      Không nên “ưa thích náo nhiệt” không chỉ có nghĩa là không ưa thích những nơi ăn chơi vui vẻ trong thế gian mà đối với ngay cả những chỗ hoan hỷ náo nhiệt nơi cửa Phật cũng chẳng nên ham mến. Nói chung, điều gì trái nghịch với Giới, Định, Huệ; trái nghịch với Giác, Chánh, Thanh Tịnh đều là giải đãi, ồn náo. Bởi thế, đoạn văn này dung hàm ý nghĩa rất sâu, rất rộng.

Mục đích của chúng ta là cầu giải thoát, cho nên phải hiểu rõ hai chữ “giải thoát” này. “Giải” là cởi mở. Cởi mở cái gì? Cởi bỏ phiền não. “Thoát” là thoát ly lục đạo luân hồi. Mục đích của việc học Phật là đây. Nếu quý vị chẳng nghĩ đến giải thoát thì chẳng sao, cứ việc ngày ngày lăn vào nơi náo nhiệt. Còn ai là kẻ thật sự mong liễu sanh tử, thật sự niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc thế giới thì nhất định phải tuân thủ lời dạy này.

Trước đây, trong kỳ Phật thất, Đàm Hư đại sư đã từng kể cho chúng tôi nghe đôi ba chuyện cũ, đều là chuyện thật. Ngài kể một đồ đệ niệm Phật của lão pháp sư Đế Nhàn, xuất thân là thợ đóng đai thùng, niệm Phật ba năm bèn đứng mà vãng sanh. Người ấy chưa từng đọc sách, chẳng hề biết chữ, chỉ là một người rất chân thật. Sau khi xuất gia, lão hòa thượng chỉ dạy ông ta sáu chữ “nam mô A Di Đà Phật”, chứ chẳng dạy điều gì khác, chỉ dặn dò: “Ngươi cứ niệm một câu Phật hiệu này, niệm mệt thì nghỉ, nghỉ ngơi xong lại niệm tiếp”. Quả nhiên, người ấy ở trong một tòa miếu hư nát, không ra khỏi cửa lớn, niệm một câu Phật hiệu suốt ba năm, chẳng bệnh tật gì, biết trước lúc mất, bèn đứng vãng sanh. Vãng sanh rồi vẫn đứng suốt ba ngày để đợi lão hòa thượng Đế Nhàn thay mình lo việc hậu sự.

Ông ta dựa vào đâu để thành tựu? Chính là chẳng thân cận kẻ giải đãi, rời bỏ hết thảy các chúng ồn náo; bởi thế nói giải thoát chẳng khó, nhưng sao ngày nay chúng ta học Phật khó khăn đến thế? Đó là vì chúng ta đã phạm phải lỗi lầm sau đây: hằng ngày đua theo nhiệt náo, coi chuyện đua chen nhiệt náo là làm Phật sự. Quý vị nói coi: đó có phải là vớ vẩn hay chăng? Quan niệm sai lầm rồi!

 

      Chánh kinh:

      Độc xử nhàn tịnh, thường cần tinh tấn.

      (Ở riêng chốn thanh vắng, thường siêng tinh tấn).

 

      Ấy là thật sự mong liễu sanh tử, xuất tam giới, thật sự mong giải quyết xong vấn đề ngay trong một đời. Quý vị phải nhận biết niềm vui tịch tĩnh; hoàn cảnh thanh tịnh chính là sự hưởng thọ tối cao của nhân sanh, trong ấy có niềm vui chân thật. Thế nào là tinh tấn? “Tinh” là tinh thuần, chuyên nhất. “Tấn” là chẳng lùi. Hiện tại người học Phật chúng ta thấy cũng rất siêng gắng, nhưng chẳng phải là tinh tấn, mà chỉ là tạp tấn, loạn tấn, nên chẳng được thành tựu. Muốn thành tựu thì phải thâm nhập một môn. Điều thứ tư là:

 

      Chánh kinh:

      Dĩ thiện phương tiện, điều phục kỳ thân.

      (Dùng phương tiện khéo điều phục cái thân).

     

      Phương tiện khéo léo điều phục cái thân, trong phần kệ tụng ở sau, ta sẽ thấy ý nghĩa này rõ hơn nữa. Câu kệ “tịch tĩnh, thường tri túc” ý nói điều phục cái thân, biết đủ thường vui, cuộc sống rất dễ chịu. Có áo để mặc, có cơm ăn no ba bữa, có căn phòng nhỏ để đụt nắng che mưa, là đủ quá rồi, chẳng cần chi hơn nữa. Có cầu thêm thì chỉ là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, cầu thấy A Di Đà Phật, ngoài ra chẳng cầu cái gì khác nữa. Tâm quý vị định rồi, quý vị sẽ thật sự hưởng thọ an lạc.

Dùng phương pháp ấy để điều phục cái thân, những chuyện người đời tranh giành đều là giả, đều chẳng mang theo được, đều tranh chẳng được, đều là ngu si tạo tác tội nghiệp. Người thật sự hiểu thấu, người giác ngộ sẽ chẳng thèm tranh nữa, đều buông xuống hết, nhất tâm hướng về đạo. Hướng về đạo là hướng về cái tâm thanh tịnh, hướng đến nguyện vọng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới của chính mình.

Trên đây là đức Phật vì chúng ta lại nói thêm bốn pháp vậy.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thị vi Bồ Tát ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, pháp dục diệt thời, thành tựu tứ pháp, an ổn vô não, nhi đắc giải thoát.

Nhĩ thời, Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

- Đương xả ư giải đãi,

Viễn ly chư hội náo,

Tịch tĩnh, thường tri túc.

Thị nhân đương giải thoát.

(Này Di Lặc! Đấy là Bồ Tát vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, lúc pháp sắp diệt, thành tựu bốn pháp, an ổn, không phiền não, bèn được giải thoát.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn nhắc lại nghĩa này, bèn nói kệ rằng:

- Hãy bỏ rời giải đãi,

Xa lìa các ồn náo,

Tịch tĩnh, thường biết đủ,

Người ấy sẽ giải thoát)

 

Phật dùng kệ tụng nhắc lại lần nữa những pháp nghĩa ở trên.

 

Chánh kinh:

Nhĩ thời, Thế Tôn thuyết thử kệ dĩ, cáo Di Lặc Bồ Tát ngôn:

- Di Lặc! Thị cố Bồ Tát ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế thời, dục tự vô não, nhi đắc giải thoát, trừ diệt nhất thiết chư nghiệp chướng giả.

(Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ ấy xong, bảo Di Lặc Bồ Tát rằng:

- Này Di Lặc! Vì thế các Bồ Tát vào đời Mạt sau, trong năm trăm năm, muốn tự không phiền não, lại được giải thoát, trừ diệt hết thảy nghiệp chướng thì...)

 

Đoạn kinh văn này dùng để tổng kết các đoạn kinh văn trên. Di Lặc Bồ Tát thay chúng ta thỉnh giáo đức Thế Tôn: trong thời kỳ Mạt Pháp (tức là trong xã hội hiện đại đây), chúng ta học Phật phải nên tu bao nhiêu pháp mới hòng gìn giữ an ổn, được độ thoát? Đức Thế Tôn dạy chúng ta tu bốn pháp, nói xong lại dạy thêm bốn pháp nữa; tổng cộng là tám pháp. Ngài nói xong lại phó chúc Di Lặc Bồ Tát, chứ thật ra là phó chúc mọi người chúng ta, Di Lặc Bồ Tát là người thay mặt cho chúng ta. Đoạn kinh này trọng yếu phi thường.

Nói “trong đời mạt sau, lúc năm trăm năm” là nói đến xã hội hiện tại. Nếu chúng ta muốn được không phiền não, mong đạt giải thoát - hai chữ “giải thoát” này rất trọng yếu - chúng ta đọc [chữ Giải theo âm Quan Thoại] là xiè thì sẽ thành động từ, còn nếu đọc là jiẻ sẽ thành danh từ; tháo gỡ, dứt bỏ phiền não nên gọi là “giải trừ”. “Thoát” là liễu thoát lục đạo sanh tử luân hồi mới kể là thành tựu. Nếu chẳng đoạn phiền não, chẳng thể liễu thoát sanh tử luân hồi, chẳng được kể là thành tựu, bất luận tu pháp môn gì, tu giỏi đến đâu cũng chẳng thành tựu, quý vị vẫn cứ phải sanh tử luân hồi y như cũ. Bởi thế, hai chữ “giải thoát” trọng yếu phi thường, có thể nói nó chính là mục tiêu tu học hiện tiền của chúng ta.

Điều thứ hai là “trừ diệt hết thảy nghiệp chướng”. Tôi tin là người có nguyện vọng đạt mục tiêu thứ nhất “liễu sanh tử” chẳng có mấy, dường như mục tiêu thấp nhất là “tiêu nghiệp chướng” thì mọi người đều mong. Ít người mong mỏi liễu sanh tử, nhưng mong tiêu nghiệp chướng lại rất phổ biến. Nếu như quý vị mong tiêu trừ hết thảy nghiệp chướng thì có tám pháp như vậy, đủ thấy tám pháp ấy trọng yếu phi thường. Tiếp theo đây, Phật nói:

 

Chánh kinh:

Ưng đương xả ly hội náo chi xứ.

(Phải nên lìa bỏ những nơi ồn náo).

 

      Phải lìa bỏ những nơi ồn náo. Chúng ta là phàm phu, chẳng phải là thánh nhân tái lai. Các vị Phật, Bồ Tát tái lai tu hành chẳng giống chúng ta, mà là: “Trong pháp Đại Thừa, ở trong chỗ nhiệt náo mà lìa nhiệt náo”, chẳng phải là điều người bình thường [làm được]. Nếu ta học đòi các Ngài, xa lìa ồn náo trong chỗ ồn náo, ta nhất định đọa địa ngục A Tỳ; bởi thế, chắc chắn là chẳng học được.

Cuối bản kinh này có nói: Sơ nghiệp Bồ Tát chẳng giống như huệ hạnh Bồ Tát. Huệ hạnh Bồ Tát phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Hạnh của các vị Pháp Thân đại sĩ nói trong kinh Hoa Nghiêm đích thực là “phiền não chính là Bồ Đề, sanh tử chính là Niết Bàn”. Chúng ta là sơ học Bồ Tát, sanh tử là sanh tử, phiền não là phiền não, tuyệt đối chẳng thể “phiền não chính là Bồ Đề”, chúng ta làm không được!

Chúng ta nhất định phải hiểu rõ thân phận mình như thế nào, trình độ mình ra sao, phải nên tu học những gì; hoàn cảnh nhất định ảnh hưởng đến tâm tình chúng ta. Bất cứ hoàn cảnh bất hảo nào cũng sẽ khiến cho thân tâm ta chẳng đạt được hoàn cảnh thanh tịnh nên nhất định phải xa lìa. Vì thế, đức Phật mới dạy chúng ta xa lìa những nơi náo nhiệt, xô bồ.

 

      Chánh kinh:

      Trụ A-lan-nhã, tịch tĩnh lâm trung.

      (Ở A-lan-nhã, trong rừng vắng lặng)

 

Tuy câu này tựa hồ để dạy người xuất gia, nhưng người tại gia cũng phải nên thực hiện, cũng như chẳng được thoái thác. Bây giờ ta phải hiểu câu kinh này như thế nào đây? Chính là quý vị phải chọn lựa địa phương để cư ngụ. Ở chỗ nào an tịnh mới tốt! Người Trung Quốc chúng ta, đặc biệt những ai sanh sống ở Đài Loan, náo nhiệt đã biến thành thói quen, đột nhiên thanh tịnh tựa hồ chẳng chịu đựng nổi. Chúng tôi ở ngoại quốc thấy người quen ở Đài Loan, đến Mỹ quốc chẳng chịu đựng nổi.

Nước Mỹ rất thanh tịnh, hoàn cảnh cư trú rất êm đềm. Họ quy hoạch rất phân minh, khu vực buôn bán nhất định không thể ở được, ai sống trong khu vực ấy không sống được. Họ nói muốn tìm hoàn cảnh yên vắng, tuy khoảng cách giữa các nhà lân cận chẳng xa, nhưng nhất định quý vị chẳng nghe thấy âm thanh nhà hàng xóm. Đấy chính là hoàn cảnh cư trú hiện tại của Mỹ quốc, yêu cầu của họ phù hợp với điều được dạy trong kinh này đây. Có những người già Trung Quốc về hưu đến Mỹ, sống trong hoàn cảnh ấy cảm thấy rất tịch mịch, rất quạnh quẽ nên sống ở đấy chẳng được lâu. Đó đều là vì quen thói ưa chỗ náo nhiệt, đột nhiên an tịnh bèn chẳng chịu được nổi.

Thế nhưng đức Phật dạy chúng ta: người tu hành nhất định phải sống nơi thanh tịnh. “A-lan-nhã” là tiếng Phạn, có nghĩa là chỗ tịch tĩnh. Thời cổ, tiêu chuẩn an tịnh là chẳng nghe thấy tiếng trâu rống. Chỗ nào chẳng nghe thấy tiếng trâu rống, chỗ đấy gọi là A Lan Nhã. Chúng ta phải thể hội ý nghĩa, cảnh giới ấy. “Tịch tĩnh lâm” là tiêu chuẩn để chọn lựa chỗ tu học, chọn lựa chỗ cư trú. Câu thứ ba là:

 

      Chánh kinh:

      Ư bất ưng tu, nhi tu hành giả, cập chư lãn nọa, giải đãi chi thuộc, giai đương viễn ly.

      (Với những kẻ tu hành những pháp chẳng nên tu, và những hạng lười nhác, biếng trễ, đều nên xa lìa).

     

      Câu này dạy chúng ta phải xa lìa ác tri thức. Hạng người ấy gây trở ngại cho sự tu học của chúng ta, ta cần phải xa lìa. “Ư bất ưng tu, nhi tu hành giả”, quý vị thử nghĩ xem, những gì là “bất ưng tu” (chẳng nên tu)? Bọn họ hằng ngày tu những gì? Tu tham, sân, si đấy! Tu tham, sân, si thì quả báo là tam đồ ác đạo. Chúng ta tu hành mong thành Phật, bọn họ tu hành mong thành ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, là những điều chẳng nên tu.

Nhưng người thế gian tu tam ác đạo rất nhiều, trong số đó có cả chúng ta nữa! Bởi vậy, chúng ta phải tự phản tỉnh, phải tự kiểm điểm xem mình có tham, sân, si hay không? Tập khí tham, sân, si của mình có nghiêm trọng hay không? Nếu đã có mà lại nghiêm trọng nữa thì phải dùng phương cách đối trị. Dùng phương cách nào? Đức Phật dạy chúng ta dùng Giới, Định, Huệ để phá Tham, Sân, Si “và những hạng lười nhác, biếng trễ”.

      Đấy mới chỉ là một loại, nếu muốn kể ra thì kể chẳng hết được nổi. Đó đều là những hạng trái nghịch lời Phật dạy, chúng ta đều phải xa lìa!

 

      Chánh kinh:

      Đản tự thân quán, bất cầu tha quá.

      (Chỉ tự xét mình, chẳng cầu lỗi người).

 

      Đây chính là điều kinh Vô Lượng Thọ dạy “tẩy tâm dịch hạnh” (rửa lòng đổi hạnh). Người tu đạo chân chánh thường phải phản tỉnh, kiểm điểm lỗi lầm của chính mình, chẳng chuyên chú tìm lỗi người khác. Thấy lỗi người khác là một chướng ngại rất lớn, quý vị tu học Phật pháp công phu chẳng đắc lực, chẳng thể thành tựu. Niệm Phật chẳng những không đạt được Sự Nhất Tâm, mà công phu thành một khối cũng chẳng đạt được, nguyên nhân là vì đâu? Hằng ngày lo ngó lỗi người khác, hằng ngày kể tội người khác, tạo nghiệp đấy nhé! Dù miệng niệm Phật, nhưng tâm hạnh đều là tạo nghiệp, quý vị làm sao thành tựu cho được! Vì thế, phải nhớ kỹ: “Chỉ tự xét mình, đừng cầu lỗi người”.

 

      Chánh kinh:

      Nhạo ư điềm mặc.

      (Ưa thích lặng lẽ).

     

      Câu này dạy chúng ta phải an trụ tịnh tu, phải biết thân tâm tịch tĩnh chính là chân lạc.

     

      Chánh kinh:

      Cần hành Bát Nhã Ba La Mật Đa tương ưng chi hạnh.

      (Siêng hành hạnh tương ứng với Bát Nhã Ba La Mật Đa).

 

      Trong sanh hoạt thường ngày, đối người, đối sự, đối vật, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, hành vi đều phải có trí huệ cao độ. Bát Nhã Ba La Mật Đa nói theo ngôn ngữ bây giờ là trí huệ cao độ. Chư Phật, Bồ Tát biểu hiện trí huệ cao độ trong từng sanh hoạt, phàm phu sanh hoạt chẳng có trí huệ, chỉ có phiền não. Ở đây, Phật dạy chúng ta phải tương ứng với Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Bát Nhã Ba La Mật Đa là gì? Phật nói kinh Bát Nhã hai mươi hai năm, bản dịch chữ Hán kinh Đại Bát Nhã gồm sáu trăm quyển. Chúng ta phải tương ứng với Bát Nhã Ba La Mật, nói nghe dễ dàng sao! Chỉ là cái gì chẳng tương ứng thì chẳng hành, nhất định phải tương ứng. Bởi vậy, chúng ta phải nắm được cương yếu, tổng cương lãnh của Bát Nhã. Điều này, cổ nhân đã làm thay cho chúng ta rồi; đó chính là phương tiện dựa theo kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Giản tiện, tinh yếu hơn nữa thì có lẽ mỗi vị đồng tu hằng ngày đều niệm Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, hai trăm sáu mươi chữ. Chúng ta lấy đó làm tiêu chuẩn tu hành, sửa đổi cách nghĩ, cách nhìn, cách nói, cách làm của mình.

      Về phương diện ứng dụng Bát Nhã, cổ đức bảo rằng chỉ cần quý vị nắm được hai câu cuối trong bài kệ kinh Kim Cang ắt quý vị sẽ tương ứng với Bát Nhã Ba La Mật Đa. Hai câu ấy là: “Bất thủ ư tướng, như như bất động”. Chúng tôi giảng sơ lược hai câu này như sau: ngoài chẳng chấp tướng, trong tâm bất động. Bất luận thời gian nào, hoàn cảnh nào, đối nhân, đối sự, đối vật dù là pháp thế gian hay Phật pháp đều chẳng có ngoại lệ. Đối với pháp thế gian dùng thái độ đó, đối với Phật pháp vẫn dùng đúng thái độ đó: chẳng chấp tướng, chẳng khởi tâm động niệm. Thật sự làm được “bất thủ ư tướng, như như bất động” thì quý vị chẳng khác gì Phật, Bồ Tát rồi!

Hai câu này chúng tôi thường diễn tả là “buông xuống” (phóng hạ), buông xuống được. Tổng cương lãnh của buông xuống là Chỉ Quán. Ngài Thiên Thai giảng Ma Ha Chỉ Quán, hai câu trên chính là Chỉ, mà cũng là nói đến buông xuống. Bài kệ cuối cùng trong kinh Kim Cang là:

      Nhất thiết hữu vi pháp,

      Như mộng huyễn bào ảnh,

      Như lộ, diệc như điển.

      Ưng tác như thị quán.

      (Hết thảy pháp hữu vi,

      Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

      Như ánh chớp, như giọt sương,

      Nên thường quán như vậy)

      Bốn câu kệ này “thấy rỗng toang” (khán phá). Dùng bốn câu kệ này để thấy thủng hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian. Hết thảy pháp là hữu vi, pháp xuất thế gian cũng vẫn là pháp hữu vi. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm, thậm chí hết thảy chư Phật vì chúng sanh giảng kinh thuyết pháp, toàn bộ là pháp hữu vi!

Pháp hữu vi là mộng, huyễn, bọt nước, ảnh. Vì thế, đức Phật mới bảo “pháp còn phải bỏ, huống chi là phi pháp!” Pháp là Phật pháp. Phật pháp còn chẳng được chấp trước, huống hồ chẳng phải là Phật pháp, đều phải nên bỏ hết! Đấy là lời dạy quý vị phải thấy trần trụi [bản chất các pháp] vậy! Mộng, huyễn, bọt nước, ảnh chẳng phải thật, là giả đó! Điều này chúng tôi đã giảng rất tường tận, rất thấu đáo trong kinh Kim Cang.

      Câu “như lộ, diệc như điển” nói đến huyễn tướng, giả tướng ấy tồn tại trong thời gian rất ngắn. “Lộ” là giọt sương đọng, tỉ dụ cái tướng tương tục của hiện tượng ấy chỉ tồn tại trong một thời gian, nhưng thời gian ấy chẳng dài lâu. “Như điển” ý nói sanh diệt trong sát-na, nói cách khác là về căn bản chẳng hề tồn tại! Trong Phật pháp có nói “bất sanh bất diệt”. Bất sanh bất diệt ngụ ý sanh diệt đồng thời; lúc sanh cũng chính là lúc diệt. Đó chính là chân tướng của hết thảy hiện tượng, chẳng khó hiểu lắm. Các nhà khoa học hiện đại đã chứng minh cho chúng ta thấy rồi, điều xác thực là tất cả hiện tượng đều tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi phi thường, gần như chúng ta không có cách nào tưởng tượng được, không cách gì hiểu được nổi. Bài kệ này thuyết minh chân tướng thế gian, xuất thế gian, hễ quý vị thể hội được, quý vị sẽ thấy rỗng toang được. Bởi thế, hai câu kệ trước và bài kệ này là nói đến thấy rỗng toang, buông xuống!

      Thấy rỗng toang, buông xuống thì chẳng cần biết là tu học theo tông phái nào, pháp môn nào, quý vị đều có “nhập xứ” cả! Nhập xứ là gì? Là quý vị đều có thể chứng quả. Chữ “nhập” này là nhập vào Nhất Chân Pháp Giới, nhập Bất Nhị pháp môn. Nhập được Nhất Chân Pháp Giới, Bất Nhị pháp môn thì chẳng những quý vị vượt khỏi lục đạo, mà còn siêu việt mười pháp giới nữa kia, đấy mới kể là thành tựu viên mãn rốt ráo. Bởi thế, câu này trọng yếu phi thường.

      Trong sanh hoạt, chúng ta phải tu những gì? Tu những điều trên. Nếu nói như vậy, cần chi phải cầu sanh Tịnh Độ cơ chứ? Nếu nói là chẳng cầu sanh Tịnh Độ, quý vị cứ y chiếu theo phương pháp này tu hành vượt thoát lục đạo, vượt thoát mười pháp giới xong; sau khi vượt thoát, quý vị muốn chứng được viên mãn Bồ Đề thì lại phải tu trọn ba đại a-tăng-kỳ kiếp. Thời gian ấy rất dài! Con số ấy là con số dùng trong thiên văn học đấy!

Chúng ta thường nói thành Phật phải mất ba a-tăng-kỳ kiếp, nhưng chẳng phải là tính từ thời gian hiện tại đâu nhé. Lúc quý vị chưa nhập Nhất Chân Pháp Giới không tính, lúc còn trong lục đạo không tính, lúc còn trong mười pháp giới, dẫu là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều chẳng tính, phải là vượt thoát mười pháp giới, chứng được Nhất Chân Pháp Giới rồi thì kể từ ngày ấy mới tính, phải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp mới viên mãn Bồ Đề. Đấy là điều kinh điển Đại Thừa thường giảng, quý vị phải lưu ý một chút mới hiểu rõ được.

      Trong ba đại a tăng kỳ kiếp, a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất chứng được ba mươi địa vị: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng; a-tăng-kỳ thứ hai chứng được bảy địa vị từ Sơ Địa đến Thất Địa; a-tăng-kỳ thứ ba chứng được Bát Địa, Cửu Địa, Thập Địa. Tu trọn ba a-tăng-kỳ rồi, quý vị đạt đến địa vị nào? Pháp Vân Địa Bồ Tát, vẫn chưa đạt tới địa vị Đẳng Giác; còn phải đạt tới Đẳng Giác mới là thành Phật. Chúng ta thấy lại phải tốn thêm một a-tăng-kỳ nữa mới thành công. Đó là nói trong trường hợp quý vị chẳng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ.

      Nếu cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ thì sao?

Ái chà! Quý vị chiếm tiện nghi lớn lắm nghe! Quý vị vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân phận chúng ta là phàm phu nghiệp chướng, hạ hạ phẩm vãng sanh một phẩm phiền não còn chưa đoạn được, đến thế giới Cực Lạc rồi muốn chứng được Phật quả viên mãn rốt ráo thì phải mất bao lâu? Trong quá khứ, khi giảng kinh chúng tôi đã nói nhiều lần rồi, chúng tôi dựa theo kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà tính toán tỉ mỉ thì khoảng ba bốn kiếp là thành công! Ba kiếp, bốn kiếp thôi nhé! Nếu quý vị chẳng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, phải mất ba đại a-tăng-kỳ kiếp, chẳng so sánh được nổi!

Chúng tôi nói rút gọn ý nghĩa này lại cho quý vị nghe: Chẳng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, quý vị tu hành chứng quả thì phải cần ba vạn năm mới có thể thành công; đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thì cần bao nhiêu thời gian? Ba ngày là thành công! Quý vị cứ tính đi. Đó là lý do vì sao chúng ta y chiếu Bát Nhã Ba La Mật Đa tu hành, nhưng vẫn phải vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quý vị càng nhận thức rõ đạo lý ấy thì chân tướng sự thực càng rõ rệt, bởi vậy quý vị mới tử tâm (1) khăng khắng niệm Phật cầu sanh, mà cũng chẳng hoài nghi, chẳng còn do dự. Đây là nói về tự hạnh.

     

      Chánh kinh:

      Nhược dục ư bỉ chư chúng sanh đẳng, thâm sanh lân mẫn, đa sở nhiêu ích, ưng dĩ vô hy vọng tâm thanh tịnh thuyết pháp.

      (Nếu đối với những chúng sanh ấy, sanh lòng thương xót sâu xa, muốn làm nhiều điều lợi ích cho họ thì phải dùng tâm không mong cầu mà thanh tịnh thuyết pháp).

 

Câu này nói về “lợi tha”. Bồ Tát đều có tâm từ bi, thấy chúng sanh rất khổ, rất đáng thương, nói chung là muốn giúp đỡ họ, nhưng rất đáng tiếc là chính mình không có trí huệ thì rốt cuộc phải giúp đỡ bằng cách nào đây? Càng giúp càng rối thêm, chúng ta thấy rất nhiều. Giúp đỡ như thế nào mà càng rối thêm? Giúp họ đọa tam đồ, đẩy họ đọa vào địa ngục, còn bảo là mình tạo công đức rất lớn. Oan uổng quá!

Ở chỗ này, quý vị phải đọc kỹ bộ kinh này, mới hiểu rằng ta thường nói mình độ chúng sanh, cứu tế những người khổ nạn, nhưng rốt cuộc là chúng ta đã làm những việc gì? Chúng ta tạo nhân quả như thế nào? Ta cần phải làm những gì thì mới đúng lý, đúng pháp, mới có thể thành tựu chính mình, giúp đỡ người khác? Kinh này dạy “sanh thâm lân mẫn, đa sở nhiêu ích”. “Nhiêu” là phong phú, phong nhiêu, cũng hàm ý lợi ích tối cao, lợi ích tối thù thắng: giúp cho người khác giác ngộ, chứ chẳng phải chi khác. Giúp họ nhận biết Phật giáo Đại Thừa, giúp họ nhận hiểu Tịnh Độ, lợi ích ấy vô lượng vô biên.

Nên dùng thái độ như thế nào? Dùng “tâm không mong cầu” để giới thiệu Phật pháp cho họ. Nếu như thuyết pháp cho họ mà có tâm mong mỏi nơi họ thì là lầm lạc rồi!

 

5. Lúc dùng tâm không mong cầu để hành pháp thí, sẽ thành hai mươi điều lợi, và lại thêm hai mươi điều lợi nữa

 

Theo cách đại sư Ngẫu Ích phán định, chia kinh này thành tất cả mười lăm đoạn, đoạn chúng tôi sẽ giảng dưới đây là đoạn thứ tám.

 

Chánh kinh:

Phục thứ Di Lặc! Nhược Bồ Tát dĩ vô hy vọng tâm, hành pháp thí thời, bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, dĩ nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh, quảng tuyên chánh pháp.

(Lại này nữa Di Lặc! Nếu Bồ Tát dùng tâm không mong cầu, lúc hành pháp thí, chẳng chấp vào danh tiếng, lợi dưỡng, quả báo, lấy sự nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh rộng nói chánh pháp).

 

“Vô hy vọng” nói cụ thể là ta chẳng hy vọng cái gì?

Điều thứ nhất là danh, chẳng vì cái danh, mà cũng chẳng vì “văn”. “Văn” nói theo ngôn ngữ ngày nay là mức độ được người ta biết đến. Chúng ta chẳng vì những thứ đó. Hiện tại có những vị đồng tu in những cuốn sách nhỏ, có một lần ở phi trường, tôi thấy một vị đồng tu cầm cuốn sách nhỏ để niệm, đại khái là Vô Lượng Thọ Kinh. Trang đầu cuốn sách ấy in một tấm hình của tôi, tôi thấy là do Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội ấn tống, thật là hồ đồ, phiền toái quá. Không nên như vậy! Quý vị làm vậy tưởng chừng như tôn trọng tôi, chứ thật sự ra là gì? Chỉ là đề xướng danh văn, lợi dưỡng, đề xướng bất tịnh thuyết pháp. Đầu kinh in hình Phật, hình Bồ Tát thì được, chứ quyết định chẳng thể in hình ai, tuyệt đối chẳng được!

Pháp thế gian có chỗ đáng học theo, có chỗ chẳng nên học theo vậy! Minh tinh điện ảnh gây chú ý, họ đăng ảnh quảng cáo rất nhiều. Lúc chúng tôi thuyết pháp, quyết định chẳng được làm như thế. Lúc phát thiếp thông báo [thuyết giảng], nếu cứ phải in hình pháp sư lên trên ấy thì có khác gì quảng cáo minh tinh đâu! Người thật sự có đức xem thấy, họ không trách quý vị nhưng cũng chẳng đến dự. Trên thiếp thông báo in hình Phật, hình hoa sen thì được, ngàn vạn phần chẳng nên in hình ai. Điều này quý vị phải nhớ lấy, tuyệt đối đừng tạo danh văn!

“Lợi” là lợi ích, “dưỡng” là cung dưỡng. Chẳng vì những thứ này [mà thuyết pháp]. Nếu chẳng vì những thứ này, lại có người vì những thứ gì? Vì quả báo. Tôi làm như thế tương lai sẽ thành Phật, thành Bồ Tát. Ý niệm thành Phật, thành Bồ Tát cũng phải bỏ sạch đi, cái gì cũng chẳng cầu thì quý vị mới thật sự thành tựu. Quý vị nghĩ tôi muốn chứng A La Hán, thành Bích Chi Phật, thành Bồ Tát thì gọi là khởi vọng tưởng, là mục tiêu của phàm phu. Họ mong mỏi thì nhất định họ sẽ chẳng đạt được.

Vì sao vậy? Chư Phật, Bồ Tát tâm địa thanh tịnh, một niệm chẳng sanh, làm sao còn có vọng niệm cơ chứ? Thành Phật, thành Bồ Tát là chúng ta nói, chứ các Ngài chẳng hề nói mình thành Phật, thành Bồ Tát. Kinh nói các Ngài thành Phật, thành Bồ Tát là tùy thuận chúng sanh mà nói. Chúng sanh hiểu như vậy cho nên Phật nói thuận theo chúng sanh, chứ trong tâm Ngài tuyệt chẳng có ý niệm ấy.

Chẳng những chư Phật, Bồ Tát không có ý niệm ấy, chúng ta xem trong kinh Kim Cang, Tu Đà Hoàn cũng đều chẳng có ý niệm ấy; ta mới nhận thức rõ ràng là Tiểu Thừa Sơ Quả còn chẳng có ý niệm ấy nên các Ngài mới chứng được Sơ Quả! Nếu có ý niệm ấy, các Ngài chẳng thể chứng Sơ Quả! Vì sao vậy? Còn có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. Có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là lục đạo phàm phu, chẳng phải là thánh nhân! Bởi thế, những lời Phật răn dạy ở đây gọi là lời răn dạy chân thật, chúng ta chẳng nên có những ý niệm như thế.

Đối với chúng sanh phải lấy việc “nhiêu ích” làm đầu. Nói theo ngôn ngữ hiện thời, “nhiêu ích” là lợi ích lớn nhất, thù thắng nhất, là giúp đỡ hết thảy chúng sanh, lấy đó làm điều ưu tiên. Tối thù thắng, thù thắng khôn sánh là dạy chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Pháp môn ấy gọi là pháp khó tin, làm sao họ tin tưởng được? Điều này rất trọng yếu! Bởi thế, tự mình phải nhận thức tu hành. Nếu chính mình chẳng tu hành, làm sao kêu người khác tin tưởng được? Nhất định phải lấy chính mình làm gương tốt để chúng sanh trông vào, họ không tin cũng không được!

Chính tôi khi học Phật, gặp thầy Lý Bỉnh Nam chừng một năm, đại khái thầy Lý bảy mươi mốt tuổi, so với tôi tuổi tác chênh lệch rất nhiều! Thế mà tôi thấy cụ Lý nhiều lắm là bốn mươi tuổi, mà sao cũng chẳng thấy cụ đã ngoài bảy mươi à nghe! Là vì tinh thần cụ sung mãn, thanh âm vang rõ, mắt nhìn cũng chưa quáng. Chúng tôi thường ở một góc đọc sách tra tự điển. Thầy bảo tôi tra, lúc tra xong, thầy nói: “Cầm đến đây tôi đọc cho các anh nghe để coi thị lực tôi ra sao?” Cụ đọc không sai một chữ! Chữ trong tự điển so với chữ in trong báo còn nhỏ hơn nữa, cụ chẳng cần phải đeo kính lão vì sao? Là để biểu diễn cho chúng tôi thấy, chúng tôi không thể không tin.

Nếu nói người tu hành vừa khô héo, vừa còm cõi, vừa chẳng có tinh thần, người như vậy chúng ta trông thấy có tín tâm chăng? Quý vị học Phật phải làm gương tốt cho người khác thấy, người ta mới tin tưởng chứ! Thấy quý vị học Phật mấy năm, khô cằn héo hon, còm cõi, quý vị nói cách nào, nói nghe hay đến đâu đi nữa, người khác cũng chẳng dễ gì tiếp nhận, cũng chẳng tin tưởng. Bởi vậy, quý vị phải triển khai cho người ta thấy, họ thấy xong nếu rất hâm mộ, thì quý vị mới bảo họ: Các ngài làm như vậy đó thì các ngài sẽ giống như tôi, so ra còn tốt hơn tôi nữa đó!

Tướng tùy tâm chuyển, cảnh tùy tâm chuyển. Cảnh là hoàn cảnh sanh hoạt của chúng ta. Quý vị phải hiểu rõ ý nghĩa này, quý vị có thấy hiện thời không ít người hô hào cải biến thể chất. Cải biến thể chất là một khẩu hiệu không ít người bị mắc lừa! Những ai bị lừa? Là do những người ấy có ham muốn như thế, người ta bèn tạo ra các thứ dược vật. Ôi! những dược vật ấy có ích chi, những dược vật tưởng là hữu ích, kỳ thật là độc dược. Quý vị dùng những dược vật ấy có ai biến cải được thể chất chăng? Tôi chẳng thấy ai đạt hiệu quả cả, đủ thấy là bị lừa, bị gạt gẫm rồi!

Phật dạy chúng ta phương pháp hữu hiệu nhất: tâm địa thanh tịnh, chân thành, từ bi thì thể chất quý vị sẽ biến cải. Tâm thanh tịnh khiến cho những gì tệ hại trên thân thể quý vị biến mất, thân thể quý vị bèn thanh tịnh, chẳng có ô nhiễm. Hiện thời ăn bất cứ gì, ăn uống vào đều có chất độc cả. Dùng gì để tiêu độc đây? Dùng tâm từ bi để tiêu độc. Bởi lẽ, nếu tâm địa quý vị thanh tịnh, từ bi, lẽ nào chẳng được khỏe mạnh?

Quý vị bảo thân mình đau bệnh thì nói cách khác là quý vị thiếu tâm từ bi, tâm quý vị chẳng thanh tịnh. Quý vị nói mình thanh tịnh, từ bi đều là giả, chẳng phải thật. Phật chẳng dối người, đức Phật chẳng có thuốc gì để cho ta cả. Phật dạy ta tự điều chỉnh thân tâm mình, chẳng vì danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo, những thứ ấy phải bỏ sạch hết cả đi.

 

Chánh kinh:

Thường vị chúng sanh, quảng tuyên chánh pháp, đương đắc thành tựu nhị thập chủng lợi.

(Thường vì chúng sanh rộng nói chánh pháp, sẽ được thành tựu hai mươi điều lợi)

 

Hai mươi điều lợi này tự nhiên có, chẳng cần phải cầu. Chẳng cầu mà có, trái lại nếu cầu sẽ chẳng được đâu! Vì sao vậy? Bởi ý niệm mong cầu ấy là nhiễm ô, là chẳng thanh tịnh, cho nên quý vị chẳng đạt được. Quý vị đừng cầu, chẳng cầu sẽ được!

 

Chánh kinh:

Vân hà danh vi nhị thập chủng lợi?

(Thế nào là hai mươi điều lợi?)

 

Tiếp đây, kinh nói cho chúng ta biết.

 

Chánh kinh:

Sở vị: chánh niệm thành tựu.

      (Chính là: chánh niệm thành tựu)

 

      Đây là điều lợi thứ nhất. Chánh niệm là vô niệm. Lại sợ quý vị niệm gì cũng chẳng có, bèn biến thành Vô Tưởng Định thì hỏng mất. Quả báo của Vô Tưởng Định là ở tại trời Vô Tưởng trong Tứ Thiền, thế là học Phật lại thành học ngoại đạo rồi; bởi thế Phật mới dạy chúng ta vô niệm là “không có tà niệm thì mới gọi là Chánh Niệm”. Chánh niệm là niệm của Phật, Bồ Tát, tương ứng với Phật pháp. Điều thứ hai là:

 

      Chánh kinh:

      Trí huệ cụ túc.

      (Đầy đủ trí huệ).

 

       Trí huệ là tác dụng do tâm thanh tịnh phát khởi, phiền não là tác dụng do tâm nhiễm ô phát khởi. Thân tâm thanh tịnh thì trí huệ tăng trưởng. Điều thứ ba là:

 

      Chánh kinh:

      Hữu kiên trì lực.

      (Có sức kiên trì).

 

      Sức kiên trì từ đâu sanh? Từ trí huệ sanh. Người ấy thông đạt, hiểu rõ hết thảy sự lý, chẳng mê hoặc mảy may, bởi thế người ấy làm gì cũng thông suốt từ đầu đến đuôi. Điều thứ tư là:

 

      Chánh kinh:

      Trụ thanh tịnh hạnh.

      (Trụ hạnh thanh tịnh)

 

      Tâm thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ý thanh tịnh, hành vi thanh tịnh. Điều thứ năm là:

 

      Chánh kinh:

      Sanh giác ngộ tâm.

      (Sanh tâm giác ngộ)

 

      Niệm niệm giác chẳng mê. Điều thứ sáu là:

 

      Chánh kinh:

      Đắc xuất thế trí.

      (đắc xuất thế trí)

 

      Làm thế nào để vượt thoát lục đạo luân hồi? Làm sao để vượt thoát mười pháp giới? Người ấy hiểu rất rõ ràng, rất minh bạch.

 

      Chánh kinh:

      Bất vị chúng ma chi sở đắc tiện.

      (Chẳng bị các ma thừa dịp làm hại).

 

      Nói theo ngôn ngữ bây giờ là quyết định chẳng để cho yêu ma, quỷ quái nắm đằng chuôi. “Đắc sở tiện” nghĩa là có nhược điểm bị người khác nắm được. Yêu ma, quỷ quái định khống chế quý vị mà quý vị đã hiểu đạo lý này, tâm địa thanh tịnh, nhất trần bất nhiễm, yêu ma quỷ quái chẳng còn cách nào làm gì được quý vị cả! Những gì là nhược điểm để yêu ma quỷ quái lợi dụng? Chính là danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo. Hễ quý vị có những ý niệm ấy thì sẽ bị chúng thao túng, bị chúng khống chế.

Các vị đồng tu chúng ta đã từng coi qua Tây Du Ký chưa? Trong Tây Du Ký có gã Tôn Ngộ Không thần thông quảng đại, nhưng gã bị Quán Thế Âm Bồ Tát nắm chuôi, suốt đời bị Ngài khống chế, chẳng ra khỏi lòng bàn tay Ngài được. Những gì là nhược điểm của gã? Thích đội cái mũ cao. Tôn Ngộ Không thích được người khác săn đón, thích được khao thưởng, đấy chính là chỗ yếu của gã. Bởi thế đức Quán Thế Âm Bồ Tát mới tặng cho gã cái mũ cao để đội, đội vào rồi Ngài bèn niệm chú Kim Cô, gã bèn bị khống chế!

Vì thế, quý vị háo danh, háo lợi, thích được cúng dường, ham quả báo, sẽ bị người ta nắm thóp ngay, bị người khác khống chế dễ dàng. Nếu quý vị chẳng ham thích chi hết, họ chẳng có cách nào hết, đối với quý vị họ không biết làm cách nào! Chỉ cần quý vị có chút vọng tưởng, có chút ý niệm, có chút dục vọng, quý vị bèn bị ma khống chế ngay! Suy nghĩ cặn kẽ, sẽ thấy ý nghĩa của câu kinh này rất sâu rộng. Điều thứ tám, thứ chín, thứ mười là:

 

      Chánh kinh:

      Thiểu ư tham dục, vô hữu sân nhuế, diệc bất ngu si.

      (Ít tham dục, chẳng nóng giận, cũng chẳng ngu si).

     

      Ba câu này ý nói thành tựu ba thiện căn. Ba thiện căn là vô tham, vô sân, vô si. Có thể thấy là nếu tham chấp danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo sẽ chẳng có ba thiện căn; sao quý vị ngày ngày cứ tăng trưởng tham, sân, si? Đoạn kinh trên đây nói về ba thiện căn hiện tiền vậy. Điều thứ mười một là:

 

      Chánh kinh:

      Chư Phật Thế Tôn chi sở ức niệm.

      (Được chư Phật Thế Tôn nghĩ nhớ)

     

      Đây là được chư Phật hộ niệm, vì sao vậy? Tâm tâm tương ứng chư Phật, cho nên cảm được chư Phật hộ niệm.

 

      Chánh kinh:

      Phi nhân thủ hộ.

      (Được phi nhân bảo vệ, gìn giữ)

 

Chữ “phi nhân” chỉ quỷ thần; quỷ thần cũng bảo vệ, giúp đỡ quý vị.

 

Chánh kinh:

Vô lượng chư thiên gia kỳ oai đức.

(Vô lượng chư thiên tăng thêm oai đức).

 

      Câu này ý nói thiên long bát bộ, hộ pháp thần. Hộ pháp thần bảo vệ, giúp đỡ quý vị đấy!

 

      Chánh kinh:

      Quyến thuộc thân hữu vô năng trở hoại.

      (Quyến thuộc, thân hữu chẳng thể ngăn trở, phá hoại).

 

      Một người tu cho tốt, cả nhà cũng được hưởng lây, người nhà, quyến thuộc đều được hưởng lợi ích như quý vị, đều hưởng nhờ phước báo của quý vị.

 

      Chánh kinh:

      Hữu sở ngôn thuyết, nhân tất tín thọ, bất vị oan gia ty cầu kỳ tiện.

      (Nói ra điều gì, người khác đều tin nhận, chẳng bị oan gia bới tìm khuyết điểm).

 

      Từ vô thỉ kiếp đến nay, đã kết oán rất nhiều đối với hết thảy chúng sanh, bởi thế gặp rất nhiều chướng ngại trên đường đạo Bồ Đề, ấy là ma chướng đó! Chẳng phải là oan gia, chủ nợ dung tha quý vị đâu nhé, chỉ vì quý vị chẳng hề chấp vào danh, văn, lợi, dưỡng, quả, báo nên oan gia chủ nợ cũng chẳng biết làm sao. Họ cũng chẳng có biện pháp nào để trở ngại, quấy nhiễu quý vị. Điều thứ mười bảy là:

 

      Chánh kinh:

      Đắc vô sở úy.

      (Được không sợ hãi).

     

      Điều thứ mười tám là:

 

      Chánh kinh:

      Đa chư khoái lạc.

      (Được nhiều điều vui sướng)

     

      Đây là điều ta thường bảo là “pháp hỷ sung mãn”. Điều thứ mười chín là:

 

      Chánh kinh:

      Vị chư trí nhân chi sở xưng thán.

      (Được những người trí khen ngợi).

     

      Người có trí huệ thật sự trông thấy quý vị sẽ khen ngợi. Điều thứ hai mươi là:

 

      Chánh kinh:

      Thiện năng thuyết pháp, chúng nhân kính ngưỡng.

      (Khéo có thể thuyết pháp, mọi người kính ngưỡng).

 

      Lời quý vị nói ra, tuy là mượn lời chư Phật, Bồ Tát hoặc lời của các vị tổ sư đại đức, nhưng vì tâm quý vị chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, dù mượn lời kinh sách của người khác, nhưng lời ấy từ tự tánh lưu lộ ra ngoài, đó gọi là “khéo có thể thuyết pháp” khiến người nghe rất cảm động, tạo ấn tượng sâu đậm, chứ chẳng phải là chiếu theo kinh văn mà phân khoa; thuyết pháp như thế chẳng thể làm cho người khác được lợi ích chân thật.

      Phật giảng cho ta nghe hai mươi điều, đều là những lợi ích tự nhiên đạt được, tuyệt đối chẳng phải là do mong cầu mà có.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Thị vi Bồ Tát đương đắc thành tựu nhị thập chủng lợi. Bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, hành nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh dĩ vô hy vọng tâm, thanh tịnh thuyết pháp.

      (Này Di Lặc! Đấy là hai mươi điều lợi mà Bồ Tát sẽ được thành tựu, chẳng chấp vào danh văn, lợi dưỡng, quả báo, lấy việc nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh dùng tâm chẳng mong cầu thanh tịnh thuyết pháp).

 

      Câu này là đức Phật lại phó chúc, lại dặn dò một lần nữa. Phật nói hai mươi điều lợi, tiếp đây Ngài lại nói hai mươi điều lợi khác, đủ thấy tâm không mong cầu thanh tịnh thuyết pháp cho chúng sanh thì công đức lợi ích vô lượng vô biên. Chúng ta xem tiếp đoạn sau đây:

 

      Chánh kinh:

      Phục thứ Di Lặc! Nhược Bồ Tát dĩ vô hy vọng tâm, hành pháp thí thời, bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, dĩ nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh quảng tuyên chánh pháp, hựu năng thành tựu nhị thập chủng lợi.

      (Lại này Di Lặc! Nếu Bồ Tát lúc hành pháp thí, do tâm không hy vọng, chẳng chấp vào danh văn, lợi dưỡng, quả báo, lấy việc nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh rộng tuyên chánh pháp, sẽ lại thành tựu hai mươi điều lợi).

 

       Hai mươi điều lợi này, quá nửa là những điều người thuyết pháp thường mong mỏi: Cầu hiểu rõ lý luận, phương pháp, đấy gọi là “như lý như pháp”. Trong nhà Phật hữu cầu tất ứng. Thế nào là “như lý như pháp?” Chẳng cầu danh văn, lợi dưỡng, quả báo là “như lý, như pháp”. Dùng tâm thanh tịnh vì chúng sanh thuyết pháp chính là tâm không mong cầu thanh tịnh thuyết pháp vậy.

 

      Chánh kinh:

      Vân hà danh vi nhị thập chủng lợi? Sở vị: Vị sanh biện tài, nhi năng đắc sanh.

      (Thế nào là hai mươi điều lợi? Chính là: Biện tài chưa sanh sẽ được sanh khởi).

 

      Đây là điều lợi ích thứ nhất. Rất nhiều người mong được biện tài vô ngại. Biện tài vô ngại do đâu mà có? Ở đây Phật dạy cho chúng ta biết: Vô ngại biện tài là tánh đức của chính ta, trong bản tánh vốn đã sẵn có. Vì sao hiện tại chưa có được biện tài này? Chưa có là do còn có chướng ngại, nghiệp chướng đó mà! Quá khứ, hiện tại tạo tác khẩu nghiệp quá nhiều nên chẳng có biện tài; tâm chẳng thanh tịnh! Tâm thanh tịnh, biện tài bèn khôi phục. Điều thứ hai là:

 

      Chánh kinh:

      Dĩ sanh biện tài, chung bất vong thất.

      (Biện tài đã sanh, trọn chẳng quên mất).

 

      Quý vị đã đắc biện tài ấy thì sẽ chẳng bị mất đi. Điều thứ ba là:

 

      Chánh kinh:

      Thường cần tu tập, đắc đà-ra-ni.

      (Thường siêng tu tập, đắc đà-ra-ni).

     

      “Đà-ra-ni” là tiếng Phạn, nói theo ngôn ngữ hiện thời là “cương lãnh”. Chẳng cần biết quý vị tu học pháp môn nào, hễ quý vị nắm được cương lãnh, nắm được đại cương của pháp ấy thì lúc quý vị tu học rất dễ được thành tựu. Điều thứ tư là:

     

      Chánh kinh:

      Dĩ thiểu công dụng, thiện năng lợi ích vô lượng chúng sanh.

      (Dùng ít công sức mà khéo có thể lợi ích vô lượng chúng sanh).

 

      Chẳng cần phải mất nhiều thời gian, cũng chẳng cần phải đổ nhiều tinh thần, vẫn có thể lợi ích rất nhiều chúng sanh. Có thể thấy đó là biểu hiện của trí huệ cao độ, thiện xảo vậy! Điều thứ năm là:

     

      Chánh kinh:

      Dĩ thiểu công dụng, linh chư chúng sanh khởi tăng thượng tâm, cung kính tôn trọng.

      (Dùng công sức ít mà khiến cho chúng sanh khởi lòng tăng thượng, cung kính, tôn trọng).

 

      “Cung kính, tôn trọng” là đối với Tam Bảo mà nói. Một phần cung kính được một phần lợi ích, một phần tôn trọng được một phần lợi ích. Nếu chẳng cung kính, tôn trọng, dù chư Phật, Bồ Tát có thuyết pháp hay khéo đến đâu, người nghe cũng chẳng được lợi ích. Vì thế, điều này rất là trọng yếu. Điều thứ sáu là:

 

      Chánh kinh:

      Đắc thân khẩu ý thanh tịnh luật nghi.

      (Thân, miệng, ý phù hợp luật nghi thanh tịnh).

           

      Đây chính là tam nghiệp thanh tịnh. Điều thứ bảy là:

 

      Chánh kinh:

      Siêu quá nhất thiết ác đạo bố úy.

      (Vượt qua khỏi hết thảy những đường ác, những sự sợ hãi).

     

      Đây là chuyện đương nhiên. Dù tự mình có chủng tử ác nghiệp, nhưng trong đời này vì mình đã đoạn hết ác duyên nên chủng tử ác chẳng có duyên để kết quả. Chẳng những đoạn sạch duyên tam ác đạo, mà duyên trong lục đạo cũng đoạn sạch. Chẳng những đoạn sạch các duyên lục đạo mà duyên mười pháp giới cũng bỏ sạch. Người ấy trong một đời nhất định chứng Nhất Chân Pháp Giới. Muốn vậy thì phải làm cách nào? Chắc thật niệm Phật! Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng thuộc trong mười pháp giới, người vãng sanh đã siêu thoát mười pháp giới. Điều thứ tám là:

 

      Chánh kinh:

      Ư mạng chung thời, tâm đắc hoan hỷ.

      (Lúc lâm chung, tâm được hoan hỷ).

 

      Người bình thường lúc lâm chung rất thống khổ, rất ưu sầu, thật chẳng biết làm cách nào; nhưng người tu đạo hiểu được mạng đã đến lúc chấm dứt nên họ rất hoan hỷ, rất sung sướng, đúng là lúc thoát ly biển khổ! Người ấy muốn sang sống nơi thanh tịnh tối cực, nơi thù thắng tối cực vậy. Điều thứ chín là:

 

      Chánh kinh:
      Hiển dương chánh pháp, tồi phục dị luận.

      (Hiển dương chánh pháp, đập tan dị luận)

 

      Năng lực thuyết pháp của người ấy phảng phất giống với chư Phật, Bồ Tát. Điều thứ mười là:

 

      Chánh kinh:

      Nhất thiết hào quý, oai đức, tôn nghiêm, do tự bất năng sở hữu khuy vọng, hà huống hạ liệt thiểu phước chúng sanh.

      (Hết thảy kẻ giàu sang, oai đức, tôn nghiêm còn chẳng thể đánh giá người ấy chút phần, huống là những chúng sanh hèn kém, ít phước).

     

      Câu này tán thán những thành tựu của người ấy. Phần đầu nói đến những kẻ phú quý, “hạ liệt thiểu phước” là kẻ bần tiện. Người phú quý hay bần tiện trong thế gian chẳng thể suy lường được người ấy cao thâm đến đâu. Đấy là nói đến cảnh giới của người ấy. Điều thứ mười một là:

 

      Chánh kinh:

      Chư căn thành tựu.

      (Các căn thành tựu).

 

      Điều thứ mười hai là:

 

      Chánh kinh:

      Vô năng ánh tế.

      (Không chi che lấp được) 

     

      Biểu hiện năng lực trí huệ của người ấy rất rạng rỡ, không thừa sót, không ai có thể chướng ngại nổi người ấy. Điều thứ mười ba là:

     

      Chánh kinh:

      Cụ túc nhiếp thọ thù thắng ý lạc.

      (Nhiếp thọ đầy đủ niềm vui xứng ý thù thắng).

 

      Câu này nói đến sự hưởng thọ trong cuộc sống của người ấy: đạt được hạnh phúc khoái lạc viên mãn. Niềm hạnh phúc khoái lạc đó từ trong tâm tỏa lộ ra bên ngoài, chứ chẳng phải từ bên ngoài mà có. Đấy gọi là “thù thắng ý lạc”. Hạnh phúc xứng ý của phàm phu do từ bên ngoài kích phát: hưởng thọ ngũ dục, lục trần, cho đó là khoái lạc. Chư Phật, Bồ Tát chẳng vậy, khoái lạc phát xuất từ nội tâm. Khoái lạc phát khởi từ vô lượng trí huệ, vô lượng tài nghệ, vô lượng đức năng trong tâm tánh. Đấy mới là khoái lạc chân thật. Điều thứ mười bốn, mười lăm là:

 

      Chánh kinh:

      Đắc xa-ma-tha, tỳ-bà-xá-na.

      (Chứng đắc Chỉ, Quán).

 

      Hai câu này là tiếng Phạn. Xa-ma-tha là Chỉ, là Định. Tỳ-bà-xá-na là Quán. Chúng tôi nói một cách thông tục cho quý vị dễ hiểu. Xa-ma-tha là từ buông bỏ hết thảy mà đắc Định. Quý vị buông xuống được vạn duyên thì sẽ đắc Định, đó gọi là Xa-ma-tha. Tỳ-bà-xá-na là từ “khán phá” (thấy thấu suốt bản chất các pháp) mà đắc Định. Đều là đắc định, nhưng từ buông xuống mà đắc định thì gọi là Xa-ma-tha. Từ khán phá mà đắc định thì gọi là Tỳ-bà-xá-na. Điều thứ mười sáu là:

 

      Chánh kinh:

      Nan hành chi hạnh giai đắc viên mãn.

      (Các hạnh khó hành đều được viên mãn).

 

      Thế pháp có pháp khó hành, xuất thế pháp cũng có pháp khó hành, nhưng các vị đều làm được rất thuận lợi, rất viên mãn. Vì sao thế? Là vì quý vị có trí huệ, bèn có cách thức thiện xảo. Điều thứ mười bảy, mười tám là:

 

      Chánh kinh:

      Phát khởi tinh tấn, phổ hộ chánh pháp.

      (Phát khởi tinh tấn, hộ trì hết thảy chánh pháp).

 

      Tinh tấn khó đạt phi thường. “Tấn” là tấn bộ, vĩnh viễn không lùi sụt. Tấn bộ cần phải tinh, tinh thuần chuyên nhất, chẳng xen tạp. Đó gọi là “tinh tấn”. “Phổ hộ chánh pháp” cũng lại trọng yếu phi thường, bất cứ hết thảy pháp nào do chư Phật, Bồ Tát nói ra, ta đều dùng tấm lòng chân thành để ủng hộ, trọn chẳng vì mình tu Tịnh Độ bèn chỉ hộ trì pháp Tịnh Độ, ai tham thiền mình bèn chê bai thì là lầm mất rồi. Như thế là quý vị chẳng ủng hộ người ấy rồi! Với hết thảy các pháp đức Phật Như Lai đã nói đều phải dùng tâm bình đẳng, tâm chân thành để hộ trì, như vậy mới là đúng. Đúng như trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử tham học năm mươi ba lần, quý vị xem: Năm mươi ba vị thiện tri thức, mỗi người chỉ tu có một pháp môn, nhưng đối với tất cả các pháp môn bọn họ đều thán thán, quyết định chẳng hề phỉ báng. Đấy là “phổ hộ chánh pháp”, chúng ta phải học theo. Điều thứ mười chín là:

 

      Chánh kinh:

      Tốc tật năng siêu Bất Thoái Chuyển địa.

      (Có thể nhanh chóng vượt lên địa vị Bất Thoái Chuyển).

 

      “Tốc tật” là nhanh chóng. Quý vị có thể nhanh chóng vượt lên chứng đắc địa vị Bất Thoái Chuyển. Câu này chuyên chỉ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu chẳng cầu sanh Tịnh Độ, mong chứng đắc địa vị Bất Thoái Chuyển cực khó! Cực kỳ khó! Chỉ có vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thể lập tức đạt được ba thứ Bất Thoái Chuyển. Điều thứ hai mươi là:

 

      Chánh kinh:

      Nhất thiết hạnh trung, tùy thuận nhi trụ.

      (Tùy thuận trụ trong hết thảy các hạnh).

 

      Đấy là đắc đại tự tại. Bất luận là thuận cảnh, nghịch cảnh, bất luận là thiện đạo hay ác đạo, đều có thể tùy thuận, mà cũng đều có thể tùy duyên, đều có thể hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức. Do hằng thuận, tùy hỷ thành tựu vô lượng công đức. Đấy là hai mươi điều lợi thứ hai.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Thị vi Bồ Tát đương đắc thành tựu nhị thập chủng lợi. Bất trước danh văn, lợi dưỡng, quả báo, hành nhiêu ích sự nhi vi thượng thủ, thường vị chúng sanh dĩ vô hy vọng tâm, thanh tịnh thuyết pháp.

      (Này Di Lặc! Đấy là hai mươi điều lợi mà Bồ Tát sẽ được thành tựu, chẳng chấp vào danh văn, lợi dưỡng, quả báo, lấy việc nhiêu ích làm đầu, thường vì chúng sanh dùng tâm chẳng mong cầu thanh tịnh thuyết pháp).

           

      Câu trùng lặp như thế này rất nhiều, câu này rất trọng yếu. Hy vọng chúng ta nghe nhiều lần sẽ nhớ kỹ càng, trong sanh hoạt thường ngày thường phải nương theo đấy mà tu hành.

 

6. Những lỗi xấu ác trong đời Mạt Pháp:

6.1. Tham cầu lợi dưỡng

 

      Trong đoạn kinh sau đây, đức Phật thuyết minh về những lỗi lầm, các thứ ác hạnh trong thế gian hiện thời. Chúng ta đọc xong phải tỉnh ngộ sâu xa,      trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều phải lưu tâm đề phòng vi phạm. Xin hãy xem kinh văn:

 

      Chánh kinh:

      Phật cáo Di Lặc: “Nhữ quán vị lai hậu ngũ bách tuế”.

      (Phật bảo Di Lặc: “Ông xem trong đời tương lai, năm trăm năm sau).

 

      Câu này chỉ thời đại hiện tại của chúng ta.

 

      Chánh kinh:

      Hữu chư Bồ Tát thậm vi vô trí.

      (Có những Bồ Tát rất là vô trí).

 

      Bồ Tát ở đây đều là Sơ Phát Tâm Bồ Tát, chúng ta ngày nay gặp được Phật pháp, ai nấy đã thọ Tam Quy, Ngũ Giới, Bồ Tát Giới, nên đều là những Bồ Tát được nói đến trong đoạn kinh này. Là Bồ Tát gì? Bồ Tát ngu si, chẳng có trí huệ chi cả!

 

      Chánh kinh:

      Hành pháp thí thời.

      (Lúc hành pháp thí).

 

      Trong các loại bố thí, đặc biệt nhắc đến Pháp Bố Thí. Pháp Bố Thí bậc nhất là giảng kinh thuyết pháp. Chẳng luận là tại gia Bồ Tát hay xuất gia Bồ Tát đều có thể làm được. Đây là một hiện tượng rõ rệt phi thường, người giảng kinh thuyết pháp ở Đài Loan rất nhiều.

 

      Chánh kinh:

      Nhược hữu lợi dưỡng, sanh hoan hỷ tâm.

      (Nếu có lợi dưỡng, sanh tâm hoan hỷ).

       

      Giảng kinh thuyết pháp mà được người cúng dường rất nhiều, được người cung kính, khen ngợi rất nhiều, bèn rất cao hứng, rất hoan hỷ vậy!

 

      Chánh kinh:

      Nhược vô lợi dưỡng, bất sanh hoan hỷ.

      (Nếu không lợi dưỡng, chẳng sanh hoan hỷ).

 

      Nếu không ai cung kính, cúng dường thì ý nguyện giảng kinh bèn suy giảm, thậm chí chẳng còn có ý nguyện giảng kinh nữa.

 

      Chánh kinh:

      Bỉ chư Bồ Tát vị nhân thuyết pháp, tác như thị tâm.

      (Các Bồ Tát đó thuyết pháp cho người, sanh tâm như thế này)

 

      Khởi tâm động niệm như thế đó. Khởi tâm gì? Động niệm gì?

 

      Chánh kinh:

      Vân hà đương linh thân hữu, đàn việt quy thuộc ư ngã?

      (Phải làm thế nào khiến cho thân hữu, đàn việt phải quy thuộc mình?)

 

      Nói theo cách bây giờ là “lôi kéo tín đồ”. Nghĩ đủ mọi phương cách, dùng mọi phương tiện (hay nói theo cách bây giờ là “dùng mọi thủ đoạn”) để lôi kéo tín đồ, chẳng để cho họ đi đâu khác, cúng dường ai khác. Quý vị có muốn cúng dường thì chỉ nên cúng dường tôi, chẳng được cúng dường người khác. Quý vị muốn đến đạo tràng, chỉ nên đến đạo tràng của tôi, chẳng được đến đạo tràng bên cạnh. Mang lòng như thế, khởi lên ý niệm như thế.

 

      Chánh kinh:

      Phục cánh niệm ngôn: Vân hà đương linh tại gia, xuất gia chư Bồ Tát đẳng, nhi ư ngã sở, sanh tịnh tín tâm, cung kính, cúng dường, y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thang dược?

      (Lại còn nghĩ rằng: Phải làm thế nào để các hàng Bồ Tát tại gia, xuất gia, đối với ta sanh lòng tin trong sạch, cung kính, cúng dường quần áo, thức ăn, đồ nằm, thuốc men?)

     

      Hiện nay cái gì cũng quy thành tiền cả! Hoằng pháp lợi sanh mà khởi lên ý niệm ấy thì làm sao tương ứng cho được? Đây là hiện trạng của xã hội hiện tại.

 

      Chánh kinh:

      Như thị Bồ Tát, dĩ tài lợi cố, vị nhân thuyết pháp!

      (Hàng Bồ Tát như thế vì tài lợi mà thuyết pháp cho người)

     

      Mục đích thuyết pháp là vì tài, vì lợi.

 

      Chánh kinh:

      Nhược vô lợi dưỡng, tâm sanh bì yếm.

      (Nếu không lợi dưỡng, sanh tâm mệt chán)

 

      [Không lợi dưỡng] họ sẽ chán chường, không chịu làm nữa!

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Thí như hữu nhân chí nhạo thanh tịnh, hoặc vị tử xà, tử cẩu, tử nhân đẳng thi, nùng huyết lạn hoại, hệ trước kỳ cảnh, thị nhân phiền não, thâm sanh yếm hoạn. Dĩ vi nghịch cố, mê muộn bất an.

      (Này Di Lặc! Ví như có người tánh ưa thanh tịnh, nếu bị xác rắn chết, chó chết, người chết v.v... máu mủ rữa nát, buộc chặt nơi cổ, người ấy sẽ phiền não, sanh chán sợ sâu xa. Do vì trái ý, họ sẽ buồn bực chẳng yên)

 

       Ở đây Phật nêu lên một thí dụ để giảng: Ví như có một người, tâm chí ưa thích thanh tịnh, chẳng chút gì ô nhiễm, chợt gặp phải tình cảnh như sau: rắn chết, chó chết, người chết. Những thứ ấy để ví với gì? Để ví với danh văn, lợi dưỡng, quả báo đã nói ở phần trên. Nếu những thứ ấy buộc ràng vào thân, sẽ giống như bị xác chết đã tươm máu mủ, thối rữa, buộc chặt vào cổ, chẳng khác chút nào! Người tâm chí ưa thích thanh tịnh coi đó là khổ, còn ai lấy đó làm vui? Bồ Tát ngu si không trí huệ coi đó là vui thì có phải là rồ dại hay không rồ dại đây? Chúng ta lại xem tiếp đoạn kinh văn tiếp theo:

     

Chánh kinh:

      Di Lặc! Đương tri ư mạt thế hậu, ngũ bách tuế trung, thuyết pháp chi nhân diệc phục như thị. Ư chư nhất thiết vô lợi dưỡng xứ, bất thuận kỳ tâm, vô hữu tư vị, tiện sanh yếm quyện, khí xả nhi khứ.

      (Này Di Lặc! Ông nên biết rằng người thuyết pháp vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, cũng giống như thế. Đối với hết thảy những chỗ không lợi dưỡng, họ chẳng vui lòng. Với chỗ không có mùi vị, bèn sanh mệt chán, bèn buông bỏ đi)

 

      Những vị Bồ Tát ấy, chúng ta cứ xem qua liền hiểu là chí ý họ chẳng ưa thích thanh tịnh. Họ bị ngũ dục, lục trần, danh văn, lợi dưỡng buộc ràng. Vì thế nếu chẳng được danh lợi, họ sẽ chẳng làm; chỗ nào danh lợi nhiều, họ liền hiện vẻ dũng mãnh, tinh tấn, sẽ làm rất nhanh nhẹn, siêng năng. Toàn là vì danh lợi. Cần phải hiểu là danh văn, lợi dưỡng có quả báo quyết định là tam đồ. Bởi thế họ đang tu điều gì vậy? Tu tam ác đạo đấy! Họ đâu có tu đạo Bồ Đề.

 

      Chánh kinh:

      Bỉ chư pháp sư tác như thị niệm: Ngã ư thử trung, thuyết pháp vô ích. Hà dĩ cố? Thị chư nhân đẳng, ư ngã sở tu y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, bất sanh ưu niệm, hà duyên ư thử, đồ tự bì lao?

      (Các pháp sư đó nghĩ như thế này: Ta ở nơi đây, thuyết pháp vô ích. Vì sao vậy? Những người này đây, đối với y phục, đồ ăn, đồ nằm, thuốc men ta cần, họ chẳng lo nghĩ đến, cớ gì mình phải uổng công nhọc nhằn nơi đây?)  

      Khởi tâm ấy, động niệm ấy, hoàn toàn trái nghịch lời đức Như Lai răn dạy. Phật dạy ta dùng tâm không hy vọng để thanh tịnh thuyết pháp, mà họ thuyết pháp là để thỏa mãn những điều mong cầu, nhưng điều họ mong cầu vĩnh viễn không bao giờ ngơi. Điều này rất phiền toái, chẳng thể giảng tường tận cho quý vị đồng tu bộ kinh này, chỉ có thể điểm tới là thôi (2). Mọi người về nhà dốc lòng thể hội. Nếu giảng tỉ mỉ sẽ đắc tội với rất nhiều người, cho nên tôi mới nói là rất phiền toái. Ba mươi năm trước tôi giảng Thiền Lâm Bảo Huấn, có người gọi điện thoại, gởi thơ sửa lưng tôi: “Sư nói những điều này nọ đắc tội với rất nhiều người”. Bộ kinh này nếu giảng kỹ ắt sẽ lòi xương, bởi thế tôi hy vọng quý vị sẽ dốc tâm thể hội.

Điều tối trọng yếu là ta chẳng thấy lỗi người khác, mà phải phản tỉnh coi chính mình có phạm phải những căn bệnh ấy hay không. Có như vậy ta mới đạt được lợi ích chân thật. Người khác làm gì là chuyện của họ, chẳng liên can gì đến ta. Họ thành Phật chẳng liên can gì đến ta, họ đọa địa ngục cũng chẳng liên can gì đến ta. Việc gì ta phải bận tâm đến họ! Tối khẩn yếu là phải quan tâm giữ mình cho tốt; giữ mình chẳng dễ đâu! Gặp được bộ kinh này là nhân duyên thù thắng khôn sánh, y chiếu lời dạy răn chân thật của Phật Đà, tích cực phản tỉnh, kiểm điểm, sửa lỗi, đổi mới, hy vọng được giải thoát ngay trong một đời này, được vãng sanh Phật quốc, nhanh chóng được viên mãn Bồ Đề mới là mục tiêu chân chánh của chúng ta.

      Chúng ta đọc đoạn kinh này một lượt nữa: “Các pháp sư đó nghĩ như thế này: Ta ở nơi đây, thuyết pháp vô ích. Vì sao vậy? Những người này đây, đối với y phục, đồ ăn, đồ nằm, thuốc men ta cần, chẳng lo nghĩ đến, cớ gì mình phải uổng công nhọc nhằn nơi đây?”

     

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Thị chư pháp sư tự cầu cúng dường, cấp thị, tôn trọng, nhiếp thọ đồng trụ, cập ư cận trụ.

      (Này Di Lặc! Các pháp sư ấy do tự cầu [được] cúng dường, cung cấp, hầu hạ, tôn trọng [nên bèn] nhiếp thọ kẻ đồng trụ và kẻ cận trụ)

 

Câu này cần lại phải nói lướt qua. “Đồng trụ” là những người ở trong cùng một đạo tràng với mình, đa phần chỉ người xuất gia. “Cận trụ” là tín đồ thường vãng lai đạo tràng mình. Đồng trụ và cận trụ là hết thảy đại chúng và hết thảy tín đồ trong đạo tràng của các pháp sư ấy. Nói chung là pháp sư nghĩ cách lung lạc, nghĩ cách khống chế để mọi người phải nghe theo lệnh mình. Đấy chính là ý nghĩa của câu này.

 

      Chánh kinh:

      Bất vị ư pháp, cập lợi ích sự, nhi nhiếp thọ chi.

      (Chẳng vì pháp và sự lợi ích mà nhiếp thọ)

 

      Họ nhiếp thọ chúng sanh chẳng phải là để chân chánh dạy người học Phật pháp, dạy người giác ngộ, dạy người liễu sanh tử, xuất tam giới. Họ chẳng nói đến những sự ấy.

 

      Chánh kinh:

      Thị chư pháp sư, tự cầu ẩm thực, y phục, ngọa cụ, trá hiện dị tướng.

      (Các pháp sư ấy vì mong cầu thức ăn, quần áo, đồ nằm nên dối hiện tướng lạ).

     

      Chữ “trá” hàm nghĩa dối làm. Đối với câu này, trong nhà Phật cũng có một câu ngạn ngữ: “Hòa thượng bất tác quái, cư sĩ bất lai bái” (Thầy chùa chẳng bày vẽ, cư sĩ chẳng đến lễ). “Trá hiện dị tướng” tức là bày vẽ những trò lạ, để kêu gọi tín đồ ngày ngày đến lễ bái. Tình trạng này xảy ra rất nhiều! Hiện tại có rất nhiều người đặc biệt cường điệu chuyện thần thông cảm ứng. “Thần thông cảm ứng” chính là “dị tướng”. Những chuyện thần thông cảm ứng như vậy có khi cũng có, nhưng nhất định chẳng nên tuyên truyền.

Trong đạo tràng chúng ta đã từng thấy chuyện này: Lúc mọi người đến chụp ảnh, trong ảnh có quang minh, có dị tướng, chúng tôi đem hủy hết những ảnh ấy, vì đó là điều chẳng hay. Nếu mọi người tham chấp vào việc ấy rất dễ bị ma dựa đó nghe! Vì thế, nếu chẳng quan tâm đến: Họ là Phật cũng hay, là ma cũng chẳng đếm xỉa tới, thì đạo tràng ấy bình yên vô sự, có thể duy trì, bảo vệ chánh pháp.

 

      Chánh kinh:

      Nhập ư vương thành, quốc ấp, tụ lạc.

      (Họ vào trong vương thành, quốc ấp, tụ lạc).

 

      “Vương thành” gọi theo cách bây giờ là thủ đô, chỗ đặt văn phòng chánh phủ trung ương. “Quốc ấp” là đô thị lớn. “Tụ lạc” là thôn trấn, xóm làng, hương trấn.

 

      Chánh kinh:

      Nhi thực bất vị lợi ích, thành thục ư chư chúng sanh, nhi hành pháp thí. Sở dĩ giả hà?

      (nhưng thật sự chẳng vì nhằm lợi ích, thành thục cho chúng sanh mà hành pháp thí. Vì sao vậy?)

 

      Bọn họ hoằng pháp lợi sanh tại các địa phương ấy, nhưng thật ra chỉ vì mục đích tư lợi, toàn là vì danh văn, lợi dưỡng, chứ chẳng thật sự nhằm làm lợi, thành thục chúng sanh. “Lợi ích” khác với “thành thục” một chút. “Lợi ích” là dạy dỗ cho họ được tiếp xúc với chánh pháp, đem chánh pháp của đức Phật giới thiệu cho họ. “Thành thục” là giúp cho ngay trong một đời này được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thật sự thoát ly luân hồi; bởi lẽ chẳng vãng sanh thì chẳng thể ly khai lục đạo luân hồi. Quý vị được lợi ích, chưa kể là thành thục. Thành thục là lợi ích viên mãn. Kiểu hành pháp thí như thế, nói theo cách bây giờ là “hoằng pháp lợi sanh” là vì cái gì? Ở đây, Phật nêu câu hỏi để chúng ta tự phản tỉnh.

 

6.2. Mười lăm thứ tà pháp đức Phật chẳng hề nói đến

     

      Dưới đây, đức Phật nói đến mười lăm điều mà đức Phật chẳng bao giờ đề cập. Thật ra, trong đoạn kinh này, đức Phật chỉ nêu lên một số điều làm thí dụ, chứ chẳng phải chỉ có mười lăm điều mà thôi! Ngài hy vọng từ những điều này, chúng ta sẽ tự có thể lãnh hội, tự minh bạch đâu là chánh pháp? Đâu là tà pháp? Chúng ta hãy đọc kinh văn:

     

Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn:

      (Di Lặc! Ta chẳng hề nói:)

     

      “Ngã” là đức Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng. Đức Phật chẳng hề nói những điều như sau:

 

      Chánh kinh:

      Hữu hy cầu giả vi pháp thí thanh tịnh. Hà dĩ cố? Nhược tâm hữu hy cầu, tắc pháp vô bình đẳng.

      ([Tâm] có mong cầu là thực hành pháp thí thanh tịnh. Vì sao vậy? Nếu tâm có mong cầu thì pháp sẽ không bình đẳng).

 

       Đây là điều thứ nhất. Bởi lẽ Phật pháp rất dễ bị người khác mạo danh lợi dụng, bắt chước giả mạo. Yêu ma, quỷ quái rất thông minh, những danh từ hay ho trong Phật pháp chúng đều lấy sử dụng hết, những chúng sanh nào mê hoặc điên đảo đều bị xí gạt cả. Chiêu bài Phật pháp rất hay, nghe rất kêu đó mà! Chứ thật sự bên trong chẳng phải là như vậy. Vì thế, thanh tịnh thí pháp thì pháp thí sẽ thanh tịnh. Nếu như quý vị đối với chúng sanh mà có tâm mong cầu, thì pháp thí ấy chẳng phải là thật, chỉ là mạo nhận chiêu bài, là giả dối, đức Phật chẳng thuyết pháp như thế. Chư Phật, Bồ Tát đối với hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian, hết thảy người, hết thảy sự, tuyệt đối chẳng có mảy may ý niệm cầu mong gì. Phiền lắm nghe!

      Có lần tôi trở về đây, có những đồng tu thưa với tôi là muốn in kinh, rồi lại hỏi tôi in tác phẩm này có được chăng, in tác phẩm kia có được chăng? Tôi chẳng quan tâm đến những điều đó! Quý vị thích in thì cứ tự mình in. Những tác phẩm của tôi chẳng hề giữ bản quyền; quý vị thích làm sao thì cứ làm vậy, chỉ cần quý vị suy nghĩ xem mình làm như thế này là đúng hay chăng? Nếu việc ấy có lợi cho xã hội, cho chúng sanh thì cứ dốc sức mà làm, chẳng cần phải hỏi ý tôi. Tôi ngại phiền rộn lắm! Ta đều sợ phiền, nhưng chư Phật, Bồ Tát chẳng thấy phiền. Có phiền hay không các Ngài chẳng bận tâm đến những chuyện ấy! Bởi vậy, tâm địa thanh tịnh là điều trọng yếu phi thường. Điều thứ hai là:  

 

Chánh kinh:

Ngã bất thuyết ngôn: tham ô tâm giả năng thành chúng sanh.

(Ta chẳng nói rằng: tâm tham ô có thể thành thục chúng sanh)

 

[Tâm tham ô là] trong tâm có những phiền não như tham, sân, si, mạn đấy! Câu này ý nói chưa đoạn phiền não; nếu chính mình chưa đoạn phiền não thì quý vị thành thục người khác sao được? Làm sao giúp đỡ người khác được?

 

Chánh kinh:

Hà dĩ cố? Tự vị thành thục, năng thành thục tha, vô hữu thị xứ!

(Vì sao cố? Chính mình chưa thành thục mà lại thành thục được người khác, quyết không có lẽ đó).

 

      “Vô hữu thị xứ” nghĩa là chẳng có đạo lý ấy!

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: tôn trọng, cúng dường, an lạc kỳ thân, tham trước nhiếp thọ bất tịnh vật giả, vi lợi ích sự.

      (Này Di Lặc! Ta chẳng hề nói: tôn trọng, cúng dường, yên vui cái thân, tham đắm thâu góp các vật bất tịnh là làm chuyện lợi ích).

     

      Rất nhiều đồng tu xuất gia, tại gia nghĩ đến việc tu tập tích lũy công đức. Trong kinh Phật nói đến việc tích tập công đức, mọi người xem đến rất hoan hỷ, chúng ta phải tích cực thực hiện. Nên làm như thế nào? Nếu có những sự như sau, khởi lên những ý niệm như sau thì đều sai rồi:

- Quý vị có ý niệm tham muốn được tôn trọng, cúng dường hay chăng?

- Quý vị có tham muốn hưởng thọ chăng?

- Quý vị có ham muốn thâu góp những vật bất tịnh chăng? 

      Thế nào gọi là “vật bất tịnh?” Quý vị phải tự hiểu rõ, phải hiểu minh bạch điều này. Phạm vi bao quát của từ ngữ này rất rộng. Chúng tôi xin nêu một thí dụ: Ví như lúc bố thí cúng dường, nếu dùng thủ đoạn để buộc hết thảy đại chúng dù chẳng cam tâm tình nguyện cũng phải cúng dường, bức bách họ cúng dường, thì gọi là cúng dường chẳng thanh tịnh. Bức bách như thế nào? Nói trước với những người khá thân cận với kẻ ấy: “Quý vị phải cúng dường nhiều hơn một chút chớ!” Người kia thấy có ý bất hảo, nhưng gặp lúc chẳng thể không cúng dường, không cúng dường thì mất mặt, chứ trong lòng chẳng cam tâm, chẳng tình nguyện, nhưng chẳng thể không làm, đó gọi là “vật bất tịnh”.

      Tôi chỉ nêu một thí dụ đấy nhé! Những sự việc như vậy rất nhiều. Vì thế người học Phật học rất khổ sở, áp lực rất nặng đó nghe! Phật, Bồ Tát dạy chúng ta học Phật được đại tự tại, ngày ngày học được hoan hỷ, chúng ta thấy phần đông người học Phật mặt nhăn, mày nhíu, nguyên nhân bên trong rất là phức tạp! Tiếp theo đây, Phật giảng:

 

      Chánh kinh:

      Hà dĩ cố? Vị cầu tự thân an ổn, phong lạc, nhiếp thọ chúng hội, bất năng linh kỳ an trụ chánh tín.

      (Vì sao vậy? Nếu vì muốn cho thân mình được an ổn, dư dật yên vui mà nhiếp thọ chúng hội, sẽ chẳng thể khiến cho họ an trụ trong chánh tín).

 

      Chẳng thể khiến cho hết thảy chúng sanh an trụ trong chánh tín, tín nguyện của họ đều chẳng thật.    

      Trong đoạn kinh văn tiếp theo đây, đức Phật cũng nói đến điều Ngài sẽ chẳng đề cập. Dụng ý của Ngài là đề phòng trong thời kỳ mạt pháp, có hạng Bồ Tát ngu si. Nhưng thật sự ra, đoạn kinh văn sau đây hàm ý: Trong thời đại ấy, có con cháu của ma vương đi xuất gia, cũng mặc ca-sa để phá hoại chánh pháp, giả mượn danh Phật pháp ngõ hầu phá hoại Phật pháp. Trong số đó, có kẻ cố ý phá hoại, có kẻ vô ý. Vô ý phá hoại Phật pháp là sao? Bị ma khống chế, tự mình chẳng hiểu làm thế đó là phá hoại Phật pháp, cứ tưởng là đang tích tập công đức. Đây chính là điều chúng ta phải suy xét, phải giác ngộ. Chúng ta hãy xem đoạn thứ tư:

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: kiểu trá chi nhân trụ a-lan-nhã.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói là người giả dối, man trá trụ nơi tịch tĩnh)

 

Câu này nói theo cách bây giờ là “bế quan, ở nhà tranh”. “Bế quan, ở nhà tranh” nhằm mục đích gì? Dùng cách thức này để lừa dối tín đồ. Mọi người nếu gặp cá nhân nào đã từng bế quan như thế, ắt nhất định chẳng lầm. Bởi lẽ, mục đích của kẻ ấy là chiêu tập danh văn, lợi dưỡng, chẳng thật sự tu hành, cũng chẳng vì hoằng pháp lợi sanh, là kẻ giả dối, man trá! Đích xác là có chuyện như thế. Nếu quý vị chú ý quan sát, sẽ nhận thấy chẳng khó khăn gì!

Dù phát giác cũng chẳng cần phải nói ra, chỉ cốt mình chẳng bị lừa là được. Người khác mắc lừa là do nhân duyên. Trong phần trên, đức Thế Tôn đã dạy chúng ta phải tu hành trong thời đại này như thế nào mới chẳng sanh phiền não, mới được an ổn giải thoát. Phật dạy chúng ta bốn phương pháp, lại nói thêm bốn phương pháp nữa, tổng cộng là tám phương pháp, các vị còn nhớ chăng? Phải nhớ cho chắc nghe! Nếu chưa nhớ thì quý vị phải nghe kỹ, nghe qua phải nghĩ cho kỹ, vô cùng trọng yếu phi thường!

Điều thứ nhất Phật dạy chúng ta là “chẳng tìm lỗi người khác”. Người khác có lỗi, trong tâm mình biết rõ, nhưng ta chẳng lấy đó làm phiền, tiếp xúc một lần rồi thôi. “Chẳng nêu tội người”: họ có phạm giới, tạo tác tội nghiệp, ta cũng chẳng chỉ trích. Mỗi người tự có nhân quả, tự có báo ứng mà! Cớ chi chúng ta phải xen vào? Trong tám điều, hai điều đầu tiên vừa nói trên trọng yếu cực kỳ phi thường, chúng ta phải hiểu rõ.

     

      Chánh kinh:

Bạc phước đức giả, nhi vi thiểu dục.

(Kẻ kém phước đức làm ra vẻ thiểu dục).

 

Kẻ đó làm ra vẻ thiểu dục, làm ra vẻ tri túc, là vì sao? Là vì kẻ ấy chẳng có phước đức. Không có phước đức sao lại nói là thiểu dục được? Lúc không có phước đức bèn làm ra vẻ thiểu dục. Thiểu dục là một hạnh pháp rất cao siêu trong Phật pháp đã bị kẻ đó giả mạo.

 

Chánh kinh:

Tham thắng vị giả, danh dị mãn túc.

(Kẻ tham mùi vị thù thắng, xưng là “dễ thỏa mãn”).

 

“Thắng” là thù thắng. “Vị” là ngũ dục, lục trần. Tham muốn hưởng thọ ngũ dục, lục trần, bèn khoác lên cái tên đẹp đẽ là “dị mãn túc”. “Dị mãn túc” nghĩa là tri túc. 

 

Chánh kinh:

Đa cầu mỹ thiện, dĩ vi khất thực.

(Vì thích được đồ ăn ngon mà đi khất thực).

 

Trong thời đức Phật tại thế, phương thức sanh hoạt của người xuất gia là “thác bát” (ôm bát đi khất thực). Những kẻ khất thực [được nhắc đến trong đoạn kinh này] đi đến nơi nào? Họ chuyên môn đến khất thực nhà phú quý vì tham luyến đồ ăn ngon; chẳng đến khất thực nhà bần cùng là vì sao? Đồ cúng của kẻ nghèo không ngon! Cơm, thức ăn chẳng ngon lành chi! Đó gọi là “khất thực”. Từ ý này các vị suy ra thì thấy: cứ hễ tham muốn hưởng thọ danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục sẽ chẳng thành người xuất gia.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: khất cầu chủng chủng thượng diệu y phục, vị như thị đẳng trì phấn tảo y.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: Xin tìm các thứ y phục tốt đẹp cũng giống như mặc y phấn tảo).

 

Đức Thế Tôn dạy các đệ tử dùng “phấn tảo y” là với dụng ý phải thời thời khắc khắc thường tự cảnh tỉnh: Thế gian này khổ lắm! Luân hồi càng đáng sợ hơn! Vì thế phải sanh sống đơn giản, mặc áo rất thô. Thời cổ khoa học, kỹ thuật chưa phát triển, một bộ quần áo rất khó có được, chẳng phải rất dễ có như thời hiện tại. Y phục của người xuất gia toàn là nhặt lại từ quần áo cũ của người tại gia đã vứt bỏ đi, chẳng ai muốn nữa. Nhặt lấy những thứ đó, xem phần nào còn có thể dùng được thì cắt ra, sau đó chằm từng miếng một lại thành bức. Đó chính là “ca-sa”.

Ca-sa là do may chằm lại như thế, toàn là do quần áo cũ chằm lại, màu sắc, chất liệu không đồng nhất, đức Phật dạy nhuộm thành màu tro hay màu cà phê, gọi là “phấn tảo y”. Y phục này người thế gian chẳng mặc được, mặc y phục này sẽ thời thời khắc khắc cảnh tỉnh chính mình, tuyệt chẳng tham muốn hưởng thọ. Ngày nay chúng ta nghĩ đến lời giáo huấn của đức Thích Ca Mâu Ni, khi chúng ta may y ca-sa, đem cả nguyên cuốn vải, cắt vụn ra, rồi may chằm lại, nhưng đấy chẳng phải là ý Phật. Vì thế, phải thường nghĩ đến cuộc sống của Tăng đoàn khi đức Thế Tôn còn tại thế, đức Thế Tôn khổ tâm răn dạy, không gì là chẳng nhằm khiến chúng ta bất cứ nơi đâu, bất cứ thời khắc nào tâm luôn cảnh tỉnh, trọn chẳng bị mê hoặc bởi ngũ dục, lục trần thế gian. Thế nên đức Phật tuyệt đối chẳng nói là xin tìm các thứ y phục quý tốt để mặc trên thân mà vẫn giống hệt như mặc y phấn tảo.

Hiện tại, người xuất gia cũng nghiên cứu cách ăn mặc tương đương [với thế gian], chất liệu toàn tuyển loại thượng hạng. Phương thức sanh hoạt như vậy rất dễ tăng trưởng tâm tham, khiến cho quý vị lưu luyến thế gian này, lìa bỏ chẳng nổi. Nếu là kẻ niệm Phật cầu vãng sanh, đến lúc A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, quý vị lại nhớ mình còn có nhiều thứ tốt đẹp quá, bỏ đi chẳng đành thì phiền quá, những thứ đó đâu có mang theo được! Bởi vậy lúc bình thường phải buông bỏ. Điều thứ sáu là:

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: tại gia, xuất gia, vô thức tri giả, vi ly hội náo.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: kẻ tại gia, xuất gia không ai biết đến bèn là xa lìa chốn ồn náo)

 

      Bồ Tát tại gia hay xuất gia, nếu mức độ tên mình được biết đến chưa nhiều, không ai biết đến mình, quý vị bèn làm ra vẻ mình là người xa lìa chốn ồn náo. Quý vị xem, cái tiếng tốt ấy hay bị người ta mạo nhận lắm.

     

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: siểm khúc chi nhân, trị Phật hưng thế.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng người dua dối sẽ gặp Phật xuất hiện trong đời).

 

Tâm chẳng chánh trực, chẳng thành thật, người như vậy sẽ gặp hay chẳng gặp được Phật xuất thế? Dù đức Phật xuất thế, kẻ ấy cũng chẳng gặp. Vì sao chẳng gặp? Kẻ ấy có chướng ngại: Siểm khúc là chướng ngại. Người như thế nào mới gặp được Phật? Chân thành! “Trong cửa nhà Phật chẳng bỏ một ai”. Tâm địa quý vị chân thành sẽ cảm ứng đạo giao chư Phật, Bồ Tát, nên có thể gặp được các Ngài, người tâm dua dối chẳng thể gặp được. Chẳng phải là Phật không từ bi, chỉ là do thân người ấy có chướng ngại.

Trong xã hội hiện tại hay có chuyện này: “Ở Trung Quốc hay ở ngoại quốc, ta thường nghe nói ông nọ là Bồ Tát chi đó tái lai, là Phật nào đó tái lai; một số người thân cận kẻ đó thấy mình rạng rỡ, sáng suốt phi thường! Kẻ đó thấy Phật, thấy được Phật sống”. Nếu quý vị chú tâm quan sát kỹ sẽ thấy kẻ đó là “siểm khúc”, làm sao thấy Phật sống cho được? Thấy Bồ Tát cho được? Nếu là Phật tái lai, Bồ Tát tái lai, sao nói xong không thị tịch? Trong lịch sử Trung Quốc đã từng có chuyện như vậy: Các vị hé lộ thân phận xong bèn tịch diệt, đó mới là thật. Nói ra thân phận vẫn sống nhăn, thì thật là kỳ quái! Bởi vậy, nếu quý vị hiểu rõ sự lý này rồi sẽ chẳng bị mắc lừa nữa!

 

Chánh kinh:

Cầu tha đoản giả, vi như lý tu hành

(Tìm chỗ dở của người khác là tu hành đúng lý).

 

Phải nhớ kỹ điều này. Vì sao ở phần trước đức Phật dạy chúng ta điều thứ nhất là “đừng tìm lỗi người”. Tìm lỗi người chính là chuyên môn tìm chỗ dở của người khác, người như vậy tự cho mình là tu hành đúng lý, chứ thật ra là trật rồi! Phật chẳng hề thuyết pháp như vậy!

 

Chánh kinh:

Đa tổn hại giả, danh giới uẩn thanh tịnh.

(Người gây tổn hại nhiều được gọi là giới uẩn thanh tịnh)

 

Đây là nói về trì giới thanh tịnh. Người trì giới thanh tịnh làm sao có chuyện tổn hại người khác được? Phàm là ai ôm lòng tổn hại chúng sanh khác thì giới của người ấy đã bị phá, sao có thể nói là “giới uẩn thanh tịnh” được nữa?

 

Chánh kinh:

Tăng thượng mạn tâm, vi đa văn đệ nhất.

(Tâm tăng thượng mạn là đa văn bậc nhất).

 

Thế nào là “tăng thượng mạn?” Nói theo ngôn ngữ bây giờ là “đáng nên kiêu ngạo”. Kẻ ấy học rộng nghe nhiều, so ra người khác chẳng hơn được, bèn sanh khởi tâm ngạo mạn, tức là thấy mình đáng nên kiêu ngạo! Chắc chắn Phật, Bồ Tát chẳng hề thuyết pháp như thế. Chẳng riêng gì thánh nhân xuất thế (Phật, Bồ Tát), thánh nhân thế gian cũng nói: “Học vấn càng sâu càng khiêm hư, càng cung kính”, há có người học vấn sâu nào mà ngạo mạn? Chẳng hề có đạo lý ấy!

 

Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Háo bằng đảng giả, danh trụ luật nghi.

(Này Di Lặc! Ta chẳng hề nói kẻ thích kết bè lũ đáng gọi là người giữ luật nghi)

 

“Bằng đảng” nói theo cách bây giờ là “bè phái”. Trong Tăng đoàn mà lập ra những tổ chức nhỏ thì gọi là phá hoại luật nghi, tuyệt đối chẳng phải là “trụ luật nghi”.

 

Chánh kinh:

Tâm cống cao giả, danh tôn kính pháp sư.

(Kẻ tâm ngạo nghễ gọi là tôn kính pháp sư).

 

Mặt ngoài lễ tiết rất chu đáo, trong tâm ngạo nghễ, ngã mạn thì chẳng phải là chân chánh tôn kính pháp sư.

 

Chánh kinh:

      Ỷ ngữ khinh lộng, vi thiện thuyết pháp.

      (Nói thêu dệt, bỡn cợt là khéo thuyết pháp)

     

      Căn bệnh này quý vị phải chú tâm quan sát, quý vị đều thấy ngay. “Ỷ ngữ” là hoa ngôn xảo ngữ. “Khinh lộng” là thường dùng những môi miếng giỡn hớt đùa bỡn để giảng kinh thuyết pháp, khiến đại chúng cười vỡ cả nhà! Ôi! Kẻ ấy nói rất giỏi, nhưng Phật chẳng bảo kẻ ấy chẳng phải là người giỏi thuyết pháp đâu!

 

      Chánh kinh:

      Dữ tục giao tạp, năng ư tăng chúng, ly chư quá thất.

      (Giao du hỗn tạp với người đời mà có thể lìa các lầm lỗi đối với tăng chúng)

 

      Điều này đức Phật cũng chẳng hứa khả. Ưa thích qua lại cùng kẻ tục gia, ưa thích kết giao với tục nhân, mà chẳng hề có lầm lỗi trong tăng đoàn là điều rất khó. Vì sao vậy? Nhiễm trước tập khí thế tục, trở ngại tăng chúng tu hành thì sao có thể nói là “lìa các lầm lỗi” được?

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Giản thắng phước điền, vi thí bất vọng báo!

      (Này Di Lặc! Ta chẳng nói là: Ngạo mạn đối với phước điền thù thắng là bố thí mà chẳng mong được báo)

 

      “Bố thí chẳng mong được báo” là điều đức Phật thường dạy chúng ta, giống như ở phần trước nói là dùng tâm không mong cầu để hành pháp bố thí. “Tâm không mong cầu” chính là “bố thí chẳng mong được báo”. Nếu có kẻ “ngạo mạn đối với phước điền thù thắng” mà cho là mình làm như vậy chính là bố thí chẳng mong cầu quả báo thì là lầm lẫn rồi, đã hiểu lầm ý nghĩa của danh từ, thuật ngữ Phật đã giảng mất rồi.

      Thế nào là “giản thắng phước điền?” Thắng là tốt đẹp thù thắng. Giản” là giản mạn (đối đãi với người khác một cách qua loa, nhạt nhẽo), sơ mạn (coi thường, khinh dễ), khinh mạn. Kẻ ấy bố thí tu phước với thái độ ngạo nghễ, ngã mạn. Chẳng hạn như kẻ ấy có rất nhiều tiền, tùy tiện xả thí một ít cho chùa miếu, tâm khinh rẻ, chẳng có lấy một chút lòng tôn trọng, cung kính chi, cứ tưởng như thế là bố thí chẳng mong được báo. Hiểu ý nghĩa “bố thí chẳng mong được báo” như vậy là lầm mất rồi!

 

      Chánh kinh:

      Cầu ân báo giả, vi thiện nhiếp chư sự.

      (Mong được đền ơn là khéo nhiếp các sự)

 

      “Nhiếp” nói theo cách bây giờ là “quản chế” (trông coi); giống như trong đạo tràng chúng ta ngày nay gọi là làm nghĩa công (volunteer). Đấy là “thiện nhiếp chư sự”. Lúc bọn họ đến làm nghĩa công thì mục đích là gì? Cầu được báo ân, cầu quả báo, đó chính là “chẳng khéo nhiếp các sự”. Nghĩa công, tốt lắm! Nhưng phải “tâm không mong cầu” mới là “khéo nhiếp các sự”. Có tâm mong mỏi là chẳng trúng. Vì thế, chúng ta phải hiểu rõ ràng, minh bạch ý nghĩa này.

 

      Chánh kinh:

      Cầu cung kính, lợi dưỡng, vi chí nhạo thanh tịnh.

      (Cầu cung kính, lợi dưỡng là chí ưa thanh tịnh).

     

      Người tâm chí thích thanh tịnh quyết định chẳng có ý niệm cầu cung kính, lợi dưỡng. Có ý niệm ấy mà tự cho là mình rất thanh tịnh thì lầm to rồi.

 

      Chánh kinh:

      Đa vọng kế giả, dĩ vi xuất gia.

      (Lắm tính toán xằng bậy mà cho là mình xuất gia)

     

      “Vọng” là hư vọng, “kế” là tính toán. Đấy là điều người xuất gia chẳng nên làm. Phạm vi của “vọng kế” rất rộng lớn.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Phân biệt bỉ ngã, danh nhạo trì giới.

      (Này Di Lặc! Ta chẳng nói kẻ phân biệt ta - người gọi là thích trì giới)

 

      Người trì giới quyết định chẳng phân biệt ta - người. Nếu như có ý niệm phân biệt ta - người thì người như vậy trì giới chẳng đắc định, nên chẳng phải là người trì giới chân chánh. Quý vị phải hiểu là đối với Giới Học, do Giới mà đắc Định, nhân Định khai Huệ. Người chân chánh trì giới giống như Lục Tổ nói: “Nếu người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. Quý vị vẫn còn có chấp trước, phân biệt đây - kia, ta - người thì là lầm rồi!

 

      Chánh kinh:

      Bất tôn kính giả, danh vi thính pháp.

      (Chẳng tôn kính mà gọi là nghe pháp)

     

      Nơi giảng kinh thuyết pháp, người đến nghe pháp rất nhiều. Có hạng người tuy cũng đến nghe, nhưng Phật nói hạng người ấy chẳng nghe pháp. Vì sao vậy? Họ chẳng hiểu được ý nghĩa của Phật pháp. Họ đến đấy làm gì? Họ muốn nhờ nơi đó để biết coi rốt cuộc Phật giáo giảng dạy những gì, thậm chí đến để gây rắc rối nữa đấy. Rất nhiều đạo tràng gặp tình cảnh này. Vì thế giảng kinh thuyết pháp chẳng phải là chuyện dễ, đặc biệt là ở đạo tràng [có kẻ] sanh lòng khinh dễ.

Năm 1977, tôi đến Hương Cảng giảng kinh lần thứ nhất, ngay chiều hôm đó, pháp sư Sướng Hoài bảo tôi: “Pháp sư! Ở đây Ngài phải chú ý cẩn thận, địa phương này có những kẻ chuyên gây rắc rối cho pháp sư. Họ nghe xong, liền nêu ngay câu hỏi tại chỗ để bắt bí pháp sư đó nghe!” Sư nói: “Ngài phải chú ý. Rất nhiều pháp sư đều bị cứng họng tại Hương Cảng đấy!” Đó là hạng chuyên gây rối, là “kẻ chẳng tôn kính”. Họ chẳng đến để nghe pháp mà chỉ đến để gây rối thôi.

     

      Chánh kinh:

      Nhạo trước thế điển, chú trớ, ngôn luận, dĩ vi thọ pháp.

      (Ưa đắm sách vở thế tục, bùa chú, lý luận, cho đó là thọ pháp)

 

      “Thọ pháp” là truyền pháp. Ưa thích sách vở thế gian, những sách ấy không phải là kinh điển Phật. Ưa thích chú ngữ, các ngôn luận như thế, cho là mình “thọ pháp”, tiếp thọ đại pháp của Như Lai. Đấy cũng là lầm lạc, chẳng phải là điều đức Phật nói.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Ư chư không tánh, vô thắng giải giả, năng xuất ly sanh tử.

      (Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: Đối với các tánh Không, không có thắng giải mà có thể thoát lìa sanh tử)

 

      Nhờ vào đâu để liễu sanh tử, xuất tam giới? Ở đây, Phật nói rất hay, thật là đơn giản dễ hiểu. Đối với đạo lý Nhân Không Tánh, Ngã Không Tánh, sự tướng chân thật ấy, nếu quý vị chẳng thể lý giải sâu xa sẽ chẳng có biện pháp nào để liễu sanh tử, thoát tam giới. Vì thế, chúng ta tu học pháp môn, nhất định phải biết căn cứ vào lý luận nào. Nếu quý vị chẳng hiểu rõ lý luận ấy thì ai nói đến pháp môn nào có thể liễu thoát sanh tử, pháp môn nào có thể thành Phật ngay trong thân này, quý vị nghe xong liền tin ngay. Đấy gọi là “mê tín”. Đó là giả, chẳng phải chân.

Lý luận căn bản của xuất ly sanh tử là như thế này: đối với các tánh Không, nhất định phải sanh thắng giải (giải ngộ thù thắng). Đây cũng là điều chúng tôi đã nói ở phần trước: Quý vị phải thật sự “khán phá” (thấy thấu suốt bản chất các pháp), phải thật sự buông xuống, hành như vậy quý vị mới có thể xuất ly sanh tử. Nếu quý vị có thể buông xuống được, triệt để buông xuống được bèn sẽ có thể siêu thoát lục đạo luân hồi. Khán phá được cả thế pháp lẫn Phật pháp thì quý vị sẽ có thể vượt thoát mười pháp giới. Khán phá, buông xuống như vậy chính là sanh thắng giải rất sâu đối với các tánh Không.

 

      Chánh kinh:

      Đa chấp trước giả, vi ly chư hạnh.

      (Có nhiều chấp trước mà cho là lìa các hạnh)

     

      “Ly chư hạnh” là buông xuống. Người nhiều chấp trước làm sao buông xuống được?

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: ư Bồ Đề phần, trụ hữu sở đắc, danh vi chứng trí.

      (Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: với Bồ Đề phần còn trụ vào sở đắc mà gọi là chứng trí)

 

      Câu này nói đến “chứng quả” (tu hành chứng quả). Nếu quý vị chú tâm quan sát thì thấy kẻ ấy đối với Bồ Đề phần vẫn thấy có sở đắc. Chúng ta đọc kinh Kim Cang sẽ hiểu là người ấy chẳng hề chứng quả! Chẳng những không chứng được quả Đại Thừa, ngay cả Sơ Quả Tu Đà Hoàn của Tiểu Thừa cũng chẳng chứng. Người chứng đắc quả Tu Đà Hoàn chẳng thấy mình chứng đắc quả Tu Đà Hoàn, thì mới là chứng đắc thật sự. Nghĩ mình chứng đắc bèn là giả, chẳng phải chân đâu! Vì sao vậy? Cho là mình chứng đắc tức là có trụ. Trong tâm còn vướng vào địa vị tức là nổi vọng tưởng đấy! Phật bảo chúng ta “không nên trụ vào đâu mà sanh tâm”! Thế nào là “năng trụ”? Trụ có nghĩa là trong tâm thấy có. Trong tâm có một quả vị nào thì chưa phải là chứng quả. Kinh Kim Cang có dạy chúng ta một câu rất trọng yếu: “Hết thảy thánh hiền đều do vô vi pháp mà có sai biệt”. Từ Tiểu Quả Tu Đà Hoàn cho đến quả vị Như Lai viên mãn, chúng ta hay nói đại khái là Tiểu Thừa có Tứ Quả, Tứ Hướng là tám giai đoạn, Đại Thừa từ Sơ Tín Vị cho đến Đẳng Giác Vị gồm năm mươi mốt địa vị.

Những đẳng cấp này căn cứ vào đâu mà luận? Là từ pháp Vô Vi mà nói. Pháp Vô Vi là không có chấp trước. Đối với pháp Vô Vi công phu có sâu cạn chẳng đồng nên đức Phật mới nói ra nhiều địa vị như vậy. Trong mỗi một quả vị đều chẳng có chấp trước. Hễ ai có chấp trước bèn là phàm phu, chẳng phải là thánh nhân. Sơ Tín vị Bồ Tát bèn chẳng có chấp trước, kinh Kim Cang giảng về tiêu chuẩn không chấp trước ấy rất khéo: không tướng Ta, không tướng Người, không có tướng Chúng Sanh, không có tướng Thọ Giả. Nếu quý vị làm được như vậy thì quý vị là Nhập Lưu - nhập vào dòng thánh.

Do công phu phá tứ tướng, tứ kiến sâu hay cạn mà quả vị Bồ Tát cao hay thấp bất đồng. “Đều do vô vi pháp mà có sai biệt” đều là không trụ vào đâu mà sanh tâm đấy thôi! Có trụ thì sao? Tâm có trụ là hỏng rồi! Trụ tức là như tất cả chúng ta, trong tâm quý vị thật sự là có. Việc này rất phiền toái đấy nhé! Tâm là không, trong tâm không có vật chi, có pháp thế gian là sai, mà có Phật pháp cũng sai luôn! Phật pháp cũng chẳng để trong tâm thì mới là chân chánh chứng trí.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: Vô thế lực giả, nhẫn nhục thành tựu.

      (Này Di Lặc! Ta không nói rằng: không thế lực là thành tựu nhẫn nhục)

 

      Người ta khinh khi quý vị mà quý vị không có sức phản kháng thì có phải là thành tựu nhẫn nhục hay chăng? Chẳng phải là nhẫn nhục! Có năng lực phản kháng mà chẳng phản kháng, có năng lực để trả đũa mà chẳng trả đũa thì mới gọi là nhẫn nhục chứ! Không có năng lực, sao nói là thành tựu nhẫn nhục cho được?

 

      Chánh kinh:

      Vô nhiễu xúc giả, bị nhẫn nhục giáp.

      (Không bị quyến rũ [mà gọi là] mặc giáp nhẫn nhục)

 

      “Nhiễu xúc” nói theo bây giờ là bị quyến rũ, mê hoặc. Người nào chống lại được sự mê hoặc, Phật mới dùng thí dụ sau: mặc áo giáp nhẫn nhục, nghĩa là người ấy chống cự lại được mê hoặc, quyến rũ. Đối với hết thảy mê hoặc, quyến rũ, người ấy như như bất động thì mới gọi là “mặc giáp nhẫn nhục”. Nếu chẳng bị quyến rũ mà bảo là “mặc giáp nhẫn nhục” thì chẳng có đạo lý ấy!

 

      Chánh kinh:

Thiểu phiền não giả, danh luật nghi thanh tịnh.

(Người ít phiền não gọi là luật nghi thanh tịnh)

 

Phiền não ít nhẹ ư? Thế mà gọi là luật nghi thanh tịnh thì đều là giả, chẳng phải chân vậy.

 

Chánh kinh:

Tà phương tiện giả, vi như thuyết tu hành.

(Tà phương tiện mà coi là tu hành đúng như lời dạy)

 

Ý nghĩa câu này cũng rộng lớn phi thường. Với mười lăm điều trong đoạn này, nếu nói tỉ mỉ thì giảng mỗi điều cả buổi chiều cũng không xong. Trong thời đại này, thực tại mà nói, cũng chẳng thể giảng chi tiết được. Giảng tỉ mỉ rất phiền phức; bởi vậy tôi mới nói là đối với bộ kinh này “chỉ điểm tới rồi thôi”. Quý vị cứ đọc tụng kỹ, cứ suy nghĩ kỹ càng, rồi lại tỉ mỉ quan sát tâm hạnh của chính mình, quan sát khắp các hoàn cảnh, quý vị sẽ hiểu được phải tu hành như thế nào mới là “như lý, như pháp”, chẳng đi vào tà đạo! Trong bộ kinh này, đức Phật đã giảng cho chúng ta vô cùng tường tận vậy!

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: ái ngôn thuyết giả, vi nhất tâm trụ.

(Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: thích nói năng là trụ vào nhất tâm)

 

Đặc biệt là đối với người niệm Phật chúng ta, mục đích của người niệm Phật là “nhất tâm bất loạn”. Người ham nói làm sao đạt nhất tâm cho được? Đấy là điều chẳng thể có.

 

Chánh kinh:

Háo doanh thế vụ, ư pháp vô tổn.

(Thích lo việc đời mà đối với pháp chẳng hề tổn hoại)

 

Điều này Phật chẳng nói. “Doanh” là kinh doanh, “vụ” là sự vụ. Ưa thích kinh doanh sự vụ thế gian mà nói là chẳng hề trở ngại gì đến tu hành lẫn đạo nghiệp, đức Phật chẳng dạy như thế. Nói cách khác là quyết định có trở ngại đấy! Chẳng cần nói là phải lo liệu việc đời, chỉ phải quản lý nhân sự đã có chướng ngại rồi. Đại sư Trí Giả nói như thế đấy!

Trước lúc Trí Giả đại sư vãng sanh, có môn đệ hỏi Ngài: “Lão nhân gia vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới phẩm vị ra sao?” Ngài đáp: “Ta do làm trụ trì chùa miếu, phải trông nom mọi sự, nên đối với việc tu hành của chính mình có trở ngại. Bởi thế, phẩm vị vãng sanh chẳng cao, chỉ đạt địa vị Ngũ Phẩm”. Địa vị Ngũ Phẩm là Phàm Thánh Đồng Cư độ, là đới nghiệp vãng sanh. “Nếu như chẳng lãnh chúng, chẳng làm trụ trì, chẳng trông coi nhân sự, thì phẩm vị sẽ cao”. Do đấy biết là việc quản trị đại chúng trong chùa miếu đối với phẩm vị và việc tu hành của chính mình đều có chướng ngại; huống chi là lo liệu việc đời!

Thế nào là việc đời? Những gì chẳng thể liễu sanh tử, thoát tam giới đều gọi là “việc đời” (thế vụ). Chữ “thế” chỉ lục đạo luân hồi, còn thuộc trong tam giới. Ưa thích làm những việc như thế là sai lầm. Nói dễ nghe hơn là làm những việc cốt để tu phước. Phước thì tu được, nhưng với việc liễu sanh tử, xuất tam giới, với Giới, với Định, Huệ, quyết định có chướng ngại.

 

Chánh kinh:

Chí nhạo thanh tịnh, đọa chư ác thú.

(Người tâm chí ưa thích thanh tịnh mà đọa trong các đường ác)

 

Vì sao đức Phật lại nói lời này? Thật sự mà nói, xem trong thời đại này, chúng ta thấy câu này nghiệm ra rất có lý. Có những người bảo kẻ chắc thật niệm Phật: “Các ngươi chỉ là kẻ lo giải thoát cho riêng mình, tâm lượng hẹp hòi quá đi! Các ngươi đang tu hạnh Tiểu thừa, là pháp bị chư Phật, Bồ Tát quở trách đó!” Chúng ta nghe nói thế bèn chẳng dám tu nữa, bèn tu theo cách của họ. Tu theo cách của họ là sao? “Ưa lo việc đời”, “ham thích nói nhiều”, bắt chước họ làm những chuyện đó. Phật nói ra một câu, chúng ta thấy rõ ngay. “Người chí ưa thích thanh tịnh, quyết định chẳng đọa địa ngục”, làm sao có đạo lý đọa địa ngục cho được?

 

Chánh kinh:

Tu tập trí huệ, vi hội náo hạnh.

(Tu tập trí huệ là hạnh ồn náo)

 

Trí huệ do đâu có? Trí huệ từ thiền định mà ra. Nói cách khác, trí huệ xuất phát từ tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh khởi ra tác dụng là trí huệ chân thật. Người tu tâm thanh tịnh sao có thể ồn náo, rối ren được? “Hội náo” nói theo cách bây giờ là nhiệt náo, rối ren. Cuối cùng là điều thứ mười lăm:

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Ngã bất thuyết ngôn: phương tiện tương ưng, danh vi siểm khúc.

      (Này Di Lặc! Ta chẳng nói rằng: phương tiện tương ứng mà gọi là siểm khúc)

     

      “Phương tiện tương ưng” là điều Đại Thừa Bồ Tát thường dùng, chính là “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”. Nhìn biểu hiện bên ngoài có phần tương tự như “siểm khúc”, nhưng bên trong hoàn toàn bất đồng. Bồ Tát thật sự một dạ từ bi, dùng phương tiện khéo léo để tiếp dẫn chúng sanh.

 

Chánh kinh:

Bất cầu lợi dưỡng, nhi vi vọng ngữ.

(Chẳng cầu lợi dưỡng mà bảo là vọng ngữ).

 

Điều này Phật tuyệt đối chẳng nói. Chẳng phải là Phật thì kẻ nào nói đây? Ma nói đấy! Ma đồn nhảm đặt chuyện nhằm phá hoại chánh pháp đó mà!

 

Chánh kinh:

Vô chấp trước giả, phỉ báng chánh pháp, hộ chánh pháp giả, nhi tích thân mạng.

(Không chấp trước là phỉ báng chánh pháp, hộ trì chánh pháp mà còn tiếc thân mạng)

 

Đấy đều chẳng phải là điều Phật nói.

 

Chánh kinh:

Sở hành hạ liệt, vi vô thắng mạn.

      (Việc làm hèn kém mà chẳng phải là thắng mạn).

             

      Câu này phải giải thích sơ lược một chút. Trong câu “sở hành hạ liệt”, chữ “hạ” chỉ lục đạo, trong mười pháp giới lục đạo là “hạ”. Đã “hạ” còn “liệt”. Liệt là chỉ ba ác đạo. Nói cách khác, câu này ý nói: hành vi, tư tưởng người ấy thể hiện tham, sân, si, mạn mà làm ra vẻ mình chẳng ngạo mạn. Thứ ngạo mạn ấy vì sao gọi là “thắng mạn”? Trong kinh, đức Phật xếp ngã mạn thành ba loại lớn.

Loại thứ nhất là “thắng mạn”, thắng mạn nghĩa là so với người khác mình luôn ngon lành hơn! Người khác không ai bằng được mình. Luôn nghĩ mình trội hơn người khác. “Vô thắng mạn” là chẳng có dư nghiệp ngạo mạn ấy.

Ngoài ra, còn một loại khác là “Đẳng Mạn”. Đẳng Mạn là dù tôi chẳng vượt trội anh, tôi cũng chẳng kém anh mấy tí; so với tôi, anh cũng chẳng cao hơn mấy tí. Loại mạn này gọi là Đẳng Mạn.

Loại thứ ba là Ty Mạn, Ty Mạn là tự mình cảm giác không bằng người khác, không bằng người khác cũng đành chịu, đó gọi là Ty Mạn. Tất cả các Mạn quy về ba loại lớn này. Ở đây kinh chỉ nói đến Thắng Mạn, nhưng thực tế gồm cả ba loại Mạn.

Đức Thế Tôn nêu lên nhiều thí dụ, nhưng thật sự mà nói, những sự tướng ấy nói hoài chẳng hết được, từ khá nhiều thí dụ ấy, chúng ta phải hiểu rõ đâu là chân - vọng, tà - chánh, thị - phi. Nếu từ những thí dụ được nêu lên đó, chúng ta đọc xong, nghe xong vẫn chẳng thể phân biệt tà chánh, thị phi thì chúng ta khá ngu si đó. Ngu si thì phải làm sao? Đọc nhiều lần, nghe nhiều lần. Chỉ cần đọc nhiều lần, nghe nhiều lần dần dần cũng sẽ thông minh thôi à!

 

Chánh kinh:

Như thị Di Lặc! Ư mạt hậu thế, ngũ bách tuế trung, đương hữu Bồ Tát độn căn, tiểu trí, siểm khúc, hư cuống, trụ ư tặc hạnh, nhữ ưng hộ chi.

(Như thế đó, Di Lặc! Vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, sẽ có Bồ Tát độn căn trí nhỏ, dua vạy, hư dối, giữ lấy hạnh giặc, ông nên gìn giữ)

 

      Nói thật ra, những điều này đều là nói về chúng ta cả. Chúng ta chẳng phải là lợi căn, chẳng thông minh, nghe rồi cũng chẳng hiểu, nghe xong cũng chẳng nhớ gì! “Tiểu trí” là không có chân trí huệ, kém thông minh đấy! “Siểm khúc, hư cuống”: hư cuống là tự mình lừa dối chính mình, dối mình khinh người. Xử thế, đối đãi với người, tiếp vật, dụng tâm chẳng chánh trực, cong queo, vạy vò, đích xác chúng ta là hạng Bồ Tát như thế đó! “Trụ ư tặc hạnh” là đức Thế Tôn nói cho chúng ta biết: hiện tại chúng ta đang tu hạnh gì? Tặc hạnh đấy!

      Tặc hạnh nghĩa là gì? Công đức pháp tài của chính mình đều bị hao tổn cả! “Tặc hạnh” là phiền não hạnh. Phiền não gây chướng ngại cho trí huệ, công đức, pháp tài của chúng ta nên phiền não được ví với giặc. Trí huệ Bát Nhã, công đức pháp tài nơi bổn tánh chúng ta bị phiền não trộm mất, chúng ta chẳng thọ dụng được. Vì thế, tặc hạnh là phiền não hạnh, khởi tâm động niệm, hết thảy những gì tu trì đều thuộc trong phiền não. Tuy vậy, Phật, Bồ Tát vẫn đại từ đại bi, chẳng hề vứt bỏ chúng ta. Quý vị xem “các ông nên gìn giữ”, nghĩa là đức Thế Tôn phó chúc Di Lặc Bồ Tát: “Ông phải hộ trì những người như thế đó!” Vì sao?

      Dù chúng ta lắm bệnh, lòng chúng ta đối với Phật vẫn có mấy phần cung kính, vẫn muốn học theo, vẫn có một hai phần cung kính, vẫn có ý niệm học theo, đáng quý phi thường! Quý vị coi trong thế gian này, nhan nhãn chúng sanh, có mấy kẻ muốn học Phật? Chúng tôi giảng kinh ở nơi này, tầng trên, tầng dưới tòa lầu lớn này bao nhiêu là người; những kẻ ở sát bên đều chẳng đến nghe, quý vị mới hiểu là dù “trụ trong tặc hạnh” cũng rất đáng quý đấy nghe! Chẳng dễ gì đâu! Vì thế, Phật, Bồ Tát rất trân quý, chẳng buông bỏ chúng ta, phó chúc Di Lặc Bồ Tát bảo hộ chúng ta, phải hộ niệm chúng ta!

 

6.3. Chúng sanh đời mạt phỉ báng, ô nhục, chán nhàm người có sư trưởng lẫn Bồ Tát trì chánh pháp

 

Chánh kinh:

      Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

      - Thế Tôn! Tối hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, duy thử lục thập chư Bồ Tát đẳng, nghiệp chướng sở triền, vi phục tiện hữu dư Bồ Tát da?

      (Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

      - Bạch Thế Tôn! Vào đời mạt sau cùng, trong năm trăm năm, chỉ có sáu mươi Bồ Tát này bị nghiệp chướng trói buộc, hay là còn các Bồ Tát khác chăng?)

     

Di Lặc Bồ Tát hỏi câu này rất hay. Ý Ngài hỏi như sau: Vào thời Mạt Pháp, những Bồ Tát ngu si như thế thật sự chỉ có con số ít ỏi là sáu mươi người ấy? Hay là còn nhiều hơn nữa?

 

      Chánh kinh:

      Phật cáo Di Lặc Bồ Tát ngôn:

      - Di Lặc! Ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, hữu chư Bồ Tát đa vị nghiệp chướng chi sở triền phú. Thị chư nghiệp chướng hoặc hữu tiêu diệt, hoặc phục tăng trưởng.

      (Phật bảo Di Lặc Bồ Tát rằng:

      - Này Di Lặc! Vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, có các Bồ Tát bị nhiều nghiệp chướng trói buộc, che lấp. Các nghiệp chướng ấy có trường hợp sẽ tiêu diệt, có trường hợp càng tăng trưởng)

 

      Ý của Phật là: Trong thời kỳ Mạt Pháp có nhiều Bồ Tát nghiệp chướng. Rất nhiều! Họ đều bị nghiệp chướng che phủ, trói buộc. Có những vị Bồ Tát ngu si nhưng nghiệp duyên thù thắng, gặp được chân thiện tri thức, nghe xong hiểu được minh bạch rồi bèn y giáo phụng hành, nghiệp chướng của họ cũng dần dần tiêu diệt.

      Có tiêu diệt được chăng? Được chứ! Xác thực là được. Do đâu mà biết? Trước khi học Phật, tham - sân - si rất nặng, tu hành mấy năm tham - sân - si không còn nữa; đấy là nghiệp chướng tiêu diệt. Nếu vẫn còn tham - sân - si - nghi - mạn thì nghiệp chướng chưa tiêu diệt. Hoặc có khi còn tăng trưởng, tăng trưởng những gì? Tức là như ở phần trước đã nói là vì hiểu lầm ý Phật, tu trì Phật pháp, hoặc là trì giới thanh tịnh, giới luật tinh nghiêm mà nghiệp chướng bèn tăng trưởng. Vì sao người giới luật tinh nghiêm mà nghiệp chướng lại tăng trưởng? Thấy người khác chẳng trì giới, vậy là bọn họ chẳng bằng mình, ta vượt trội họ nhiều quá, bọn họ chẳng đáng để ta qua lại, chẳng đáng chuyện trò cùng ta! Phiền não tăng trưởng đấy!

      Nói theo người thế gian là bọn họ rất đáng nên kiêu ngạo! Có kẻ cậy mình tu hành so ra giỏi hơn người khác bèn khởi tâm ngạo mạn; có kẻ giảng kinh thuyết pháp giỏi bèn khởi tâm ngạo mạn; có kẻ phước báo lớn bèn khởi tâm ngạo mạn. Tăng trưởng nghiệp đấy! Như vậy chẳng gọi là tiêu nghiệp. Tướng nghiệp chướng tiêu trừ là càng ngày càng khiêm tốn, càng ngày càng nhún nhường, càng ngày càng chẳng khác gì kẻ khác. Đấy là hiện tượng nghiệp chướng tiêu diệt.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ư thử ngũ bách chư Bồ Tát trung, hữu nhị thập Bồ Tát, nghiệp chướng vi thiểu, hậu ngũ bách tuế, hoàn lai sanh thử thành ấp, tụ lạc, thị hãn, sơn dã.

(Này Di Lặc! Trong số năm trăm Bồ Tát đây, có hai mươi Bồ Tát, nghiệp chướng nhỏ ít, sau năm trăm năm, lại sanh vào trong thành ấp, tụ lạc, phố thị, đồng núi này)

 

      Chúng ta phải chú tâm thể hội đoạn kinh này. Đức Phật dạy chúng ta: Vào năm trăm năm sau trong thời đại này, các Bồ Tát trong thời đức Phật còn tại thế sẽ có những vị tái lai, đấy là vì lòng từ bi chân thật đến cùng cực. Có bao nhiêu vị? Hai mươi vị, không nhiều nhặn gì! Hai mươi vị Bồ Tát ấy nghiệp chướng ít, nghiệp chướng nhẹ mỏng, năm trăm năm sau họ trở vào thế gian này hóa độ chúng sanh. Họ sẽ ở tại những địa phương nào? “Thành ấp” là đô thị, “tụ lạc” là xóm làng, làng mạc, “thị hãn” nói theo bây giờ là những phố thị, “sơn dã” là những khu vực nằm ngoài phố thị.

 

Chánh kinh:

Chủng tánh tôn hào, hữu đại oai đức.

      (Giòng họ tôn quý, giàu mạnh, có oai đức lớn)

     

      Câu này nói về thân thị hiện của các Ngài.

 

      Chánh kinh:

      Thông minh, trí huệ, thiện xảo phương tiện, tâm ý điều nhu, thường hoài từ mẫn, đa sở nhiêu ích, nhan mạo đoan nghiêm, biện tài thanh diệu.

      (Thông minh, trí huệ, phương tiện hay khéo, tâm ý nhu hòa, thường ôm lòng từ mẫn, làm nhiều điều lợi ích, vẻ mặt đoan nghiêm, biện tài trong trẻo, hay khéo)

     

      Câu này diễn tả đức hạnh của các Ngài.

 

      Chánh kinh:   

      Số thuật, công xảo, giai năng thiện tri.

      (Số thuật, nghề khéo thảy đều biết rõ).

 

      Hai câu này nói về tài nghệ của các Ngài. Có thể nói là các Ngài thông minh, trí huệ, chân thành, từ bi, đa tài, lắm nghề. Các vị Bồ Tát này có vị thị hiện tại gia, có vị xuất gia. Những điều các Ngài biểu hiện trong ba câu tiếp theo đây rất là trọng yếu.

 

      Chánh kinh:

      Thân ẩn kỳ đức, an trụ đầu-đà, công đức chi hạnh.

      (Các vị tự giấu đức mình, an trụ hạnh đầu-đà công đức).

     

      Các Ngài chẳng tự phô trương, tuyệt đối chẳng tự tuyên truyền, các Ngài biết “tự giấu đức mình, an trụ đầu-đà”, nói theo cách bây giờ là sanh hoạt rất bình phàm, cũng có khả năng là các ngài sanh sống rất thanh bần, cũng chẳng tỏ vẻ là rất giàu có, các Ngài tu học công đức chân thật.

 

      Chánh kinh:

      Tại tại sở sanh, xả gia vi đạo, dĩ ư vô lượng a-tăng-kỳ câu-chi kiếp trung, tích tập A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

      (Sanh ở nơi đâu đều bỏ nhà tu đạo, trong vô lượng a-tăng-kỳ câu chi kiếp, tích tập Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

      Do đây ta biết là họ thiện căn thâm hậu phi thường. Câu “tại tại sở sanh” trong đoạn này nghĩa là đời đời kiếp kiếp, các Ngài thị hiện xuất gia tu đạo, “xả gia” nghĩa là xuất gia.

      Mọi người phải hiểu rõ chữ “xuất gia”; xuất gia chẳng nhất định là quý vị phải lìa bỏ gia đình, đến chùa viện làm hòa thượng, nếu hiểu như vậy là lầm mất rồi! “Xả gia” ở đây là tâm trọn chẳng vương vấn việc nhà, như thường nói: “Tâm xuất gia, thân chẳng xuất” đấy mới là chân xuất gia. Thân xuất gia mà tâm vẫn mơ tưởng thì có khác gì người thế gian, đấy là “thân xuất, tâm chẳng xuất”, nào phải là xuất gia, chỉ là dối người đó thôi! Bởi thế, Phật pháp chú trọng vào tâm xuất gia, chẳng đặt nặng thân xuất gia. Vì thế, những Bồ Tát tại gia ấy đều là tâm xuất, thân chẳng xuất. Các ngài thị hiện như thế, nhưng thật sự ra tâm các Ngài tại đạo, chẳng tại gia nghiệp. Ý nghĩa này rất rõ ràng, rất minh bạch.

     

      Chánh kinh:

      Hộ trì chánh pháp, bất tích thân mạng.

      (hộ trì chánh pháp, chẳng tiếc thân mạng)

 

      Khởi tâm động niệm, làm gì cũng nhất định tương ứng với pháp, trọn chẳng trái nghịch lời răn dạy của Phật Đà.

 

      Chánh kinh:

      Trụ a-lan-nhã, không nhàn lâm trung, thường cần tinh tấn, bất cầu lợi dưỡng.

      (Ở chốn a-lan-nhã, trong rừng trống vắng, thường siêng tinh tấn, chẳng cầu lợi dưỡng)

 

      Hoàn cảnh sanh sống và tu học của các Ngài rất thanh tịnh. “A-lan-nh㔓không nhàn lâm trung” ý nói hoàn cảnh cư trú của các Ngài rất u tịnh. Dù ở ngay chốn thành thị, trong khu vực ồn ào, náo nhiệt, chẳng khác nào ta đang ở trong căn nhà rộng lớn này, dù bên ngoài rất náo nhiệt, hoàn cảnh cư trú riêng của họ cũng vẫn thanh tịnh, vẫn là nhất trần bất nhiễm! Đó gọi là “trong chốn ồn náo giữ được thanh tịnh”. Các Ngài an trụ trong thanh tịnh, nhàn hạ.

     

      Chánh kinh:

      Thiện nhập nhất thiết chúng sanh tâm hạnh.

      (Khéo vào trong tâm hạnh của hết thảy chúng sanh).

 

      Đây là giáo hóa chúng sanh nhất định phải khế cơ. Phải hiểu thật rõ, thật minh bạch ý tưởng, kiến giải, điều ưa thích của hết thảy chúng sanh thì pháp nói ra mới được đại chúng tin tưởng, ngưỡng mộ, mới tạo lợi ích chân thật cho đại chúng được. Đấy là cũng giảng pháp khế cơ.

 

      Chánh kinh:

Chú thuật ngôn luận, tất năng liễu tri. Ư chư nghĩa lý, thiểu văn đa giải.

      (Chú thuật, ngôn luận thảy đều hiểu trọn. Với các nghĩa lý, nghe ít hiểu nhiều)

 

      Đây là trí huệ rộng mở. Chú thuật, ngôn luận đều hiểu trọn vẹn, ý nói: kiến thức thông thường rất phong phú, những gì người thế gian biết, các Ngài đều hiểu cả, không gì là không biết. Nghĩa lý, thế pháp, xuất thế pháp, vừa tiếp xúc một lần liền có thể hiểu rành, đó gọi là trí huệ khai mở.

 

Chánh kinh:

      Biện tài trí huệ, giai tất cụ túc, bỉ chư Bồ Tát ư thị pháp trung, tinh cần tu tập, đắc đà-ra-ni, vô ngại biện tài.

      (Biện tài trí huệ thảy đều đầy đủ, các vị Bồ Tát ấy ở trong pháp đó, siêng năng chuyên ròng tu tập, đắc đà-ra-ni, biện tài vô ngại).

     

      Nếu các Ngài chẳng đầy đủ những điều kiện vừa nêu trên, các Ngài làm sao đạt đại thành tựu trong Phật pháp cho được? “Đà-ra-ni” là nắm được tổng cương lãnh của Phật pháp. Đã thế lại còn có trí huệ biện tài nên mới có thể thuyết pháp.

     

      Chánh kinh:

      Ư tứ chúng trung, tuyên thuyết chánh pháp.

      (Ở trong tứ chúng, tuyên nói chánh pháp)

 

      Bản thân các Ngài có đầy đủ những điều kiện như thế. Bản thân có đủ những điều kiện ấy vẫn chưa đủ, nhất định phải được Phật lực gia trì. Nếu chẳng được Phật lực gia trì, những điều kiện bản thân chẳng thể chống cự nổi phiền não, tà kiến của chúng sanh. Vì vậy ta mới biết là hoằng dương chánh pháp nào phải là chuyện dễ dàng. Bởi thế, đoạn kinh văn tiếp theo nói:

 

      Chánh kinh:

      Dĩ Phật oai đức gia bị lực cố.

      (Do sức gia bị của Phật oai đức).

 

      Đây chính là được Phật lực gia trì. Chúng ta nên hỏi: “Nhờ đâu các Ngài được Phật lực gia trì?” Nhờ vào những điều kiện đã nói ở trên. Những điều kiện đó lấy thiện căn trong vô lượng kiếp làm nhân, lấy đức hạnh trong một đời này làm duyên. Đã có nhân lành lại có duyên lành nên mới được Phật, Bồ Tát gia trì; được Phật lực gia trì thì trong đạo tràng Phật quang sẽ chiếu rọi vậy.

      Vì sao mọi người vào đạo tràng đó bèn sanh tâm hoan hỷ? Là vì họ được Phật quang tưới gội vậy. Điều ấy chẳng phải do tôi nói. Con người có năng lực gì? Không có chi cả! Quý vị ở nơi đó sanh tâm hoan hỷ là do Phật quang chiếu rọi, được chư Phật gia trì đó thôi. Người giảng được Phật lực gia trì, người nghe cũng được Phật lực gia trì. Chẳng có Phật lực gia trì thì chúng tôi nói không nổi, chẳng có Phật lực gia trì thì quý vị nghe cũng chẳng hiểu nổi ý nghĩa. Người giảng, người nghe đều được Phật gia trì.

     

Chánh kinh:

Ư Phật sở thuyết tu-đa-la,

      (Với những tu-đa-la do đức Phật nói)

 

      Tu-đa-la là Khế Kinh.

 

      Chánh kinh:

Kỳ-dạ.

 

      Kỳ-dạ là kệ tụng.

 

      Chánh kinh:

      Thọ ký, già-đà.

     

Già-đà là phúng tụng, ta còn gọi là Cô Khởi Tụng.

 

Chánh kinh:
      Ưu-đà-na.

     

      Ưu-đà-na là vô vấn tự thuyết (không ai hỏi tự nói). Như kinh A Di Đà là thuộc về thể loại Ưu-đà-na.

      Bởi lẽ mười hai câu trong đoạn này đều là dịch âm tiếng Phạn nên tôi thuật ý nghĩa của chúng.

     

Chánh kinh:

Ni-đà-na.

     

      Ni-đà-na là Nhân Duyên.

 

      Chánh kinh:

A-ba-đà-na

 

      A-ba-đà-na là Thí Dụ.

 

      Chánh kinh:

Y-đế-việt-đa-già.

           

      Là Bổn Sự.

     

      Chánh kinh:

      Xà-đa-già.

 

      Là Bổn Sanh.

 

Chánh kinh:

      Tỳ-phật-lược.

     

      Là Phương Quảng.

 

Chánh kinh:

      A-phù-đà-đạt-ma.

 

      Là Vị Tằng Hữu (chưa từng có).

 

Chánh kinh:

      Ưu-ba-đề-xá.

 

      Là Luận Nghị. Mười hai loại này thường gọi là “mười hai phần giáo”, cũng như nếu gộp chung hết thảy Phật pháp đức Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết trong cả một đời thì xét ra chẳng ngoài mười hai loại này, chẳng ngoài mười hai phương cách này.

 

      Chánh kinh:

      Giai đắc biện tài, vô ngại tự tại.

      (Đều được biện tài vô ngại tự tại).

 

       Do được Phật lực gia trì nên đối với hết thảy pháp đức Thế Tôn đã giảng trong suốt bốn mươi chín năm, các Ngài chẳng có chướng ngại, các Ngài được tự tại, tiếp xúc một lần liền có thể thông đạt. Đấy là do thiện căn của chính mình là nhân, được Phật lực gia trì là duyên, nên mới có thành tựu như thế. Đối với những ai phát tâm theo đuổi công tác hoằng pháp lợi sanh, đoạn kinh văn này trọng yếu phi thường. Nếu chẳng đầy đủ những điều kiện đã nói trong phần này mà quý vị đeo đuổi công tác hoằng pháp lợi sanh, nhất định sẽ bị chướng ngại trùng trùng. Bởi thế, nhất định phải nhận hiểu đúng để tu tập.

Chắc cũng có vị nói: Xem đến những điều được thuật trong đoạn kinh này, ta thấy các vị Bồ Tát ấy “đã trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp” tích tập Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sợ rằng mình chẳng có phần đâu! Quý vị bất tất phải buồn lo. Nếu quý vị chẳng có thiện căn thâm hậu như thế, nói trắng ra là trong đời này quý vị chẳng được nghe đến pháp môn này, trong đời này quý vị chẳng đọc được bộ kinh này đâu! Quý vị có duyên phận tiếp xúc pháp môn này, đọc đến kinh điển này, thì nói cách khác là: thiện căn quá khứ của quý vị cũng rất thâm hậu đó nghe! Điều này trong khi giảng những kinh Vô Lượng Thọ, kinh Kim Cang, chúng tôi đã nhắc đến.

Vì thế, quý vị ai nấy đều có thiện căn thâm hậu phi thường, nhưng vấn đề là trong đời hiện tại chẳng có thiện duyên. Nếu gặp được thiện duyên, chắc cũng có vị sẽ là một người trong số hai mươi vị Bồ Tát mà đức Thế Tôn đã nhắc đến. Điều này với xuất gia hay tại gia chẳng quan hệ chi. Tại gia Bồ Tát cũng gánh vác công tác hoằng pháp lợi sanh hệt như vậy. Chúng ta hãy xem tiếp đoạn sau:

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Bỉ chư nhị thập thiện xảo Bồ Tát, tùng ư hòa thượng, a-xà-lê sở, đắc văn vô lượng bách thiên Khế Kinh, giai năng thọ trì, đương thuyết thị ngôn: “Ngã thử pháp môn tùng mỗ hòa thượng a-xà-lê sở, thân tự thính thọ, vô hữu nghi hoặc” .

      (Này Di Lặc! Hai mươi vị Bồ Tát thiện xảo ấy từ nơi hòa thượng a-xà-lê được nghe vô lượng trăm ngàn Khế Kinh, đều có thể thọ trì, sẽ nói như thế này: “Pháp môn này từ vị hòa thượng a-xà-lê X. đích thân ta được nghe nhận, chẳng có ngờ vực”).

 

      Hai hàng kinh văn này, nói theo lối cổ là “sư thừa”. Rất trọng yếu đấy! Pháp của quý vị là do đâu mà có? Ai truyền cho quý vị? Điều này rất trọng yếu. Không có thầy mà tự thông đạt thì chẳng hề có đạo lý ấy. Đoạn kinh này nói đến việc cầu sư thừa. Trong thời hiện tại đây, việc này rất khó khăn. Trong thời hiện tại đây, sư đạo còn chẳng có; còn sư thừa thì đừng nói là chưa thấy qua, ngay cả còn chưa hề nghe qua nữa đấy. Nếu như chẳng có được sư thừa, dù có thiên tánh, quý vị chẳng được chư Phật Như Lai gia trì. Điều này là thật đấy.

Nếu như quý vị cũng có thể thuyết pháp, thuyết pháp đến mức hoa trời rơi lả tả, cũng hấp dẫn được đại chúng, nói thật ra là phải có người gia trì, nếu không phải là Phật thì là ma gia trì quý vị. Năng lực của ma cũng rất lớn, vì thế đồ chúng ma rất đông đấy nhé! Đạo tràng xây dựng to lớn chừng ấy, đủ thấy thế lực của ma cũng chẳng nhỏ. Ma có tà trí huệ nên nó cũng có tà thiện xảo, phương tiện, cũng có thể nhiếp thọ quảng đại quần chúng, chỉ có điều đấy chẳng phải là chánh pháp.

Như vậy, chúng ta học Phật nhất định phải có thầy, ta phải học theo một vị thầy nào đó. Hai danh xưng “hòa thượng”, “a-xà-lê” dùng để chỉ thầy. Hòa Thượng là Thân Giáo Sư, có quan hệ mật thiết đối với mình, cũng là vị thầy truyền thừa. “A-xà-lê” là vị thầy để chúng ta mô phỏng, bắt chước theo. Ngôn hạnh của Ngài có thể làm khuôn mẫu cho đại chúng.

“Nghe kinh, thọ trì” là nói đến năng lực của các Bồ Tát ấy. Năng lực này cũng phải cầu cảm ứng, cũng phải cầu Phật gia trì. “Đương thuyết thị ngôn” nghĩa là các vị Bồ Tát ấy thường nói như vậy. Câu “Pháp môn này từ vị hòa thượng a-xà-lê X. đích thân ta được nghe, chẳng có ngờ vực” là lời thuyết minh về sư thừa.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Ư bỉ thời trung, đương hữu tại gia, xuất gia chư Bồ Tát đẳng, vô hữu trí huệ, thiện xảo, phương tiện.

      (Này Di Lặc! Trong thời kỳ đó, sẽ có những hàng Bồ Tát tại gia hay xuất gia chẳng có trí huệ, thiện xảo, phương tiện).

     

      Câu này ý nói: Có rất nhiều Bồ Tát tại gia hay xuất gia, trông thấy thiểu số Bồ Tát vừa nói ở trên có sư thừa để y giáo tu hành bèn chẳng khỏi khởi lòng ganh ghét, gây chướng ngại. Bởi thế mới có những hàng Bồ Tát xuất gia, tại gia chẳng có trí huệ, thiện xảo, phương tiện.

     

      Chánh kinh:

      Ư thử thọ trì chánh pháp Bồ Tát sở thuyết chi pháp, khước sanh cơ tiếu, khinh hủy.

      (Bèn đối với những pháp đã nói của vị Bồ Tát thọ trì chánh pháp mà sanh chê cười, khinh hủy).

 

      Khinh là khinh thị, hủy là hủy báng.

 

      Chánh kinh:

      Báng ngôn: “Như thị chi pháp giai do nhữ đẳng thiện xảo ngôn từ, tùy ý chế tạo, thật phi Như Lai chi sở tuyên thuyết. Ngã đẳng ư trung, bất năng tín nhạo, phát hy hữu tâm”.

      (Báng rằng: “Những pháp như thế là do các ngươi [dùng] lời lẽ hay khéo tùy ý đặt ra, thật chẳng phải do đức Như Lai tuyên thuyết. Bọn ta đối với những pháp ấy chẳng thể tin ưa, sanh tâm hy hữu”)

 

      Trong hiện tại có việc như thế xuất hiện hay chăng? Có! Chúng tôi ở trong nước hay ở ngoại quốc cũng thường nghe nói đến. Có người còn viết thư bảo là người này kẻ nọ (đều là những người rất có địa vị, rất có danh vọng) phủ định kinh Phật, cho rằng kinh Phật toàn là do cổ nhân bịa ra, đều chẳng phải là thật. Kinh nào mới là thật? Kinh A Hàm mới là thật. Ngay cả Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh họ cũng cho là do Bồ Tát Long Thọ giả mạo ra để dối người. Điều này trong kinh Phật nói rất rõ: bọn họ cậy mình là kẻ có trí huệ, cho chúng ta là hạng mê hoặc điên đảo, không có trí huệ. Sự việc này càng ngày càng rõ rệt trong tương lai, càng ngày càng rành rành, khiến cho hết thảy những người tu học Đại Thừa tín tâm chao đảo. Đấy là ma nạn đó!

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Đương nhĩ chi thời, vô lượng chúng sanh ư thị pháp sư, giai sanh phỉ báng.

      (Này Di Lặc! Ngay trong lúc ấy, vô lượng chúng sanh đối với pháp sư đó đều sanh phỉ báng).

 

      Nghe những kẻ đó nói như vậy đều khởi tâm nghi.  

     

      Chánh kinh:

Xả chi nhi khứ.

      (Bèn bỏ đi)

 

      Đều chẳng tu học nữa!

 

      Chánh kinh:

      Hỗ tương vị ngôn: “Thị chư tỳ-kheo, vô hữu quỹ phạm, đa chư tà thuyết, bất y Khế Kinh, bất y giới luật, do như xướng kỹ hý lộng chi pháp. Nhữ đẳng ư trung mạc sanh tín nhạo, phát hy hữu tâm, phi chánh pháp dã.

      (Bảo với nhau rằng: “Các tỳ-kheo này chẳng có khuôn phép, có lắm tà thuyết, chẳng nương vào Khế Kinh, chẳng nương theo giới luật, hệt như cách đào hát bỡn cợt. Các ngươi đối với các pháp ấy chớ sanh tin ưa, phát tâm hy hữu, bởi đó chẳng phải là chánh pháp vậy”).  

 

Đây là ma nạn trong đời vị lai, ma đến chướng đạo đấy! Càng thật sự tu hành, càng gặp phải những ma nạn như thế. Vì thế, ở phần trên, đức Phật đã dạy người thật sự tu hành phải “ẩn giấu đức mình”, “trụ hạnh đầu-đà” mới hòng tránh khỏi những phiền phức ấy. Dưới đây, Phật lại càng nói rõ ràng hơn.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Bỉ chư ngu nhân vị ma sở trì.

      (Những kẻ ngu đó bị ma nắm giữ)

 

      Bị ma nhiếp trì tức là bị ma khống chế, bị ma làm cho tâm mê, họ chẳng thể làm chủ lấy mình được. Vì sao bị ma khống chế? Tuyệt đại đa số là do ưa thích thần thông, ham thích cảm ứng. Như phần trước đã nói là để ma nắm đằng chuôi! Quý vị có tham, sân, si, mạn, hoài nghi, thì ma bèn nắm đằng chuôi, rất dễ bị ma khống chế mà chẳng hay chẳng biết chi!

Có một số ít người giác ngộ, hồi đầu, nhưng thoát ly chẳng phải là việc đơn giản, phải trải qua những vật lộn rất thống khổ mới thoát được bàn tay của ma! Có những kẻ bé gan, chẳng có trí huệ, biết rõ là mình bị khống chế, nhưng vẫn chẳng biết làm sao, cả một đời chẳng thoát nổi bàn tay ma, hạng người này đáng thương vô cùng. Trong câu “bỉ chư ngu nhân vị ma sở trì”, chữ “trì” là khống chế.

 

      Chánh kinh:

      Ư thị pháp trung, bất năng giải liễu, vị: phi Như Lai chi sở diễn thuyết.

      (Đối với pháp này chẳng thể hiểu rõ, cho là chẳng phải pháp do đức Như Lai diễn nói).

 

       Ở đây đặc biệt chỉ pháp Đại Thừa.

 

      Chánh kinh:

      Ư thị trì pháp chư tỳ-kheo sở, sanh ư phỉ báng, tác hoại pháp nghiệp.

      (Đối với các vị tỳ kheo trì pháp bèn sanh phỉ báng, gây nghiệp hoại pháp).

 

      Chuyên môn làm chuyện phá hoại chánh pháp như thế.

 

Chánh kinh:  

Dĩ thị nhân duyên, đương đọa ác đạo. Thị cố Di Lặc! Nhược chư trí huệ, thiện xảo Bồ Tát, dục hộ chánh pháp, đương ẩn kỳ đức.

      (Do nhân duyên đó, sẽ đọa ác đạo. Vì thế Di Lặc! Nếu các Bồ Tát trí huệ, thiện xảo muốn hộ trì chánh pháp thì phải nên ẩn giấu đức mình).

 

      Quý vị xem, trong đoạn này, lần thứ hai đức Phật dặn dò, đủ thấy là việc này trọng yếu phi thường vậy!    

 

      Chánh kinh:

      Ư đa phân biệt chư chúng sanh sở, ưng tu hộ niệm, mạc linh ư nhữ sanh bất thiện tâm.

      (Với những chúng sanh nhiều phân biệt, phải nên hộ niệm, đừng làm cho họ sanh tâm chẳng lành đối với mình).

 

      Tự mình phải hộ trì lấy mình, mà cũng phải hộ trì cho đối phương nữa! Chẳng khiến cho người khác hoài nghi, chẳng làm cho người khác ghen ghét, chẳng để cho người khác tạo ác nghiệp. Vì thế bản thân phải tận sức hạ thấp mình để khỏi gặp phải ma nạn đó! Địa vị càng cao, càng dễ mắc thị phi; phải hiểu rõ điều này. Từ ba ngàn năm trước, đức Phật đã đau lòng rát miệng dạy răn chúng ta, chúng ta phải hiểu được ý ấy, phải biết nên làm thế nào!

     

      Chánh kinh:  

Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát nhi bạch Phật ngôn:

      - Hy hữu Thế Tôn! Ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, hữu chư Bồ Tát thậm vi vô trí. Ư đại chúng trung, phỉ báng chánh pháp, cập trì pháp giả.

(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bèn bạch Phật rằng:

-Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Vào đời mạt sau, trong năm trăm năm, có các Bồ Tát thật là vô trí, ở trong đại chúng phỉ báng chánh pháp và người trì pháp).

 

“Trì pháp” là người tu hành đúng pháp. Kẻ đáng gọi là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng ngu si vô trí Bồ Tát mới làm những việc [phỉ báng] như thế.

 

Chánh kinh:

      Phục ư kỳ trung, đáng ư biện tài, cập đà-ra-ni, nhi ư thị pháp, bất năng tín thọ.

      (Trong số ấy lại sẽ có kẻ ngăn trở biện tài, đà-ra-ni, bèn đối với những pháp chẳng thể tin nhận).

 

       Chữ “đương” ở đây nên đọc lên giọng, đọc thành “đáng”, có nghĩa là “trở đáng” (ngăn trở). Nghĩ cách chướng phá khiến người khác không được biện tài, chướng ngại người khác đắc đà-ra-ni. “Đà-ra-ni” là cương lãnh Phật pháp, là nguyên tắc tu hành. Dùng các phương pháp để chướng ngại, phá hoại, cản trở. “Nhi ư thị pháp, bất năng tín thọ” là đối với pháp môn Đại Thừa thâm diệu chẳng tiếp nhận nổi. Tiếp theo đây, Di Lặc Bồ Tát nêu một tỷ dụ tuyệt hay. Chúng ta hãy đọc qua một lượt.

 

      Chánh kinh:

      Thế Tôn! Thí như hữu nhân, khát phạp tu thủy.

      (Bạch Thế Tôn! Ví như có người khát muốn uống nước).

     

      Có một người khát, muốn được uống nước.

 

      Chánh kinh:

      Vãng nghệ tuyền trì, nhi dục ẩm chi.

      (Đến bên suối ao, toan uống nước đó).

 

      Kẻ ấy đến bên dòng suối, hoặc bên bờ ao, tính uống nước trong đó cho hết khát.

 

      Chánh kinh:

      Thị nhân tiên lai, đầu chư phẩn uế ư thử thủy trung, hậu bất giác tri, dục ẩm kỳ thủy, tiện thủ xú chi, ký văn xú dĩ, bất ẩm kỳ thủy.

      (Người này trước đó, ném các thứ phẩn dơ vào trong nước ấy. Sau chẳng biết hay, muốn uống nước ấy, thấy nước hôi thối. Đã nghe mùi hôi, chẳng uống nước nữa)

     

      Quý vị hãy chú tâm xem kỹ thí dụ này. Cái ao ấy nước trong veo, kẻ kia nhằm lúc chẳng khát nước, cũng chẳng nghĩ đến uống nước đó, bèn làm bẩn nước ao. Sau khi ao bị ô nhiễm, bản thân khát nước, muốn uống nước ao, lại thấy nước ao bẩn thỉu quá đỗi, chẳng thể uống nổi. Ai phá hoại vậy? Chính mình phá hoại chứ ai! Đoạn kinh văn này tỷ dụ kẻ ấy trước đã phá hoại Phật pháp, sau nghĩ muốn tu học Phật pháp, nhưng Phật pháp đã bị kẻ ấy phá hoại rồi.

 

      Chánh kinh:

      Bỉ chi tự ô, cánh thuyết kỳ quá, nãi chí thán ngôn: “Kỳ tai! Thử thủy thậm đại xú uế”. Thị nhân quá thất, đô bất giác tri.

      (Kẻ ấy tự làm bẩn nước, lại còn chê trách, thậm chí than thở: “Lạ thay! Nước này hôi thối quá sức”. Người ấy chẳng hề hay biết lỗi lầm của mình).

     

      Tự mình phạm lầm lỗi, tự mình phỉ báng Tam Bảo, chẳng hề hiểu biết.

 

      Chánh kinh:

      Nhi ư thị thủy, phản sanh oán cữu.

      (Ngược lại đem lòng oán hờn nước ấy).

     

      Kẻ ấy tưởng là học Phật pháp, hóa ra là chê trách Tam Bảo.

 

      Chánh kinh:

      Thế Tôn! Như tuyền trì giả, đương tri tức thị trì pháp tỳ-kheo, do Phật thần lực, ư thử pháp nhãn, thiện năng giải thuyết.

      (Bạch Thế Tôn! Như suối, ao kia, nên biết đấy chính là tỳ-kheo trì pháp, do thần lực Phật, khéo có thể giải nói pháp nhãn này).

     

      Đây là tỷ dụ. “Nước ao” tỷ dụ những người phụng giáo tu hành, thân tâm thanh tịnh.

 

      Chánh kinh:

      Hựu phục như bỉ ngu si chi nhân, nhược ư tuyền trì, tự đầu phẩn uế, hậu bất giác tri, dục ẩm kỳ thủy.

      (Lại như những kẻ ngu si kia, đã tự quăng phẩn nhơ vào trong ao suối, sau chẳng biết hay, muốn uống nước ấy).

 

      Đây là nói đến những Bồ Tát ngu si, tỷ dụ bọn họ muốn học Phật pháp, hóa ra là có chướng ngại.

     

      Chánh kinh:

      Thế Tôn! Tối hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung, hữu chư vô trí chư Bồ Tát đẳng, diệc phục như thị.

      (Bạch Thế Tôn! Đời mạt thế tối hậu, trong năm trăm năm, có các hàng Bồ Tát vô trí cũng giống như thế).

 

      Đây là nói thuận theo thí dụ trên: Tự mình làm bẩn nước, đến lúc sau cùng, khát nước chẳng thể uống được. Chúng ta hãy xem đoạn kinh văn tiếp theo đây, kinh nhắc lại sự việc ấy một lần nữa: những người ấy...

 

      Chánh kinh:

      Ư bỉ chánh pháp, cập trì pháp giả, sanh phỉ báng dĩ, phục ư thị nhân, thính thọ pháp vị.

      (Đối với chánh pháp và người trì pháp, sanh phỉ báng rồi, lại ở nơi người ấy, nghe nhận pháp vị).

 

      Họ phỉ báng. Phỉ báng như thế nào? Họ vẫn học trộm, vẫn nghĩ cách để nghe được kinh pháp này. Họ nghe có thật sự hiểu nổi chăng? Nghe chẳng hiểu! Vì sao nghe chẳng hiểu được? Tâm họ dua vạy, trong tâm có phiền não, tâm chẳng thanh tịnh. Nói cách khác, giống như chúng tôi vừa mới nói, họ chẳng được Phật, Bồ Tát gia trì. Chẳng được Phật, Bồ Tát gia trì thì chẳng những càng nghe càng chẳng hiểu, mà còn hiểu lầm ý nghĩa nữa, có mặt ngay nơi đó nghe cũng chẳng hiểu. Vì thế, chúng ta nghe pháp mà có thể lý giải, sanh tâm hoan hỷ đều là được Phật lực gia trì đấy nhé! Hy hữu khó được phi thường đấy! Phải biết quý trọng, tiếc nuối nhân duyên của chính mình.

 

      Chánh kinh:

      Bỉ nhân tự thất, đô bất giác tri.

      (Kẻ ấy tự để lỡ mất mà đều chẳng biết hay)

 

      “Tự thất” là hiểu lệch lạc ý nghĩa, nghe lầm.

 

      Chánh kinh:

      Dĩ nghi hoặc quá, ô nhiễm ý căn.

      (Do lỗi nghi hoặc ô nhiễm ý căn)

     

Đoạn kinh này nói rõ vì sao kẻ ấy đọc kinh, nghe pháp bèn hiểu lầm ý nghĩa. Ấy là vì kẻ đó có chướng hoặc, đối với Phật pháp đã có thành kiến; là vì trong quá khứ nghe người khác nói bèn cho pháp đó chẳng phải do đức Phật nói. Cái thành kiến ấy đã có rất sớm, tức là quan niệm Đại Thừa chẳng phải do đức Phật nói. Đặc biệt là tại Trung Quốc, như kinh Lăng Nghiêm chẳng hạn, rất nhiều người chẳng tin tưởng kinh Lăng Nghiêm, cho kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, Đại Thừa Khởi Tín Luận cũng là ngụy tạo! Hai bộ kinh luận này gây tranh luận rất nhiều. Chẳng những tranh cãi xuông, một số người còn viết thành sách, phán quyết hai bộ ấy là giả, chẳng phải là thật.

Những chuyện như vậy, lúc chúng tôi đọc đến mỗi bộ kinh, đều thấy đức Phật giảng rất rõ ràng, rất minh bạch: Đấy là những hiện tượng kỳ quái trong thời kỳ Mạt Pháp. Nguyên nhân là do những kẻ ấy có chướng ngại. Trong quá khứ họ đã có thành kiến ấy, ý căn đã bị ô nhiễm; bởi thế đọc kinh, nghe pháp bèn sanh ra lắm tri kiến lầm lạc, chẳng hiểu nổi ý nghĩa chân thật của đức Như Lai!

     

      Chánh kinh:

      Bỉ trì pháp giả, đương bị hý lộng, hoặc thọ cơ tiếu.

      (Những người trì pháp kia sẽ bị bỡn cợt, hoặc bị chê cười)

 

Trái lại, những người tu hành như pháp bị những kẻ đó chê cười, bỡn cợt, lăng nhục.

 

Chánh kinh:

Nãi chí thán ngôn: “Kỳ tai, thử pháp vị chư quá thất chi sở nhiễm ô”. Bỉ vô trí nhân ư thử chánh pháp, cập thị pháp sư, bất năng thính thọ, ty cầu kỳ đoản, báng ngôn ô nhục, sanh yểm ly tâm, xả chi nhi khứ.

(Đến nỗi than rằng: “Lạ thay! Pháp này bị các lầm lỗi ấy nhiễm ô”. Những kẻ vô trí kia đối với chánh pháp và pháp sư này, chẳng thể nghe nhận, bới tìm khuyết điểm, báng bổ ô nhục, sanh tâm nhàm chán, bèn bỏ mà đi)

 

Đây là điều chúng ta thường gặp trong xã hội hiện tại, nghe nói đến rất nhiều. Bộ kinh này đã được lưu truyền rất lâu, trọn chẳng phải do người hiện tại ngụy tạo đâu! Kinh này sao từ trong Đại Tạng Kinh ra: Kinh Đại Bảo Tích hội thứ hai mươi lăm, người phiên dịch cũng thật rõ rệt: Ngài Bồ Đề Lưu Chí đời Đường phiên dịch, sao còn lầm được? Ngài Bồ Đề Lưu Chí cách thời chúng ta, nói chẳng sai mấy là gần một ngàn bốn trăm năm. Niên đại Phật giảng kinh còn xa hơn nữa; ngay từ đầu, đối với những hiện tượng như vậy phát sanh trong xã hội hiện tại của chúng ta, đức Phật đều đề cập rất rõ ràng, rất minh bạch. Tôi nghĩ: Đối với những điều đức Thế Tôn đã nói, những người đầu óc sáng suốt chẳng thể chẳng bội phục vậy.

 

6.4. Có bốn loại biện tài, hết thảy chư Phật đều tuyên nói

 

      Chánh kinh:

      Nhĩ thời, Thế Tôn tán Di Lặc Bồ Tát ngôn:

      - Thiện tai! Thiện tai! Di Lặc! Thiện năng diễn thuyết như thị thí dụ, vô năng ty cầu thuyết kỳ đoản giả.

      (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen Di Lặc Bồ Tát rằng:

      - Lành thay! Lành thay! Di Lặc! Khéo có thể diễn nói thí dụ như thế, chẳng có thể tìm bới chỗ dở được!)

     

      Mấy câu này dùng để tổng kết đoạn kinh văn ở phần trước. Đức Thế Tôn tán thán Di Lặc Bồ Tát nói rất hay. Tiếp đó, đức Thế Tôn lại bảo Di Lặc Bồ Tát rằng:

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Dĩ thị nhân duyên, nhữ ưng đương tri: hữu tứ biện tài, nhất thiết chư Phật chi sở tuyên thuyết. Hữu tứ biện tài, nhất thiết chư Phật chi sở giá chỉ.

      (Này Di Lặc! Do nhân duyên đó, ông nên biết rằng: có bốn biện tài được hết thảy chư Phật tuyên nói. Có bốn biện tài bị hết thảy chư Phật ngăn cấm)

 

      Đoạn này khai thị trọng yếu phi thường, khiến cho chúng ta biết rõ cách phân biệt đâu là Phật pháp, đâu chẳng phải là Phật pháp. “Biện tài”: Phật có biện tài, ma cũng có biện tài. Nếu ma chẳng có biện tài, làm sao nó có thể khiến nhiều người tin tưởng, sùng phụng đến thế? Ma cũng có vô ngại biện tài. Vì thế, ở đây đức Phật nói rõ có bốn loại biện tài được hết thảy chư Phật khen ngợi, đó là Phật pháp. Ngoài ra có bốn thứ biện tài, cũng là vô ngại biện tài, nhưng bị hết thảy chư Phật cấm chỉ, quyết định chẳng chấp nhận. Nếu thật sự là đệ tử Phật - là tỳ-kheo hoặc là Bồ Tát - mà thuyết pháp chẳng tương ứng với lời đức Phật dạy, ta liền biết rõ kẻ ấy chẳng như pháp.

     

      Chánh kinh:

      Vân hà danh vi, hữu tứ biện tài, nhất thiết chư Phật chi sở tuyên thuyết?

      (Thế nào gọi là có bốn biện tài được hết thảy chư Phật tuyên nói?)

 

      Đây là những biện tài được hết thảy chư Phật khen ngợi, được chư Phật Như Lai tuyên nói. Thứ nhất là:

 

      Chánh kinh:

      Sở vị: lợi ích tương ưng, phi bất lợi ích tương ưng.

      (Chính là: ứng với lợi ích, chẳng ứng với không lợi ích).

 

      Phật, Bồ Tát vì hết thảy chúng sanh thuyết pháp, mục đích là khiến cho hết thảy chúng sanh được lợi ích chân thật. Nếu nói hiện tại Phật cho ta được lợi ích, đời sau chẳng được lợi ích, hậu thế chẳng được lợi ích, đó chẳng phải là lời Phật nói vậy. Lợi ích chân thật của lời Phật dạy là khiến cho chúng ta đời sau, hậu thế, đời đời kiếp kiếp đều được lợi ích; cho nên “chẳng ứng với không lợi ích” - chẳng tương ứng với bất cứ điều gì không có lợi ích.

      Ý Phật nói rất sâu, rất rộng. Người đời tầm nhìn thường rất thiển cận, chỉ thấy được những mối lợi nhỏ nhặt trước mắt, chẳng hề chú tâm quan sát kỹ: được một điều lợi nhỏ mà phải đổ ra biết bao công sức. Nếu như lắng lòng quan sát sẽ biết rõ: mối lợi nhỏ nhặt ấy thật sự chẳng bõ công. Nếu tâm địa chẳng thanh tịnh, đời sau nhân đó sẽ đọa tam đồ, tổn hại rất lớn! Đấy nhất định chẳng phải là điều Phật nói.

      Về cái lợi trước mắt, chúng tôi nói đến một chuyện đơn giản nhất: Phật pháp khiến cho con người thường sanh tâm hoan hỷ, nhất định Phật pháp chẳng tạo áp lực cho con người. Nếu như trong cuộc sống cảm thấy có áp lực, tinh thần có áp lực, về mặt vật chất có áp lực, thì nhất định chẳng phải là Phật pháp, Phật chẳng tạo áp lực lên con người. Nói ra lời này, chỉ sợ có một số ít các vị đồng tu nghe không hiểu.

      Thế nào là “áp lực”? Tôi nêu một thí dụ cho quý vị hiểu nhé. Quý vị đến Phật đường có cần phải bố thí, cúng dường hay không? Ít nhiều gì cũng phải bố thí một chút, cúng dường một chút; có người e ngại điều này. Lúc tài lực mình chẳng đủ, bèn vay lãi nặng để cúng dường, phải trả lợi tức rất nặng. Đấy chẳng phải là áp lực ư? Nhất định đức Phật chẳng chấp thuận điều này. Quý vị vào cửa Phật có cần phải cúng dường hay chăng? Nói thật ra, Phật chẳng cần quý vị phải cúng dường vật chất. Ngài muốn quý vị làm gì? Ngài dạy quý vị cúng dường bằng cách phụng hành.

Quý vị xem trong Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm có nói đến việc “rộng tu cúng dường”, hết thảy tài cúng dường chẳng bằng pháp cúng dường. Trong pháp cúng dường, bậc nhất là “như thuyết tu hành” (tu hành đúng theo lời dạy). Trong kinh Phật dạy làm sao, ta cứ chiếu như thế ấy mà làm, đấy mới là chân cúng dường vậy!

Chúng ta vừa đọc qua trong kinh này, đức Phật dạy chúng ta trong thời hiện tại, phải tu học ra sao để tránh được hết thảy chướng ngại, được thành tựu. Đức Phật dạy chúng ta bốn pháp, pháp đầu tiên là “chẳng cầu lỗi người khác”, chúng ta có làm được không? (Chẳng phải là ta lúc nào cũng trách móc người khác, luôn thấy khuyết điểm người khác đó sao?) Nếu quý vị làm được một điều này là đã thật sự công đức rồi! Như vậy có tạo áp lực cho quý vị hay không? Đấy gọi là “tương ứng”, “ứng với lợi ích”. Điều thứ hai là:

 

Chánh kinh:

Dữ pháp tương ưng, phi bất dữ pháp tương ưng.

(Tương ứng với pháp, chẳng phải không tương ứng với pháp).

 

Nhất định chẳng thể không tương ứng với pháp, nhất định phải tương ứng với pháp. Chữ “pháp” chỉ điều gì? Là hết thảy kinh điển chư Phật Như Lai đã nói. Nhất định phải tương ứng với những đạo lý, phương pháp, cảnh giới dạy trong kinh điển; nếu có điều gì trái nghịch thì biện tài đó chẳng phải là biện tài được chư Phật, Bồ Tát khen ngợi. Điều thứ ba là:

 

      Chánh kinh:

      Phiền não diệt tận tương ưng, phi dữ phiền não tăng trưởng tương ưng.

      (Tương ứng với diệt sạch phiền não, chẳng tương ứng với tăng trưởng phiền não).

     

Điểm này tất cả các vị học Phật phải nhớ kỹ. Đặc biệt là câu thứ nhất “tương ứng với lợi ích”. Nếu quý vị học Phật công phu đắc lực, cũng như nói quý vị học rất khá, tu rất tốt, là căn cứ vào đâu? Phiền não ít đi. Xem trong một giai đoạn dài, phiền não nhất định mỗi năm một ít đi. Phiền não ít đi, trí huệ tăng trưởng, thân tâm thanh tịnh. Đấy là đạo lý nhất định! Nếu công phu càng giỏi, ắt mỗi tháng mỗi khác. Nếu quý vị quan sát kỹ sẽ thấy tháng nào cũng có tiến bộ. Tiến bộ là phiền não nhẹ lần, tháng này so ra nhẹ hơn tháng trước. Tham, sân, si, mạn đều giảm dần đến khi không còn nữa, thân tâm khang kiện, trí huệ tăng trưởng, quý vị niệm Phật chắc chắn được vãng sanh, thật sự có chỗ để nương cậy. Bởi thế, Phật pháp nhất định dạy quý vị đoạn phiền não, khai trí huệ.

Nếu như quý vị học Phật, học kiểu gì mà mỗi năm phiền não so ra càng nhiều thêm là hỏng rồi, quý vị đâu có học Phật, quý vị học ma đấy! Ma rất tương phản với Phật, ma dạy quý vị tăng trưởng phiền não, mỗi năm mỗi thêm nhiều; Phật dạy cho quý vị ít phiền não, mỗi năm một ít hơn. Đấy là sự tương phản rất rõ rệt giữa ma và Phật. Từ thành quả mà kiểm điểm, quan sát, chúng ta sẽ rốt ráo biết là mình học Phật hay học ma! Điều thứ tư là:

 

      Chánh kinh:

      Niết Bàn công đức tương ưng, phi dữ sanh tử quá lậu tương ưng.

      (Tương ứng với công đức Niết Bàn, chẳng tương ứng với sanh tử quá lậu).

 

      Niết Bàn là tiếng Phạn, có nghĩa là bất sanh bất diệt. Cầu bất sanh bất diệt được không? Cầu được chứ. Đấy là mục đích tối hậu của việc tu học Phật pháp - nhập cảnh giới Niết Bàn. Niết Bàn là cảnh giới không có sanh diệt. Phật dạy chúng ta: Lục đạo có sanh tử luân hồi, mười pháp giới có biến dịch sanh tử, như Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát có biến dịch sanh tử. Nơi Phật quả, hai thứ sanh tử đều chẳng có: Phần đoạn sanh tử diệt sạch, biến dịch sanh tử cũng diệt hết. Đó gọi là Đại Niết Bàn. Hết thảy pháp đức Phật giảng nhất định phải theo phương hướng này, nhất định phải hướng đến mục tiêu này.

Nếu là ma thuyết pháp sẽ chẳng giống vậy. Ma dạy quý vị đời đời kiếp kiếp chẳng lìa sanh tử luân hồi, vĩnh viễn chuyển dịch trong lục đạo, thuộc quyền khống chế của ma! Đặc biệt là Đại Thừa Phật pháp, trong kinh thường nói vô lượng pháp môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn. Pháp là phương pháp, Môn là cửa ngõ. Phương pháp, đường lối rất nhiều, nhưng mục tiêu - phương hướng chỉ là một: Đại Niết Bàn. Bởi vậy trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Pháp này bình đẳng, chẳng có cao thấp”. Tất cả các pháp môn đều bình đẳng, đều có thể giúp quý vị chứng đắc cảnh giới Đại Niết Bàn.

      Vậy tại sao trong nhiều pháp môn như thế, ta phải chọn lựa? Pháp môn là bình đẳng, nhưng căn tánh ta chẳng bình đẳng. Nếu pháp môn không phù hợp căn tánh ta, ta tu học khó thể thành tựu. Đời người rất ngắn, trong thời gian ngắn ngủi như thế, nếu ta tu chẳng thành công là phí mất đời này rồi. Bởi vậy, chọn lựa pháp môn là điều trọng yếu phi thường.

      Trong nhiều pháp môn như thế, rốt cuộc ta nên chọn pháp môn nào cho tốt? Nói thật ra, chúng ta phiền não rất nặng, tập khí rất sâu, cũng chẳng có thiện căn, phước đức, lại chẳng có trí huệ, trong nhiều pháp môn như thế, chọn bằng cách nào đây? Điều này đức Phật khi còn tại thế đã từng nhìn thấy rất rõ ràng, rất minh bạch, Ngài thật sự là bậc từ bi đến cùng cực. Trong kinh Đại Tập có một đoạn khai thị; nếu như bản thân quý vị không có năng lực để tuyển chọn pháp môn, quý vị cứ theo đúng lời Phật khai thị.

Phật dạy: “Trong thời kỳ Chánh Pháp (một ngàn năm đầu tiên sau khi Phật diệt độ), giới luật thành tựu”, quý vị nghiêm trì giới luật bèn có thể chứng quả. Chứng quả ấy chẳng cần phải là rất sâu, thông thường là quả A La Hán, tức là tự có năng lực vượt thoát lục đạo luân hồi. Dù chẳng chứng được quả A La Hán, nếu như chứng được quả Tu Đà Hoàn cũng là rất khả quan. Tu Đà Hoàn nhập lưu, dự vào dòng thánh. Sau khi chứng được Tu Đà Hoàn, bảy lượt sanh trong cõi trời, cõi người, bèn vượt thoát luân hồi, mới kể là thành tựu.

Đức Phật nói: “Trong thời kỳ Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu”. Nghĩa là một ngàn năm thứ hai sau khi Phật diệt độ, trong thời kỳ ấy, Phật pháp truyền từ Ấn Độ sang Trung Quốc, cho nên Thiền tông Trung Quốc đặc biệt hưng thịnh, bởi đó là pháp môn thành tựu trong giai đoạn thứ hai. Giai đoạn thứ ba là thời kỳ Mạt Pháp, đức Phật đã diệt độ hơn hai ngàn năm rồi, căn tánh con người mỗi đời càng tệ đi, phiền não tập khí càng đặc biệt nặng nề, trì giới chẳng thành tựu, tham thiền chẳng đắc định nổi. Đức Phật dạy chúng ta trong thời kỳ này “Tịnh Độ thành tựu”.

Nếu quý vị chắc thật niệm Phật, đới nghiệp vãng sanh, sẽ thành tựu vượt trội hơn hai loại trên. Hai loại trên chỉ có thể thoát ly lục đạo luân hồi, chứ vẫn chưa ra khỏi mười pháp giới. Tịnh Độ vãng sanh đến được Tây Phương Cực Lạc thế giới là siêu việt mười pháp giới; bởi thế, pháp môn này thù thắng khôn sánh. Bản thân chúng ta chẳng có trí huệ, chẳng có năng lực chọn lựa, nghe lời đức Phật, Phật thay ta chọn lựa pháp môn Tịnh Độ, ta cứ y giáo phụng hành là được. Đấy chính là tương ứng với Đại Niết Bàn, tuyệt đối chẳng tương ứng với sanh tử luân hồi.

     

Chánh kinh:

      Thị vi nhất thiết chư Phật chi sở tuyên thuyết tứ chủng biện tài.

      (Đấy là bốn thứ biện tài được hết thảy chư Phật tuyên nói).

     

      Bốn thứ biện tài vừa nói trên là chánh pháp được hết thảy chư Phật tuyên nói.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Nhược tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà di.

      (Này Di Lặc! Nếu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, cận sự nam, cận sự nữ)

     

      Hai hạng Bồ Tát xuất gia và tại gia đều được nhắc đến.

     

      Chánh kinh:

      Dục thuyết pháp giả.

      (Muốn thuyết pháp)

 

      Quý vị muốn hoằng pháp lợi sanh, vì người khác giảng kinh thuyết pháp, đem Phật pháp giới thiệu cho quảng đại quần chúng, Phật đặc biệt dặn dò rằng:

     

      Chánh kinh:

      Ưng đương an trụ như thị biện tài.

      (Hãy nên an trụ trong những biện tài như thế).

 

      Quý vị phải nhớ thật kỹ bốn nguyên tắc này đức Phật đã nói, nhất định phải tuân thủ.

 

      Chánh kinh:

      Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, hữu tín nguyện tâm, đương ư thị nhân nhi sanh Phật tưởng, tác giáo sư tưởng, diệc ư thị nhân, thính thọ kỳ pháp.

      (Nếu hàng thiện nam tử, thiện nữ nhân có tâm tín nguyện thì đối với những người ấy hãy tưởng như đức Phật, tưởng như thầy dạy, và cũng nghe nhận pháp nơi những người ấy).

     

      Ở đây nói về thính chúng. Thính chúng phải có thái độ như thế nào? Người giảng kinh thuyết pháp theo đúng bốn nguyên tắc nói trên, thì ở đây Phật dạy người nghe pháp phải tin tưởng, phải tùy thuận, đối với người thuyết pháp phải tôn kính, coi người thuyết pháp ấy như Phật, bởi lẽ người ấy thăng tòa thuyết pháp chính là thay đức Phật giảng kinh. Tâm cung kính một phần, được lợi ích một phần. Cung kính mười phần, được lợi ích mười phần!

Bởi thế cung kính, nói thật ra chẳng phải là để cung kính người giảng kinh ấy, mà là để đem lòng cung kính của chính mình biểu hiện ra. Cung kính là tánh đức, là lương tri lương năng nơi Chân Như bản tánh, dùng đó để dẫn khởi ra mà thôi! “Tác giáo sư tưởng” là coi người thuyết pháp như vị thầy dạy của mình. “Cũng nghe nhận pháp nơi những người ấy” là học tập theo.

 

      Chánh kinh:

      Hà dĩ cố? Thị nhân sở thuyết, đương tri như thị nhất thiết Như Lai chi sở tuyên thuyết, nhất thiết chư Phật thành thật chi ngữ.

      (Vì sao vậy? Nên biết là những điều người ấy nói giống như là lời hết thảy chư Phật tuyên nói, như lời thành thật của hết thảy chư Phật)

     

      Những người ấy y chiếu kinh giáo để tuyên thuyết, chẳng lầm lạc. Câu nào cũng đều chẳng lìa khỏi ý kinh. Ý nghĩa kinh văn là lời thành thật của Như Lai, họ cũng chẳng giảng lầm. Đoạn kinh này đức Phật dạy ta tâm tư và thái độ nghe pháp trong lúc người khác thuyết pháp. Nếu chúng ta tu học như pháp, chúng ta sẽ đạt được lợi ích chân thật nơi Phật pháp.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Nhược hữu phỉ báng thử tứ biện tài.

(Này Di Lặc! Nếu có kẻ phỉ báng bốn biện tài này).

 

      Đây là nói về mặt tương phản. Đích xác là trong lúc ấy thường phát sanh những sự việc như sau: Có kẻ phỉ báng bốn thứ thuyết pháp “tương ứng lợi ích, tương ứng với pháp, tương ứng với diệt sạch phiền não, tương ứng với công đức Niết Bàn” ấy. Kẻ nào phỉ báng vậy? Đương nhiên là ma rồi! Chúng nói bốn nguyên tắc ấy chẳng phải do Phật nói.

 

      Chánh kinh:

      Ngôn phi Phật thuyết, bất sanh tôn trọng, cung kính chi tâm. Thị nhân dĩ oán tắng cố.

      (Nói những pháp đó chẳng phải do Phật nói, chẳng sanh tâm tôn trọng cung kính. Người ấy do vì oán ghét)

 

      “Oán” là ôm lòng hờn, “tắng” là ghét hận.

 

      Chánh kinh:

      Ư bỉ nhất thiết chư Phật Như Lai sở thuyết biện tài, giai sanh phỉ báng. Phỉ báng pháp dĩ, tác hoại pháp nghiệp.

      (Đối với những biện tài được hết thảy chư Phật Như Lai nói ra đó đều sanh phỉ báng. Phỉ báng pháp xong bèn gây nghiệp hoại pháp).

     

      “Hoại pháp nghiệp” là phá hoại Phật pháp.

 

      Chánh kinh:

      Tác hoại pháp dĩ, đương đọa ác đạo.

      (Phá hoại pháp rồi sẽ đọa ác đạo).

     

      Ở đây kinh giảng rất rõ rệt, nhất định phải đọa địa ngục A Tỳ. Điều này so với chuyện đức Phật nói ở phần đầu kinh này chẳng khác gì.

 

      Chánh kinh:

      Thị cố Di Lặc! Nhược hữu tịnh tín, chư thiện nam tử, vị dục giải thoát phỉ báng chánh pháp nghiệp nhân duyên giả, bất dĩ tắng tật nhân cố, nhi tắng tật ư pháp, bất dĩ nhân quá thất cố, nhi ư pháp sanh quá, bất dĩ ư nhân oán cố, nhi ư pháp diệc oán.

      (Bởi thế nên Di Lặc! Nếu những kẻ thiện nam tử lòng tin trong sạch, vì muốn được thoát khỏi nhân duyên của nghiệp phỉ báng chánh pháp thì chẳng vì ghen ghét người mà ghen ghét pháp, chẳng vì người có lầm lỗi mà tạo lỗi với pháp, chẳng vì oán người mà oán lây cả pháp).

     

      Đoạn khai thị này rất trọng yếu. Trước kia, ta chưa được nghe chánh pháp, đã tạo tội nghiệp phỉ báng Tam Bảo, hãy suy nghĩ xem bản thân chúng ta có làm như vậy hay là không? Nếu là có, hôm nay đọc đến bộ kinh này, nghe đến Phật pháp này, bản thân tỉnh ngộ rồi, muốn sám hối tội nghiệp của chính mình thì có cách nào hay không? Những điều Phật dạy ở đây chính là dạy chúng ta phương cách ấy. Nếu chúng ta đã từng hữu ý hoặc vô ý phỉ báng Phật pháp (tội nghiệp báng pháp rất nặng nề lắm đấy!) mà biết giác ngộ, hồi đầu thì vẫn là thiện nam tử, vẫn là thiện nữ nhân vậy! Rốt cuộc quý vị vẫn là người thiện căn sâu dày, cho nên mới nói “vì muốn thoát khỏi nhân duyên của nghiệp phỉ báng chánh pháp”.

Quá khứ đã từng phỉ báng chánh pháp, hiện tại muốn giải thoát, giải trừ tội nghiệp ấy để khỏi đọa vào địa ngục, thì ở đây Phật dạy chúng ta hãy “chẳng vì ghen ghét người mà ghen ghét pháp”. Chẳng những mình đức Phật dạy chúng ta như vậy, vào thời xa xưa ở Trung Quốc, cổ thánh tiên hiền cũng dạy chúng ta như vậy, tức là “chẳng giận lây” đấy! Ở đây Phật dạy chúng ta đừng giận lây đó! Đừng chồng thêm lỗi lầm! Chúng ta chán ghét người nào, nếu như pháp người ấy nói là chánh pháp, chẳng phải là tà pháp, thì chẳng vì ta ghét kẻ ấy mà cũng ghét lây luôn pháp ấy. Chẳng vì kẻ ấy có lỗi lầm, ta bèn cho rằng pháp của họ cũng có lỗi lầm. Hành động như vậy là sai rồi.

Vì thế người nào ta ghét, dù hắn có lầm lỗi, hắn có khuyết điểm, ta cũng vẫn chú tâm nghe pháp để xem hắn giảng có lầm lỗi hay không. Nếu pháp kẻ ấy thuyết đúng là chánh pháp, ta phải học theo, chẳng cần phải học theo cách kẻ ấy cư xử. Nghe kẻ ấy thuyết pháp, ta học theo pháp của kẻ ấy thôi! Vì thế, “chẳng vì oán người khác mà oán lây cả pháp”. Vì oán ghét kẻ ấy bèn phỉ báng pháp thì chính là lầm lẫn vô cùng lớn. Phật dạy chúng ta nếu quá khứ từng hữu ý hoặc vô ý phỉ báng Tam Bảo, chúng ta bèn dùng điều dạy này để quán niệm đổi lỗi thì đó là bước thứ nhất để sám hối vậy!

 

6.5. Có bốn biện tài (thế trí biện tài) bị hết thảy chư Phật ngăn cấm

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Vân hà danh vi tứ chủng biện tài, nhất thiết chư Phật chi sở giá chỉ?

      (Này Di Lặc! Thế nào gọi là bốn thứ biện tài bị hết thảy chư Phật ngăn cấm?)

 

      Đây là bốn thứ biện tài Phật chẳng hứa khả, Phật quyết định chẳng tán thành. Bốn thứ biện tài này chẳng được chư Phật, Bồ Tát dùng đến, bốn thứ biện tài này tương phản khít khao với bốn thứ biện tài ở phần trước.

 

      Chánh kinh:

      Sở vị: phi lợi ích tương ưng, bất dữ lợi ích tương ưng.

      (Chính là: tương ứng với không lợi ích, chẳng tương ứng với lợi ích).

 

      Điều thứ nhất, những điều kẻ ấy nói ra tuyệt đối chẳng có lợi ích gì. Chẳng có lợi ích gì sao lắm người tin đến thế? Vì sao có lắm người học theo kẻ ấy? Như tôi vừa mới nói, lợi ích đó rất nông cạn, rất ngắn ngủi (nói trên phương diện thời gian thì rất ngắn ngủi, tạm bợ), là lợi ích rất nhỏ, nhưng phải đổ sức rất nhiều, đời sau quyết định chẳng được lợi ích, những đời sau chẳng cần phải nói đến nữa. Đây là tương ứng với chẳng lợi ích, chẳng tương ứng với lợi ích. Điều thứ hai là:

     

      Chánh kinh:

      Phi pháp tương ưng, bất dữ pháp tương ưng.

      (Tương ứng phi pháp, chẳng tương ứng với pháp)

 

      Nhất định mâu thuẫn với lý luận, phương pháp, cảnh giới đức Phật đã nói, chẳng giống với điều đức Phật dạy. Điều thứ ba là:

 

      Chánh kinh:

      Phiền não tương ưng, bất dữ phiền não diệt tận tương ưng.

      (Tương ứng phiền não, chẳng tương ứng với diệt sạch phiền não)

 

      Nếu quý vị chẳng nghiên cứu Phật pháp sâu xa, quý vị sẽ chẳng biết là kẻ ấy có giảng như pháp hay không, ở đây, ta có thể kiểm nghiệm điều này rất dễ dàng. Quý vị tu học theo kẻ ấy thấy nhiều phiền não hơn thì là “phiền não tương ưng”. Những điều kẻ ấy đề xướng là tăng trưởng tham, sân, si, mạn, nghi, chẳng phải là đoạn trừ tham, sân, si, mạn, nghi. Dẫu cho kẻ ấy nói nghe rất hay là: “Chúng ta sẽ ở trong phiền não mà đoạn được phiền não”, quý vị có đoạn được phiền não hay không? Trong phần sau, Di Lặc Bồ Tát có nêu câu hỏi về vấn đề này. Bởi lẽ, khi đức Phật dạy các Pháp Thân đại sĩ đại Bồ Tát những lời nào, kẻ ấy đều học theo, học xong rồi bèn giả mạo Phật pháp, khinh dối chúng sanh, quý vị học theo kẻ ấy thì phiền não ngày càng tăng trưởng, tâm quý vị chẳng thể thanh tịnh nổi! Cho nên, kẻ ấy “chẳng tương ứng với diệt hết phiền não” vậy! Điều thứ tư là:

     

Chánh kinh:

      Sanh tử tương ưng, bất dữ Niết Bàn công đức tương ưng.

      (Tương ứng với sanh tử, chẳng tương ứng với công đức Niết Bàn).

 

      Kẻ ấy cùng quý vị tương ứng với sanh tử, đời sau vẫn phải tiếp tục luân hồi chẳng dứt. Đấy chẳng phải là điều Phật nói. Phải nhớ kỹ điều này nhé! Có pháp sư chẳng những dạy tín đồ như thế, mà chính pháp sư ấy cũng phát nguyện như thế này: chẳng cầu liễu sanh tử, chẳng cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Họ cầu điều gì? Họ muốn đời đời kiếp kiếp làm pháp sư. Họ đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn mà! Chúng sanh trong thế gian này quá khổ nên họ lai sanh chuyển thế vẫn muốn sẽ làm pháp sư.

Nói nghe rất hay, nhưng đời sau quý vị có làm nổi thân người hay không? Nếu chẳng được thân người cũng tốt thôi, cứ cho là quý vị vẫn làm pháp sư đi! Sẽ làm pháp sư trong đường súc sanh, làm pháp sư trong đường ngạ quỷ, trong địa ngục không có pháp sư, rốt cuộc quý vị vào đường nào đây? Nhất định đó chẳng phải là điều đức Phật nói. Khởi tâm động niệm như vậy, quyết định chẳng phải là đệ tử Phật, hoàn toàn trái nghịch lời Phật răn dạy.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Thị vi nhất thiết chư Phật chi sở giá chỉ tứ chủng biện tài.

      (Này Di Lặc! Đấy là bốn thứ biện tài bị hết thảy chư Phật ngăn cấm)

 

      Bốn thứ biện tài vừa nói trên hoàn toàn bị Phật cấm chỉ, tuyệt đối chẳng phải là pháp Phật nói, cũng tuyệt đối chẳng phải là điều đệ tử Phật nói. Dưới đây, Di Lặc Bồ Tát thay chúng ta nêu lên một nghi vấn, chúng ta phải chú ý lắng nghe.

 

      Chánh kinh:

      Nhĩ thời Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

      - Thế Tôn! Như Phật sở thuyết, nhược hữu biện tăng trưởng sanh tử, phi chư Như Lai chi sở tuyên thuyết.

      (Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

      - Bạch đức Thế Tôn! Như Phật đã nói: nếu có biện tài nào tăng trưởng sanh tử thì nó chẳng phải là điều được các Như Lai tuyên nói)

     

      Quý vị xem: đức Phật dạy bốn câu, mà Di Lặc Bồ Tát chỉ lấy một câu để hỏi là vì câu này rõ rệt, dễ kiểm nghiệm nhất.

 

      Chánh kinh:

      Vân hà Thế Tôn thuyết chư phiền não năng vi Bồ Tát lợi ích chi sự? Hựu phục xưng tán nhiếp thủ sanh tử, nhi năng viên mãn Bồ Đề phần pháp?Như thị đẳng biện, khởi phi Như Lai chi sở tuyên thuyết da?

      (Vì sao đức Thế Tôn nói các phiền não có thể biến thành những điều lợi ích cho Bồ Tát? Vì sao lại khen ngợi: nhiếp thủ sanh tử bèn có thể viên mãn pháp Bồ Đề phần? Những câu nói như vậy há có phải là do đức Như Lai tuyên thuyết chăng?)

 

      Lời hỏi này rất hay, tựa hồ những điều đức Phật vừa giảng ở trên hoàn toàn mâu thuẫn vậy. Ý nghĩa của câu hỏi này là: Chúng ta thường nghe nói “phiền não tức Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn”. Do phiền não tức Bồ Đề nên chẳng cần phải đoạn phiền não, vì phiền não đã là Bồ Đề rồi mà! Sanh tử tức Niết Bàn nên bất tất phải liễu sanh tử. Những câu nói ấy có phải do đức Phật nói ra hay không? Đích thật Phật đã nói thế! Nhưng quý vị phải hiểu là những điều ấy Phật chẳng nói với kẻ sơ học; Phật nói những điều ấy với ai? Nói với hàng Pháp Thân đại sĩ.

Quý vị hãy thử hỏi mình có phải là Pháp Thân đại sĩ hay không? Pháp Thân đại sĩ là bậc đã đoạn sạch Kiến phiền não, đoạn sạch Trần Sa phiền não, phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Với người như vậy, đức Phật mới dạy “phiền não tức Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn”. Có lẽ quý vị đã từng nghe nói “nhập bất nhị pháp môn”. Đấy chẳng phải là cảnh giới của hàng sơ học, mà là cảnh giới của ai? Tối thiểu phải là hạng như Lục Tổ Huệ Năng đại sư bên Thiền tông, đức Phật mới nói pháp như thế, đó gọi là “pháp bất nhị”.

Nếu quý vị dùng cách thức này để nhận định lời đối đáp giữa Lục Tổ và Ấn Tông trong Pháp Bảo Đàn Kinh, quý vị sẽ thấy rất rõ. Hai người họ gặp nhau lần đầu ở chỗ nay là chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu, vừa nêu chuyện gió động hay phan động, ngài Ấn Tông liền biết Tổ là truyền nhân của Ngũ Tổ đại sư, đối với Tổ bèn cung kính, lễ ngộ phi thường, thỉnh giáo Tổ:

      - Ngài ở Hoàng Mai thường nghe Ngũ Tổ khai thị, Ngũ Tổ có giảng Thiền Định, giải thoát hay chăng? Ngài giảng như thế nào?

      Huệ Năng đại sư chẳng đáp trực tiếp, Ngài chỉ nói:

      - Thiền Định, giải thoát là hai pháp. Phật pháp là pháp bất nhị. Hai pháp chẳng phải là Phật pháp, vậy thì thầy muốn gì?

      Sanh tử và Niết Bàn là hai pháp. Hai pháp chẳng phải là Phật pháp. Phật pháp là pháp bất nhị. Phiền não và Bồ Đề cũng là hai pháp, hai pháp bèn chẳng phải là Phật pháp. Đấy là đối với Pháp Thân đại sĩ mà nói, chẳng phải nói với những người bình phàm. Chúng ta là phàm phu nghiệp chướng, phiền não sâu nặng, làm sao có thể học đòi các vị ấy cho được? Phật chẳng hề nói sai, chỉ là chúng ta chẳng hiểu ý Phật, chẳng rõ ý Phật. Ở đây, Di Lặc Bồ Tát nêu lên một vấn đề trọng yếu phi thường để cho chúng ta chẳng bị mê hoặc bởi những tà sư trong thời kỳ Mạt Pháp.

Lúc tôi còn đang học Phật, xuất gia hai năm bèn thọ giới. Thọ giới xong tôi ở tại chùa Hương Vân tại Đại Khê, lúc ấy chùa Hương Vân hoang tàn đổ nát, chẳng giống như bây giờ, hiện thời chùa rất đẹp đẽ. Không ai quản lý ngôi chùa hư nát, tôi bèn trụ tại đó, sanh sống gian khổ vô cùng. Tôi giảng kinh tại miếu Quan Đế ở Đại Khê. Mỗi Chủ Nhật giảng hai lượt, nhận lấy chút cúng dường để duy trì cuộc sống. Lúc ấy, trong chùa có năm người sống. Ở Đại Khê có chùa Trai Minh, Khuyết Thượng Sư truyền Mật Pháp ở đây, phái người tới báo tin với chúng tôi, hy vọng năm người bọn tôi sẽ đến lễ ông ta làm thầy, theo ông ta học Mật. Ông ta đề ra một điều kiện: Chu cấp mỗi người trong bọn tôi ba trăm đồng tiền chi dụng hằng tháng. Lúc ấy, Trụ Trì lão hòa thượng (ngài đã mất rồi) nghe nói vậy rất cao hứng: “Chúng ta mỗi tháng có một ngàn năm trăm đồng thu nhập”. Lúc đó, một ngàn năm trăm đồng có giá lắm nghe!

Sự việc này xảy ra gần ba mươi năm trước. Hòa Thượng bèn gọi mấy người chúng tôi lại, nói Thượng Sư có hảo ý như thế đó, muốn thâu thập bọn tôi. Tôi nghe xong, trước đây vốn rất tôn kính vị Thượng Sư ấy, nay vì cử chỉ này, tôi hết còn tâm tôn kính Thượng Sư nữa. Vì thế, tôi nói với mấy người trong miếu rằng: “Nếu như chúng ta đến bái ông ấy làm thầy, muốn theo ông ấy học pháp, ổng chỉ dùng một chân đá chúng ta văng ra, tôi sẽ phục lắm, ông ta thật sự là Thượng Sư. Nay mình chẳng đến cầu ổng, ổng lại đem lợi nhử mình, dụ dỗ mình tới, mấy người bọn ta chỉ đáng ba trăm đồng ư? Ba trăm đồng là tiền bán thân khuất mình đấy!” Từ đấy về sau mấy người đó chẳng dám nói gì nữa. Quý vị phải biết là Mật là Phật pháp tối thượng thừa, chúng ta có tư cách để học Mật hay chăng? Chúng tôi đã tự vấn: Mình chẳng hề có tư cách.

      Vị thầy dạy tôi học Phật đầu tiên là Chương Gia đại sư. Ngài là bậc đại đức trong Mật Tông; bởi thế tình hình trong Mật giáo tôi được biết khá nhiều. Nếu đem Phật giáo so sánh với trường học thì Mật là viện nghiên cứu, là phân ban tiến sĩ. Chúng tôi là trình độ nào? Chưa đạt trình độ tiểu học. Khuyết Thượng Sư cứ kêu chúng tôi học ban tiến sĩ, đem học vị tiến sĩ cấp cho chúng tôi, thì đương nhiên là giả, chẳng phải thật rồi! Ông ta lừa dối ai còn được, chứ lừa dối tôi thì đừng hòng!

      Đoạn kinh trên đây là nói đến sự việc ấy. Trong xã hội ngày nay, có quá nhiều sự việc mê hoặc con người, chẳng hạn như “tức thân thành Phật” (thành Phật ngay trong thân này). Quý vị có thành Phật được chăng? Nói thật ra, tức thân đọa địa ngục thì có, chứ nào có tức thân thành Phật! Cần phải biết Mật là gì? Mật là ai làm được tiêu chuẩn “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng” đã dạy trong kinh Kim Cang thì mới có tư cách học được. Phải như vậy mới có thể chẳng cần đoạn phiền não. Vì sao chẳng đoạn phiền não? Chẳng có phiền não ư? Vì sao chẳng cần? Bồ Đề cũng chẳng có chăng? Phiền não, Bồ Đề đều chẳng thể được! Nhập vào cảnh giới ấy, há có phải là cảnh giới của phàm phu bọn ta ư? Bởi thế, xác thực là quý vị đều phải đoạn trừ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì quý vị mới có tư cách học Mật. Nếu quý vị vẫn còn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quý vị còn chẳng đạt được lợi ích nơi Hiển Giáo, với Mật Giáo bất tất phải nói đến nữa!

      Mật Tông hay nói: Chẳng học Mật chẳng thể thành Phật. Câu nói này đúng hay sai? Đúng, chẳng sai tí nào! Mỗi cá nhân đều phải học Mật thì quý vị mới có thể thành Phật. Lúc nào mới học Mật được? Khi quý vị đã là Bát Địa Bồ Tát. Tương lai quý vị chứng Bát Địa rồi, đức Phật bèn dạy quý vị pháp môn ấy, còn hiện tại quý vị là Bồ Tát thuộc địa nào? Bát Địa Bồ Tát gọi là Bất Động Địa, cho nên ngàn vạn phần chẳng bị người khác lừa dối. Thầy tôi Chương Gia Đại Sư rất tốt! Tôi theo Ngài học ba năm, Ngài chẳng truyền Mật giáo cho tôi vì tôi chẳng có tư cách. Tôi là kẻ mới bắt đầu học. Ngài dạy tôi những gì? Ngài dạy tôi lấy Giới Luật làm nền tảng, Mật pháp kiến lập trên nền tảng Hiển Giáo. Hiển Giáo kiến lập trên nền tảng Giới Luật. Bởi thế, Ngài là một vị thầy giỏi thật sự, Ngài dạy cho tôi cơ sở. Hiện tại những kẻ vô trí bị lừa dối, bị mê hoặc có nhiều hay chăng? Vì thế, đoạn kinh văn này đặt ở đây thật là hay. Di Lặc Bồ Tát nêu vấn đề rồi, quý vị hãy xem tiếp đức Thế Tôn dạy chúng ta như thế nào.

 

      Chánh kinh:

      Phật cáo Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát ngôn:

      - Di Lặc! Ngã kim vấn nhữ, tùy nhữ ý đáp.

      (Phật bảo Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát rằng:

      - Này Di Lặc! Ta nay hỏi ông, ông tùy ý đáp).

 

      Phật hỏi ngược lại Di Lặc Bồ Tát, bảo rằng: “Ông cứ tùy ý mà trả lời”.

 

      Chánh kinh:

      Nhược hữu thuyết ngôn: Bồ Tát vị dục viên mãn thành tựu Bồ Đề phần cố, nhiếp thủ sanh tử, hựu phục thuyết ngôn: Dĩ chư phiền não vi lợi ích sự.

      (Nếu có nói rằng: Bồ Tát vì muốn viên mãn thành tựu Bồ Đề phần nên nhiếp thủ sanh tử, lại có nói rằng: Lấy phiền não làm sự lợi ích).

 

      Trong Phật pháp xác thực là có dạy như vậy, nhưng câu tiếp theo đây mới là trọng yếu.

     

Chánh kinh:

      Như thị thuyết giả, vi dữ lợi ích tương ưng? Phi lợi ích tương ưng? Vi dữ pháp tương ưng? Phi pháp tương ưng?

      (Nói như vậy là tương ứng với lợi ích hay chẳng tương ứng với lợi ích? Là tương ứng với pháp hay chẳng tương ứng với pháp?)

 

      Hai câu hỏi này của đức Phật rất hay. Hai câu hỏi ấy như sau:

      - Tương ứng với lợi ích hay không?

      - Tương ứng với pháp hay không?

      Nếu tương ứng thì là Phật nói, nếu không tương ứng, chẳng phải là đức Phật nói.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

      - Thế Tôn! Nhược chánh thuyết giả, tắc dữ nghĩa lợi tương ưng.

      (Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

      - Bạch Thế Tôn! Nếu là chánh thuyết thì sẽ tương ứng với nghĩa lợi)

     

      Tức là tương ứng với lợi ích. “Nghĩa lợi” là lợi ích chánh đáng. Tương ứng với pháp thì có thể khiến cho pháp Bồ Đề phần được viên mãn. Đừng lầm điều này! Đó là Pháp Thân đại sĩ đấy! Nói với họ như vậy thì là chánh thuyết.

 

      Chánh kinh:

      Phật ngôn: “Di Lặc! Nhược thuyết Bồ Tát vị dục viên mãn Bồ Đề phần, cố nhiếp thủ sanh tử”.

      (Phật nói: “Này Di Lặc! Nếu nói Bồ Tát vì muốn viên mãn Bồ Đề phần mà nhiếp thủ sanh tử”)

 

      Như trong kinh Địa Tạng, Địa Tạng Bồ Tát nói: “Ta chẳng vào địa ngục, ai vào địa ngục”. Địa Tạng Bồ Tát làm được! Ta nghe nói vậy cũng phát khởi tâm đại từ đại bi, theo gót Địa Tạng Bồ Tát vào địa ngục là xong rồi, hoàn toàn lầm mất rồi! Vì thế, đó đều là những việc thuộc quả địa của chư Phật Như Lai, phàm phu chúng ta chẳng có năng lực ấy.

 

      Chánh kinh:

      Thuyết chư phiền não năng vi Bồ Tát lợi ích chi sự, như thị biện tài, chư Phật Như Lai chi sở tuyên thuyết. Hà dĩ cố? Di Lặc! Thử chư Bồ Tát đắc pháp tự tại.

      (Nói các phiền não có thể làm thành sự lợi ích cho Bồ Tát, biện tài như vậy được chư Phật Như Lai tuyên nói. Vì sao thế? Này Di Lặc! Các Bồ Tát ấy được tự tại nơi pháp).

 

      Quý vị xem: Phật nói những pháp ấy là nói với những vị Bồ Tát được tự tại nơi pháp. Nếu ai đối với pháp vẫn chẳng được tự tại thì Phật quyết định chẳng nói những pháp ấy. Những Bồ Tát nào được tự tại nơi pháp? Là Pháp Thân đại sĩ, cũng chính là người nhập Bất Nhị pháp môn. Những vị này, mức độ thấp nhất là đã phá được một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Những điều đức Phật dạy họ chẳng giống với những điều Phật dạy cho hạng sơ học chúng ta. Quý vị xem nhé:

 

      Chánh kinh:

      Sở khởi phiền não, vô hữu quá thất.

      (Khởi lên phiền não, chẳng có lầm lỗi)

 

      Các vị ấy hiển hiện phiền não, nhưng phiền não ấy chẳng có lầm lỗi, là vì sao? Tâm các Ngài thanh tịnh, tâm rất tự tại! Nói cách khác, đối với các vị Pháp Thân đại sĩ ấy, phiền não tức Bồ Đề, các vị dùng phiền não làm phương cách độ sanh. Chúng ta xem trong kinh Hoa Nghiêm, phần năm mươi ba lần tham học, thấy Cam Lộ Hỏa Vương dùng nóng giận để độ chúng sanh; nóng giận là đại phiền não đấy nhé! Ngài hiện vẻ nóng giận, nhưng tâm Ngài thanh lương tự tại, một phiến từ bi. Điều này chúng ta rất khó lý giải nổi!

Quý vị nghĩ xem: Cha mẹ giáo huấn con cái mình, có lúc đánh, có lúc chửi, có lúc mặt mũi rất khó coi, là vì sao? Là vì yêu thương, che chở con mình đấy chứ! Là để dạy con thành người đấy chứ! Chứ nào phải là giận dữ thật sự đâu! Cha mẹ dùng phương cách ấy đối với con cái mình, sao không dùng phương cách ấy đối với con cái người khác? Là vì yêu thương, gìn giữ vậy! Con cái người khác chẳng ăn nhập gì đến mình, cho nên thường tươi cười đó mà! Quý vị đối chiếu những điều được nói trong đoạn kinh này với kinh Hoa Nghiêm, thấy rất thú vị! Bởi lẽ đó, các Ngài khởi lên phiền não, nhưng không có lầm lỗi!

 

      Chánh kinh:

      Thị vi Bồ Tát thiện xảo phương tiện, phi chư Thanh Văn, Duyên Giác cảnh giới.

      (Đấy là phương tiện hay khéo của Bồ Tát, chẳng phải là cảnh giới của Thanh Văn, Duyên Giác).

 

      Chẳng phải là cảnh giới của Thanh Văn, A La Hán, Bích Chi Phật, các vị ấy chẳng làm được! Các vị ấy còn chẳng làm được, phàm phu chúng ta làm sao nổi? Nhất định phải biết điều này. Chúng ta phải biết, phải hiểu rõ Phật pháp ở mức độ cao, nhưng quyết định chẳng học đòi các Ngài ấy được, đó chẳng phải là cảnh giới ta làm được!

     

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Nhược hữu phiền não, bất năng vị tha tác lợi ích sự, diệc bất năng viên mãn Bồ Đề phần pháp, nhi phát khởi giả, bất dữ nghĩa lợi tương ưng, bất dữ pháp tương ưng, đản vi hạ liệt thiện căn nhân giả, Bồ Tát ư trung ninh xả thân mạng, diệc bất tùy bỉ phiền não nhi hành.

      (Này Di Lặc! Nếu có phiền não, chẳng thể vì người khác làm điều lợi ích, cũng chẳng thể viên mãn pháp Bồ Đề phần, mà phát khởi, chẳng tương ứng với nghĩa lợi, chẳng tương ứng với pháp, chỉ làm thành nhân thiện căn hèn kém, thì Bồ Tát thà xả thân mạng chứ chẳng hành theo những phiền não đó).

     

      Đoạn khai thị này khẩn yếu phi thường. Nếu bây giờ có ai nói với ta những điều [chẳng tương ứng với lợi ích, chẳng tương ứng với pháp] như thế đó, ta chẳng được tùy thuận theo. Nếu quý vị tùy thuận theo lời ấy, nói cách khác là quý vị tùy thuận làm ác, quý vị sẽ đọa tam đồ đấy! Nếu là bất đắc dĩ, trong tâm mình phải minh bạch, phải chân chánh sám hối, thiện thì ta tùy thuận theo, ác bèn chẳng tùy thuận. Lúc quý vị tùy thuận, bèn là “chẳng làm thành nhân duyên thiện căn hèn kém”, “hạ liệt” (hèn kém) là tam đồ ác đạo! Một đệ tử Phật chân chánh, một Bồ Tát chân chánh tu hành bèn thà xả thân mạng, chứ chẳng thể tùy thuận phiền não mà hành!

     

      Chánh kinh:

      Hà dĩ cố? Di Lặc! Hữu dị Bồ Tát đắc trí lực cố, ư chư phiền não hiện hữu phan duyên.

      (Vì sao thế? Này Di Lặc! Có Bồ Tát khác do đắc trí lực nên đối với các phiền não bèn hiện có vin nắm).

 

      Đây là nói các Pháp Thân đại sĩ, các Ngài thị hiện. Các vị “Bồ Tát khác” ấy là những vị Bồ Tát tâm đã thanh tịnh, giống như trong kinh Vô Lượng Thọ nói là “thanh tịnh bình đẳng giác”, tâm các Ngài thật sự đạt được tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, trong hết thảy cảnh duyên chỉ giác chứ không mê. Các vị Bồ Tát ấy có trí huệ, trí huệ Bát Nhã hiện tiền. “Đối với các phiền não bèn hiện có vin nắm” là vì lợi ích chúng sanh, các Ngài bèn dùng những thủ đoạn, cho nên chẳng có lỗi lầm gì! Các Ngài làm được, ta không làm được đâu!

      Trong lịch sử, cũng như trong phim ảnh hiện tại, các vị đã từng xem truyện Tế Công, Tế Công ưa uống rượu, Ngài có vì rượu mà làm bậy hay không? Ngài có uống đến say khướt hay chăng? Chẳng hề có! Cận đại, chúng ta biết đến vị Phật sống chùa Kim Sơn: Năm Dân Quốc thứ nhất (1911), Diệu Thiện pháp sư ở chùa Kim Sơn, Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, hành vi cũng chẳng khác Tế Công mấy tí, chẳng khác gì nhau, cũng lôi thôi nhếch nhác. Ngài ăn uống, sanh hoạt đi đứng vô cùng tùy tiện, chẳng có chút câu thúc nào, nhưng người học Phật chúng ta chẳng học theo được. Quý vị xem Ngài ăn cơm, ăn hai, ba mươi chén không hề chi, mấy ngày chẳng ăn cơm cũng chẳng việc gì. Tại Đài Loan có một vị pháp sư theo dõi Ngài rất kỹ, theo dõi những việc Ngài đã làm, đó là pháp sư Lạc Quán. Sư viết thành cuốn sách Kim Sơn Hoạt Phật Truyện Ký. Có bữa Ngài ép pháp sư Lạc Quán ăn cơm, cứ từng chén, từng chén ép ăn, pháp sư Lạc Quán vô tình ăn hết mười chén cơm, đó là do sức gia trì của Ngài vậy.

      Pháp sư Lạc Quan từng hỏi Ngài: “Ăn nhiều vậy sao chẳng bị no căng bụng?” Ngài đáp: “Ông chưa nghe nói trong Phật pháp chẳng tăng chẳng giảm ư?” Bất tăng bất giảm là chuyện của người ta, ta chẳng học được, ta bắt chước Ngài chắc chắn sẽ sanh bệnh. Ngài làm được chuyện chẳng tăng chẳng giảm: ăn nhiều vẫn chẳng tăng, không ăn vẫn chẳng giảm. Ngài có năng lực ấy, những người tầm thường chúng ta chẳng học đòi được đâu! Câu tiếp theo là:

 

      Chánh kinh:

      Hữu dị Bồ Tát, vô trí lực cố.

      (Có Bồ Tát khác, vì không trí lực)

 

      Không có trí huệ, không có thần thông đạo lực, đây cũng là nói có một hạng Bồ Tát có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

 

      Chánh kinh:

      Ư chư phiền não, tăng thượng chấp trước.

      (Với các phiền não, chấp trước tăng mạnh mẽ thêm).

 

      Lúc quý vị muốn học theo như thế, phiền não sẽ càng tăng thêm. Điều khai thị trong đoạn này cực trọng yếu, trong xã hội hiện tại của chúng ta, ở bất cứ địa phương nào cũng đều thấy có hiện tượng này. Chính mình phải minh bạch, phải hiểu rõ ràng.

     

(1) Tử tâm: ý nói tâm chuyên dốc vào một việc niệm Phật, dứt bặt mọi ý niệm vọng cầu khác, giống như cõi lòng đã chết, đã nguội lạnh đối với những gì phù phiếm, viển vông.

(2) Đây là một thành ngữ hàm nghĩa chỉ nêu những điểm chính, như người học võ giao đấu để ấn chứng trình độ, không quyết chí sát phạt. Ở đây, Hòa Thượng chỉ gợi ý những điểm chính để thính chúng tự lãnh hội, không thể nói huỵch toẹt ra hết, kẻo đụng chạm.