QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KÝ

Phần 1

Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Diễn Bồi

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

 

Dẫn Nhập

 

      Có lẽ đối với những Phật tử Hoa Kiều tại Việt Nam, đặc biệt là những người sống ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, phương danh ngài Diễn Bồi là một tên tuổi quen thuộc. Đại sư từng qua Việt Nam hoằng pháp nhiều lần; hầu hết các kinh sách quan trọng của Đại Thừa Ngài đã đều giảng qua. Khi còn ở Việt Nam, mạt nhân từng được thấy nhiều bản Giảng Ký của Ngài được lưu truyền tại các chùa Tàu; nhưng chưa đủ thiện duyên đọc đến.

Lần đầu tiên, mạt nhân được biết tên tuổi của Ngài là vào năm 1986. Trong một lần đến chùa Dược Sư (quận Bình Thạnh) thỉnh kinh, lục lạo trong đống kinh sách cũ, vô tình mạt nhân tìm được cuốn A Di Đà Kinh Giảng Ký của pháp sư Thích Diễn Bồi. Giở xem thấy văn phong khá giản dị, đủ để một người vốn liếng chữ Hán nhấp nhem như mạt nhân khi đó hiểu được dễ dàng ý tác giả qua vài trang sách đầu tiên. Thế là với bản giảng kinh ấy, mạt nhân có dịp tập tành luyện đọc văn Bạch Thoại. Càng đọc càng thấy những lời giải thích của Ngài tuy giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn thâm trầm, hàm súc, có thể nói không quá đáng là lời giảng của Ngài rất lợi lạc cho mọi tầng lớp người đọc, nhất là hạng hành nhân sơ cơ. Từ nhân duyên đặc biệt ấy, mạt nhân tâm nguyện bất cứ khi nào mình có được một bản giảng kinh nào của Ngài, sẽ cố gắng dịch sang tiếng Việt.

Đến năm 2003, mạt nhân lại được đọc bản Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Giảng Ký của Ngài qua tài phiên dịch tuyệt vời của Hòa Thượng Trí Minh, mạt nhân càng khâm phục tài giảng kinh của Pháp Sư Diễn Bồi hơn nữa. Điều đáng mừng là bản dịch quý giá này của Hòa Thượng Trí Minh đã được các trang nhà Phật giáo đón nhận nồng nhiệt và đăng tải rộng rãi.

Xảo hợp sao, mùa Thu năm nay, trong những sách vở được Tịnh Tông Học Hội gởi cho, mạt nhân thấy có cuốn Phổ Môn Phẩm Giảng Ký này. Thế là chẳng nệ kiến thức chắp vá, chữ nghĩa vụng về, mạt nhân hăm hở dịch ra tiếng Việt, ngõ hầu giới thiệu một tác phẩm đặc sắc khác của lão pháp sư, với ý nguyện đền đáp chút ân pháp nhũ của bậc ân sư mình chưa bao giờ có dịp hội ngộ. Chỉ dám hy vọng bản chuyển ngữ này chẳng đến nỗi diễn tả sai lạc hoàn toàn ý nghĩa những lời giảng thâm diệu của Ngài.

Nếu việc chuyển ngữ liều lĩnh này có chút phần lợi lạc thì xin trên hồi hướng công đức về ân sư Thích Diễn Bồi, bổn sư Thích Giải Thắng và lịch đại phụ mẫu, sư trưởng, dưới hồi hướng cho hết thảy u hiển hữu tình cùng được vãng sanh Cực Lạc.

 

Tiểu sử lão pháp sư

Thích Diễn Bồi

(1917-1996)

Cư sĩ Vu Lăng Ba soạn

Chuyển ngữ: Như Hòa

     

      Pháp sư Diễn Bồi là vị học giả trứ danh của Phật giáo đương đại. Mấy mươi năm tích cực hoằng pháp các nơi, Sư đã để lại cho đời bộ Đế Quán Toàn Tập vĩ đại. Toàn bộ Đế Quán Toàn Tập hơn bốn mươi quyển, tám trăm vạn chữ, bao quát lý luận các tông phái Tiểu Thừa, Đại Thừa, là tác phẩm Phật học lớn lao hiếm có. Ở đây, tôi xin giới thiệu sự nghiệp hoằng hóa của lão pháp sư Diễn Bồi như sau:

 

1. Xuất gia và tham học:

 

      Pháp sư Diễn Bồi họ Lý, quê ở trấn Thiệu Bá, Dương Châu, tỉnh Giang Tô, sanh năm 1917 (ngày mồng Một Tháng Mười Hai năm Đinh Tỵ, tức năm Dân Quốc thứ sáu). Ngài sanh trong một gia đình nông dân nghèo thuộc Quản Gia Trang tại trấn Thiệu Bá. Cha là Lý Quốc Cư, mẹ họ Ngô, sanh được bốn trai, ba gái, Sư là con út. Anh thứ hai lớn hơn Sư tám tuổi, từ nhỏ đã được gởi vào chùa Quán Âm ở trấn Lâm Trạch, huyện Cao Bưu làm một tiểu sa-di chưa chính thức thế độ xuất gia.

      Năm Sư lên 12 tuổi, người anh hai lên tròn hai mươi tuổi, được sư phụ cho chính thức xuất gia, đồng thời cử hành pháp hội kéo dài bảy ngày. Ngài Diễn Bồi theo cha mẹ đến dự lễ, vị thầy trong chùa rất thích cậu bé, thường hay đem kẹo bánh trái cây cho ăn, cậu cảm thấy trong chùa rất vui, chẳng muốn về nhà nữa, kiên quyết muốn sống trong chùa. Cha mẹ không biết làm sao, đành phải để cậu ở lại đó, hy vọng cậu bé mấy ngày chơi chán sẽ về nhà, nào ngờ cậu bé ở lì luôn trong chùa, không trở về nữa. Chưa đầy một năm sau, cậu xin sư phụ chùa Quán Âm thế độ, nhưng sư phụ sợ cha mẹ cậu không đồng ý nên không chấp thuận. Cậu tự qua am Phước Điền ở thôn kế bên, lễ hòa thượng Thường Thiện xin thế độ, trở thành một tiểu sa-di, pháp danh là Diễn Bồi.

      Lúc còn tại gia, Sư đã học mấy năm ở trường tư, sau khi xuất gia, sư phụ chẳng cho Ngài làm tạp vụ, buộc cậu tiếp tục học hành. Đến năm mười tám tuổi, sư phụ đem Ngài đến viện giới luật Phước Thọ thuộc huyện Bảo Ứng để thọ Cụ Túc Giới. Sau khi thọ giới xong, trở về chùa, sư phụ giao cho Ngài làm Trụ Trì. Ngài Diễn Bồi chẳng muốn ở mãi tại một ngôi chùa nhỏ ở vùng quê, nhất tâm muốn xuất ngoại cầu pháp. Ngài nại cớ về thăm cha mẹ, xin thầy cho về. Về đến nhà rồi, Ngài bèn ngồi thuyền lên Thượng Hải, xin nhập chúng ở chùa Ngọc Phật. Tự viện Ngọc Phật Tự chuyên lo pháp sự kinh sám, đúng là chỗ “ngũ thú tạp cư”; ngài Diễn Bồi ở đó chẳng lâu lại ra đi, xin nhập chúng tại chùa Pháp Tạng. Tình hình ở Pháp Tạng tự cũng chẳng hơn gì Ngọc Phật Tự, sư phải lo chuyện kinh sám cả sáu tháng, dành dụm được chút lộ phí để sang chùa Quán Tông ở Ninh Ba hòng được học hành. Ngài bèn mua vé tàu sang Ninh Ba, vào học tại Giới Đường chùa Quán Tông, tiếp nhận giáo dục Phật giáo căn bản. Đó là cuối Xuân năm 1935, Diễn Bồi tròn hai mươi tuổi.

      Nửa năm sau do thành tích xuất sắc, Sư được đưa lên học chương trình cao cấp của Hoằng Pháp Nghiên Cứu Xã. Hoằng Pháp Xã chỉ chú trọng giảng kinh, chẳng chú trọng soạn thuật; Sư ở chùa đã hơn năm, viết một lá thư không suông, có bạn đồng học bảo Sư: “Thầy muốn học văn tự, tốt nhất là đến Phật Học Viện Mân Nam”. Mùa Hạ năm 1936, Sư quảy tráp sang Hạ Môn, vào học Phật Học Viện Mân Nam. Nhưng mới học ở Mân Nam được nửa năm, do học sinh Dưỡng Chánh Viện của chùa Nam Phổ Đà và học sinh học viện Mân Nam chẳng thuận thảo, có lúc xung đột; bởi vậy, Sư bèn cùng hai bạn đồng học là Diệu Khâm và Đạt Cư chuyển sang học ở Phật Học Viện Giác Luật chùa Giác Luật thuộc huyện Hoài Âm, tỉnh Giang Tô, theo học với pháp sư Đại Tỉnh vào đầu Xuân năm 1937.

      Chẳng lâu sau, do người Nhật Bản nhiều lượt gây chuyện tại Hoa Bắc, chánh phủ tích cực chuẩn bị chiến đấu, triệu tập thanh niên toàn quốc tham gia tập huấn quân sự. Tăng lữ cũng phải tham gia tập luyện trong đội cứu thương. Ngài Diễn Bồi phải trở về huyện Cao Bưu nơi mình xuất gia để tập huấn. Tháng Bảy năm ấy, sự biến Lư Câu Kiều bộc phát, kế đó, cuộc chiến ngày Mười Ba tháng Tám nổ ra ở Thượng Hải, Sư cùng năm sáu vị đồng học theo pháp sư Từ Hàng đang giảng kinh tại Vô Tích sang tỵ nạn tại Hương Cảng, tạm thời ngụ tại tinh xá Di Đà của pháp sư Ưu Đàm. Bọn họ nghe tin đại sư Thái Hư đang trông coi viện Giáo Lý Hán Tạng tại Trùng Khánh, ban giảng huấn giỏi giang, bọn họ rất háo hức muốn tìm đến. Do vậy, đầu năm 1939, ngài Diễn Bồi cùng các bạn đồng học ở Mân Nam là Diệu Khâm, Đạt Cư, Văn Huệ, Bạch Huệ năm người tìm đường sang Việt Nam, theo đường sông, ngồi xe lửa tuyến đường Điền - Việt đến Côn Minh. Khi đó, đại sư Thái Hư đang trụ tích tại Hội Phật Giáo tỉnh Vân Nam ở Thúy Hồ, thành phố Côn Minh. Các thầy yết kiến đại sư. Đại sư bèn vì bọn họ viết thư cho pháp sư Pháp Tôn là quyền viện trưởng viện Giáo Lý Hán Tạng. Tháng Sáu năm đó, năm người từ Côn Minh ngồi xe hơi sang Trùng Khánh, vào học viện Giáo Lý Hán Tạng ở Bắc Bồi.

      Khi ấy, chủ nhiệm giáo vụ của viện Hán Tạng là pháp sư Pháp Phảng yêu cầu họ dùng danh nghĩa sinh viên bàng thính để tự do theo học các khóa học. Đó vốn là chủ ý của Thái Hư đại sư. Đại sư cho rằng trình độ họ chẳng kém, do được tự do chọn lựa khóa giảng sẽ học được nhiều thứ. Bởi thế, họ theo học Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Luận với pháp sư Pháp Tôn, học Câu Xá Luận với pháp sư Pháp Phảng, học Nhiếp Đại Thừa Luận với ngài Ấn Thuận.

 

2. Dạy học kiếm sống

 

      Mùa Thu năm 1941, Thái Hư đại sư sai ngài Diễn Bồi sang thành lập Pháp Vương Học Viện ở chùa Pháp Vương tại huyện Hợp Giang; năm đó ngài Diễn Bồi hai mươi lăm tuổi, tích cực nhận trách nhiệm Giám Học, rất được khen ngợi. Năm Dân Quốc ba mươi tư (1945), công cuộc kháng Nhật thắng lợi; năm Dân Quốc ba mươi lăm (1946), sau tiết Thanh Minh, ngài Ấn Thuận, ngài Diễn Bồi và ngài Diệu Khâm, ba vị kết đoàn theo công lộ Tây Bắc sang miền Đông, đến vùng Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây bèn theo đường sắt Lũng Hải đến tận Khai Phong, dừng chân tại chùa Thiết Tháp, được trụ trì là pháp sư Tịnh Nghiêm tiếp đón. Do đường xa nhọc nhằn, thân thể yếu mệt, ngài Ấn Thuận bèn lưu lại hưu dưỡng ở chùa Thiết Tháp, ngài Diễn Bồi và Diệu Khâm bèn rời Khai Phong sang Thượng Hải trước.

      Trong khi đó, Thái Hư đại sư trụ tích tại chùa Ngọc Phật, hai người đến chùa Ngọc Phật cầu kiến, đại sư bảo: “Hiện có chuyện cần hai thầy làm, hiện thời Hàng Châu thành lập Phật Học Viện Vũ Lâm không có người phụ trách, các thầy nên sang đó chủ trì”. Bởi vậy, hai vị Diễn Bồi, Diệu Khâm bèn sang Hàng Châu. Phật Học Viện Vũ Lâm đặt tại chùa Linh Phong ở Hàng Châu, học tăng hơn ba mươi người. Sau khi khai giảng, ngài Diễn Bồi giảng Câu Xá Luận, ngài Diệu Khâm dạy quốc văn. Ngoài ra, hai vị pháp sư còn giảng về Phật học. Khai giảng chưa đầy một học kỳ, nhận được điện tín từ cố hương Mân Nam yêu cầu trở về, ngài Diệu Khâm xin nghỉ phép về lại Mân Nam lễ tổ thăm mẹ. Phật Học Viện do mình ngài Diễn Bồi duy trì. Sư gởi thư cho đại sư Thái Hư xin cử người khác làm viện trưởng. Về sau, đại sư cử pháp sư Hội Giác làm viện trưởng, để ngài Diễn Bồi được giảm bớt gánh nặng, chuyên đảm trách giáo vụ.

      Đến mùa Đông năm 1948, Ấn Thuận đạo sư nhận lời thỉnh cầu của lão hòa thượng Tánh Nguyện đến chùa Nam Phổ Đà ở Hạ Môn sáng lập Đại Giác Giảng Xã, gởi thơ mời ngài Diễn Bồi và pháp sư Tục Minh sang trước giúp sức. Khi ấy, ngài Diễn Bồi bèn rời Hàng Châu sang Hạ Môn dạy tại Đại Giác Giảng Xã. Sau này, ngọn lửa chiến tranh Quốc - Cộng lan đến Mân Nam, Giảng Xã ngưng hoạt động, pháp sư Diễn Bồi và pháp sư Năng Tuấn sang Hương Cảng trước. Chẳng lâu sau, đạo sư Ấn Thuận và pháp sư Tục Minh cũng theo sang. Người mới đến Hương Cảng chỗ ở bất định, các thầy ba lượt đổi chỗ ở, cuối cùng theo đạo sư Ấn Thuận trú tại Hương Cảng Phật Giáo Liên Hiệp Hội đặt tại hội quán ở eo biển. Ngài Diễn Bồi và pháp sư Tục Minh giảo đính bộ Thái Hư Toàn Thư cho Thái Hư Đại Sư Toàn Thư Xuất Bản Ủy Viên Hội. Họ ở Hương Cảng suốt ba năm, giảo đính được bốn mươi sáu quyển trong tổng số sáu mươi tư quyển của bộ Thái Hư Đại Sư Toàn Thư. Đầu năm 1952, cư sĩ Lý Tử Khoan ở Đài Loan gởi thơ thỉnh ngài Diễn Bồi sang Đài Loan chủ trì Đài Loan Phật Giáo Giảng Tập Hội. Do vậy, tháng Ba năm đó, ngài Diễn Bồi ngồi thuyền sang Đài Loan.

      Đài Loan Phật Giáo Giảng Tập Hội do trụ trì chùa Linh Ẩn ở hồ Thanh Thảo, huyện Tân Trúc là pháp sư Vô Thượng phát tâm, thỉnh pháp sư Đại Tỉnh đứng ra thành lập vào mùa Thu năm 1951 (tức năm Dân Quốc thứ bốn mươi). Giảng Tập Hội đặt tại chùa Linh Ẩn ở Tân Trúc, có hơn bốn mươi hội viên dự hội nghe giảng. Năm 1949, Đại Tỉnh pháp sư đến Đài Loan, mùa Đông năm 1950, mắc bệnh cao huyết áp phải dưỡng bệnh tại Hương Sơn ở Tân Trúc, trong năm đó, vì pháp sư Vô Thượng khẩn khoản, phải gượng mang thân bệnh đứng ra chủ trì Giảng Tập Hội. Ít lâu sau, do cao huyết áp bị trúng phong (stroke), Giảng Tập Hội không người lãnh đạo, phải bị đình đốn, nên mới nghĩ ngài Diễn Bồi là nhân tuyển thích hợp nhất để kế nhiệm. Pháp sư Diễn Bồi nhận lời thỉnh sang Đài Loan.

      Giảng Tập Hội nam nữ học chung, nữ sinh hai mươi mấy vị, nam sinh chỉ có mười mấy người. Do pháp sư Diễn Bồi tuổi còn quá trẻ (ba mươi sáu tuổi), lãnh đạo nữ chúng bất tiện, nên bèn lập riêng phân ban nam nữ. Về sau, chuyển nữ sinh sang Viên Quang Phật Học Viện ở Trung Lịch, ngài Diễn Bồi sang Linh Ẩn lãnh đạo nam chúng. Ngài hòa nhập cùng các học tăng, ngoài việc truyền dạy tri thức và un đúc Phật pháp ra, Ngài đặc biệt chú trọng đức dục, khiến cho danh tiếng của Giảng Tập Hội ngày càng lừng lẫy. Tháng Chạp năm 1956, khóa học tăng đầu tiên tốt nghiệp, trong số đó có các vị như Thánh Ấn, Tu Nghiêm, Thông Diệu v.v… sau này đều thành bậc pháp tướng của Phật môn.

      Năm 1957, đạo sư Ấn Thuận lập Phật Học Viện cho nữ chúng tại chùa Nhất Đồng ở Tân Trúc, ngài Ấn Thuận làm viện trưởng, cử pháp sư Diễn Bồi đảm nhiệm phó viện trưởng. Tháng 9 năm đó, ngài Diễn Bồi kế tục đạo sư Ấn Thuận làm trụ trì chùa Thiện Đạo. Do phải trông coi sự vụ trong chùa, nên ngoài những giờ lên lớp, Sư không đảm nhiệm trách nhiệm thật sự tại Phật Học Viện. Tháng Tư năm 1958, nhận lời mời, ngài Diễn Bồi sang Thái Lan, Giản Bố Trại (Cambodia), Việt Nam v.v… hoằng hóa. Hơn ba tháng, Ngài lại về nước dạy học như cũ. Tháng Tám năm 1960, nhiệm kỳ trụ trì chùa Thiện Đạo ba năm đã mãn, Sư kiên quyết từ chối trụ trì tiếp. Tháng 12, Sư xuất dương hoằng hóa, đến đây mới tạm chấm dứt giai đoạn truyền đạo, giáo nghiệp, dạy học sanh nhai. Dù sau này thành lập Thái Hư Phật Học Viện tại giảng đường Huệ Nhật ở Đài Bắc và Hoa Văn Phật Học Viện tại chùa Linh Tuyền núi Nguyệt My tại Cơ Long, ngài Diễn Bồi chỉ làm viện trưởng trên danh nghĩa, chứ thật ra Ngài sống tại Tinh Châu (Singapore), hai chức viện trưởng chỉ làm cho có, không đảm nhận trách nhiệm thật sự.

 

3. Đảm nhiệm vai trò trụ trì:

     

      Một đời ngài Diễn Bồi đảm nhiệm chức trụ trì nhiều lần. Năm 1957, Ngài từng làm trụ trì chùa Thiện Đạo tại Đài Bắc. Nguyên lai, chùa Thiện Đạo do ngài Ấn Thuận làm trụ trì, nhưng do phải phân xử sự việc trong chùa không ngớt, ngài Ấn Thuận kiên quyết thoái vị, ban Hộ Tự kiến nghị thỉnh ngài Diễn Bồi kế nhiệm. Ngài Diễn Bồi cả nể, thoái thác chẳng được, tháng Chín năm 1957 bèn tấn sơn thăng tòa (1). Ngờ đâu giám viện của chùa chuyên quyền, nhân sự vẫn chẳng an định, ngài Diễn Bồi là con người học vấn, chán ngán chuyện con người tranh chấp, nên mọi sự đều ẩn nhẫn, hết thảy đều tùy duyên, miễn cưỡng đảm nhiệm chức vụ ba năm, rồi bèn kiên quyết thoái vị. Những vị cư sĩ nhiệt tâm trong ban Hộ Tự van nài, thậm chí lão cư sĩ Triệu Di Ngọ (Hằng Dịch) hơn tám mươi tuổi đảnh lễ khẩn cầu. Do tình thế chẳng thể ở thêm được nữa, pháp sư Diễn Bồi nhất quyết từ chức, ngôi Trụ Trì do pháp sư Mặc Như kế nhiệm.

      Cuối năm 1966, chúng thường trụ tinh xá Phước Nghiêm ở hồ Thanh Thảo huyện Tân Trúc cùng suy cử ngài Diễn Bồi làm trụ trì. Trong tháng Tư năm đó, Ngài tấn sơn. Khi đó, ngài sống tại Tân Gia Ba, chức vụ trụ trì chỉ là danh nghĩa, sự vụ trong tinh xá do pháp sư Thường Giác thay mặt xử lý. Đến tháng Tư năm 1970, nhiệm kỳ trụ trì ba năm đã mãn, pháp sư Ấn Hải, nguyên trụ trì giảng đường Huệ Nhật, kế nhiệm. Năm 1968, ngài Diễn Bồi từ Tân Gia Ba trở về Đài Bắc, vào tổng y viện Vinh Dân khám nghiệm sức khỏe. Hội trưởng hội quản lý chùa Huyền Trang ở Nhật Nguyệt Đàm là lão cư sĩ Triệu Di Ngọ gởi thơ thỉnh giữ chức trụ trì chùa Huyền Trang. Cư sĩ Lý Tử Khoan cũng ra sức mời mọc, Ngài lại gặp cảnh tình nghĩa buộc ràng chẳng thể chối từ được, phải chấp thuận làm trụ trì chùa Huyền Trang. Tháng Ba năm 1968 tấn sơn. Khi đó, có hơn ba ngàn người đến dự lễ và chúc mừng, náo nhiệt suốt ngày. Nhưng pháp vụ tại Tân Gia Ba không thể bỏ được, nên trong thực tế sự vụ tại chùa Huyền Trang do Giám Viện là pháp sư Thánh Ấn đảm trách. Nhiệm kỳ ba năm đã mãn, pháp sư Diễn Bồi kiên quyết từ chức, suy cử pháp sư Đạo An kế nhiệm.

      Sau này, trên danh nghĩa, Ngài còn làm trụ trì Diệu Pháp Tinh Xá tại Việt Nam, chứ thực tế chỉ là hư danh, chẳng cần phải thuật kỹ nữa. Chùa Quán Âm ở Mỹ, chùa Tín Nguyện và chùa Hoa Tạng tại Phi Luật Tân đều từng thỉnh Ngài làm trụ trì, nhưng Ngài đều nhất loạt từ chối. Hạ tuần tháng 12 năm 1990, trụ trì đạo tràng lớn nhất của Tân Gia Ba là Quang Minh Sơn Phổ Giác Tự là Hoằng Thuyền lão hòa thượng thị tịch, lão pháp sư Diễn Bồi lại bị Tín Thác Hội (trustee board) của chùa Phổ Giác lễ thỉnh đảm nhiệm trụ trì. Ngày mồng Chín tháng Năm năm 1991, cử hành điển lễ tấn sơn. Ngày hôm ấy, cao tăng đại đức trong ngoài nước vân tập, hơn tám ngàn người tham gia đại lễ. Cuộc lễ long trọng chưa từng thấy. Năm ấy, lão pháp sư Diễn Bồi đã bảy mươi lăm tuổi, đáng lẽ là tuổi nghỉ hưu, nhưng vì hộ trì Phật pháp, chẳng dám than mệt mỏi.

 

4. Ba mươi năm hoằng pháp tại trời Nam

 

      Lần đầu tiên, ngài Diễn Bồi xuất ngoại hoằng hóa là năm 1958, ứng theo lời thỉnh cầu của cư sĩ Mã Tử Lương, lý sự trưởng của Long Hoa Phật Giáo Xã tại kinh đô Thái Lan, chủ trì lễ kỷ niệm đệ tam chu niên dựng tháp thờ xá lợi Thái Hư Đại Sư, đồng thời vì tín chúng giảng kinh. Do đấy, Sư cùng Phật Giáo đồ Đông Nam Á kết mối duyên không rời. Đầu tháng Năm năm ấy, Sư vừa mới đến Mạn Cốc (Bangkok) liền được các xã đoàn Long Hoa Phật Giáo Xã, Trung Hoa Phật Học Nghiên Cứu Xã, Quang Hoa Phật Giáo Hội, Liên Hoa Phật Giáo Xã v.v… nhiệt liệt hoan nghênh. Ngài hoằng pháp tại Mạn Cốc hơn cả tháng, giảng kinh thuyết pháp tại ba mươi nơi như Đại Bi Giảng Đường của Long Hoa Phật Giáo Xã, do cư sĩ Trần Mộ Thiền dịch sang tiếng Triều Châu.

      Pháp sư Diễn Bồi hoằng pháp tại Thái Lan, pháp sư Siêu Trần ở Việt Nam, pháp sư Pháp Lương ở Cao Miên v.v…nghe tiếng, thỉnh Ngài khi hoằng pháp ở Thái Lan xong, thuận đường sang Miên và Việt một chuyến. Trước đó, pháp sư Diễn Bồi không nghĩ đến chuyện sang ba nước này hoằng hóa, nhưng khó thể chối từ thịnh tình của ba nước này, nên ngày mùng Bảy tháng Sáu bay sang Kim Biên (Phnom Penh) của Cao Miên, giảng kinh Bát Đại Nhân Giác tại chùa Chánh Giác, cũng như diễn giảng và giảng kinh tại các tự viện Liên Lâm Tự, Quán Huệ Tự, Liên Quang tinh xá v.v… Ngài ở lại Kim Biên hơn mười ngày, rồi vào hạ tuần tháng Sáu đến Sài Gòn, Việt Nam. Ngài ở lại Sài Gòn một tháng rưỡi, từng giảng kinh Bát Đại Nhân Giác tại chùa Xá Lợi, rồi bay ra cố đô Huế, bốn lượt diễn giảng tại chùa Từ Đàm, hội quán Quảng Đông, đại học Huế và đài phát thanh Huế. Ngài còn đến Nha Trang, Đà Lạt v.v... Đến thượng tuần tháng Tám mới từ Sài Gòn bay về Hương Cảng, nhận lời thỉnh các nơi, lần lượt diễn giảng tại Chánh Giác Liên Xã, Trung Hoa Phật Giáo Đồ Thư Quán, đại lễ đường của trường Bảo Giác, Phật Giáo giảng đường v.v… Sau đấy mới quay về Đài Bắc.

      Tháng Tám năm 1960, sau khi giao trả chức Trụ Trì chùa Thiện Đạo, lại nhận lời thỉnh của kiều bào ở Việt Nam, Ngài từ Hương Cảng bay sang Việt Nam vào tháng Hai. Nguyên Đán năm 1961, Ngài chủ trì điển lễ An Vị Phật tại Diệu Pháp Tinh Xá ở Chợ Lớn. Ngài lại thuyết pháp ở chùa Từ Ân, giảng phẩm Phổ Môn tại chùa Vạn Phật, thuyết pháp tại chùa Nam Phổ Đà ở Chợ Lớn, chùa Phụng Sơn, chùa Ấn Quang, Giác Hoa tinh xá tại Sài Gòn. Ngài lại còn ra tận Cam Ranh, Hội An v.v… lịch trình gần suốt bốn tháng. Hạ tuần tháng Tư, ngài đến thủ đô Vĩnh Chân (Vientiane) của Lào hoằng pháp suốt một tuần. Ngài lại sang Thái hoằng pháp tại các tự viện, xã đoàn Phật giáo suốt một tháng. Hạ tuần tháng Năm bay sang đảo Tân Lang (Pinang) của Mã Lai. Đương thời các cao tăng hoằng hóa tại Tân Lang như Trúc Ma, Bản Đạo, Quảng Dư, Quảng Nghĩa, Minh Đức, Long Huy, Huệ Tăng, Long Căn v.v… đều ra phi trường nghênh đón. Ngài Diễn Bồi tham quan, phỏng vấn suốt hai tuần, lại sang Di Bảo (Ipoh), Cát Long Ba (Kuala Lumpur), Ma Lục Giáp (Melaka), thẳng đường tùy duyên thuyết pháp. Sau cùng, Ngài đến Tân Gia Ba. Ở Sư Thành (2) được chư sơn trưởng lão khoản đãi, lại phỏng vấn chư sơn và các đoàn thể Phật giáo, tùy duyên hoằng hóa, mãi đến hạ tuần tháng Bảy mới trở lại Đài Bắc.

      Tháng 11 năm 1962, Sư sang Việt Nam hoằng pháp lần thứ ba, tín chúng Sài Gòn mong mỏi Sư ở luôn tại Việt Nam, lại còn xin quyên cúng đất. Sau khi suy nghĩ, Sư nhận lời, trù tính dựng chùa Bát Nhã. Năm 1963, nhân kỷ niệm mười năm ngày Từ Hàng Bồ Tát thị tịch, chùa Bồ Đề Lan Nhã tại Tân Gia Ba cử hành pháp hội ba ngày, thỉnh ngài Diễn Bồi sang chủ tọa và thuyết pháp cho thiện tín. Tháng Năm năm ấy, Sư từ Việt Nam bay sang Tân Gia Ba. Xong pháp hội, Sư cùng hai vị trưởng lão Quảng Hợp, Đạt Minh bàn luận kế hoạch dựng chùa tại Việt Nam. Hai vị trưởng lão bảo Ngài: “Việt Nam chiến sự nhiều năm, tình thế bất ổn, nếu muốn dựng chùa, chẳng bằng kiếm đất dựng chùa tại Tân Gia Ba”.

      Cư sĩ Lâm Đạt Hiền, tín thác nhân (trustee) của Linh Phong Bồ Đề Học Viện (sau này xuất gia, thành pháp sư Huệ Viên) biết chuyện này, cầu thỉnh ngài Diễn Bồi cũng trở thành tín thác nhân của Bồ Đề Học Viện, giao Học Viện cho ngài Diễn Bồi quản lý, để biến thành đạo tràng hoằng hóa của Ngài. Sau này, vì thấy tình hình chính trị Việt Nam ngày càng xấu đi, Ngài bèn dẹp kế hoạch dựng chùa tại Việt Nam, tiếp nhận trách nhiệm quản lý Linh Phong Bồ Đề Học Viện, lại còn thỉnh pháp sư Long Căn đảm nhiệm vai trò tín thác nhân. Do học viện lâu ngày không được tu bổ, nên năm 1967 bèn trùng tu, đổi tên thành Linh Phong Bát Nhã Giảng Đường. Năm 1968, công cuộc trùng tu hoàn tất, ngày 12 tháng Giêng năm Dân Quốc 67 (1968) cử hành lễ lạc thành và điển lễ an vị thánh tượng Phật Thích Ca. Ngày hôm ấy, thỉnh đạo sư Ấn Thuận ở Đài Loan thăng tòa, khách quý các giới đến mừng hơn hai ngàn người. Quốc Vụ Khanh Việt Nam là Mai Thọ Truyền cũng đổi lộ trình công du để tham gia đại điển tưng bừng nhất. Từ đó, về sau, pháp sư thường ở tại giảng đường giảng kinh hoằng hóa, trước sau hơn mười năm.

      Trong khoảng thời gian từ năm 1962 đến năm 1980, ngài Diễn Bồi nhiều lần qua các nước Mỹ, Gia Nã Đại, Phi Luật Tân hoằng hóa, ở đây chẳng cần phải thuật rõ. Năm 1969, tuy pháp sư ở tại Tân Gia Ba đã nhiều năm, nhưng vẫn chưa được trao quyền công dân, xuất nhập cảnh thật bất tiện, Ngài có ý rời Tân Gia Ba sang Mỹ hoằng hóa, bèn thỉnh pháp sư Long Căn trụ trì Bát Nhã Giảng Đường. Ngày hai mươi tháng Mười Một năm ấy làm lễ giao chuyển. Giao chuyển giảng đường Bát Nhã xong, bên ngoài đồn đại ầm ĩ, bên Hương Cảng đồn Ngài bị chính phủ Tân Gia Ba trục xuất khỏi nước. Để dẹp yên lời đồn, ngài Diễn Bồi ở lại Tân Gia Ba không đi nữa, tạm trú tại Tân Gia Ba Nữ Tử Phật Học Viện, tiếp tục giảng kinh hoằng pháp.

     

5. Kiến lập Phước Huệ Giảng Đường và Phật Giáo Phước Lợi Hiệp Hội

 

      Tháng Ba năm 1980, chùa Phổ Hiền ở thành phố Túc Vụ (Cebu), Phi Luật Tân lạc thành, trụ trì là pháp sư Duy Từ thỉnh pháp sư Diễn Bồi chủ trì điển lễ an vị Phật. Sư bay sang Phi Luật Tân, đến hạ tuần tháng Ba từ Mã Ni Lạp (Manila) bay thẳng sang Nữu Ước (New York), giảng kinh tại các chùa Đông Thiền, Đại Giác suốt sáu tháng rồi mới trở lại Tân Gia Ba. Năm 1981, được trưởng lão Hoằng Thuyền và pháp sư Thường Khải giúp sức vận động, chính phủ Tân Gia Ba phê chuẩn quyền công dân cho pháp sư Diễn Bồi. Trong thời gian ấy, pháp sư Diễn Bồi mua được cuộc đất rộng bảy vạn ba ngàn thước vuông ở Bảng Nga, nhờ kiến trúc sư vẽ họa đồ, đích thân xin phép xây dựng, chính phủ phê chuẩn cho khởi công vào mùa Xuân năm 1982, đặt tên là Phước Huệ Giảng Đường. Phước Huệ Giảng Đường là tên đặt nhằm kỷ niệm Phước Nghiêm Tinh Xá và Huệ Nhật Giảng Đường do đạo sư Ấn Thuận sáng lập tại Đài Loan.

      Phước Huệ Giảng Đường có đại giảng đường chứa được cả ngàn người, hai tòa lầu hai bên chia thành thư viện, phòng họp, phòng làm việc. Hậu viện dựng viện dưỡng lão Từ Ân Lâm có thể chứa được 120 người già. Ngoài ra còn có trung tâm giữ trẻ Từ Ân Lâm, công trình khởi đầu từ cuối Xuân năm 1982, đến năm 1985 mới hoàn thành. Ngày 16 tháng Ba năm 1986 cử hành đại điển khai mạc, do phó thủ tướng thứ hai của Tân Gia Ba là Vương Đỉnh Xương chủ tọa. Những nhân vật chánh yếu trong chánh phủ, chư sơn trưởng lão, vô số thiện tín trong nhà Phật tham gia thạnh hội. Chư sơn trưởng lão từ Mỹ Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân cũng vầy đoàn tham gia.

      Phước Huệ giảng đường là đạo tràng hoằng pháp, cũng là trụ sở của hiệp hội Phước Lợi Phật giáo Tân Gia Ba. Hiệp hội Phước Lợi là cơ cấu phước lợi xã hội do pháp sư Diễn Bồi thành lập vào năm 1981. Thoạt đầu là phát tiền cứu trợ mỗi tháng và vật phẩm cứu tế cho những gia đình bất hạnh, cũng như đến thăm hỏi và phát quà cho các y viện, viện nuôi người tàn tật, cô nhi viện. Sau khi Phước Huệ Giảng Đường lạc thành, cao đồ của pháp sư Diễn Bồi là pháp sư Khoan Nghiêm đề xướng, trước sau lập thành viện dưỡng lão Từ Ân Lâm có thể chứa được hơn trăm người, rồi phát triển các phân bộ nhà giữ trẻ Từ Ân ở nhiều nơi. Sau này thiết lập trung tâm lọc thận trang bị thiết bị hiện đại hóa, trung tâm phòng dịch, và trung tâm văn hóa khá quy mô.

      Do những cống hiến phước lợi của pháp sư Diễn Bồi đối với xã hội, được các nhân sĩ trong xã hội tán thán và chính phủ công nhận, Tổng Thống nước Cộng Hòa Tân Gia Ba, trong hai năm 1986 và 1992 hai lần trao huân chương Phục Vụ Công Cộng cho Sư, cử Ngài làm đại biểu Phật giáo của Tân Gia Ba Tông Giáo Hòa Giai Lý Sự Hội (hội phát triển hòa hợp tôn giáo Singapore).

      Lão pháp sư Diễn Bồi thâm nhập Kinh Tạng, ba Tạng Kinh, Luật, Luận không gì Ngài chẳng thông đạt, có xưng tụng là Tam Tạng Pháp Sư cũng chẳng quá đáng. Mỗi khi có pháp hội truyền giới, đa phần mời Ngài làm Đắc Giới Hòa Thượng, rất nhiều lần như thế, chẳng thể thuật đủ. Trước thuật cả đời Ngài kết quả là bộ Đế Quán Toàn Tập ba mươi bốn quyển, Đế Quán Tục Tập mười hai quyển, rành rành tám trăm vạn chữ.

      Pháp sư Diễn Bồi tánh tình bộc trực, chẳng khéo ăn nói, nên tự ký tên là Ngu Tăng, nhưng giảng kinh thuyết pháp như sông chảy cuồn cuộn chẳng ngừng, người nghe không ai chẳng thích nghe. Lão pháp sư Diễn Bồi thị tịch ngày mồng Mười tháng 11 năm 1996, thọ tám mươi tuổi.

 

(1) Tấn sơn thăng tòa: chính thức đảm nhận vai trò trụ trì, thường gọi tắt là "tấn sơn".

(2) Sư thành tức là thành phố Tân Gia Ba, vì Singapore bắt nguồn từ chữ Simhapura (thành phố sư tử).

 

LỜI TỰA

 

      Phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện kinh Hoa Nghiêm là hai phẩm kinh được lưu hành phổ biến nhất trong giới Phật Giáo Trung Quốc, nhưng phẩm Phổ Môn được đọc tụng, hoằng truyền phổ biến thịnh hành nhất. Nguyên nhân là do Quán Âm đại sĩ tâm từ bi thiết tha, có nhân duyên rất sâu đậm đối với Sa Bà; bởi thế, tuy Ngài vào khắp mười phương cõi nước, nhưng thường trụ trong cõi Sa Bà này để hóa độ kẻ hữu duyên.

      Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Đại Sĩ công đức rất sâu vô lượng, chẳng riêng gì kẻ trí huệ nhỏ nhoi chẳng thể liếc thấy một trong vạn phần, ngay cả Phổ Hiền Bồ Tát là bậc hạnh nguyện rộng lớn cũng chẳng thể suy lường chừng bằng sợi lông, giọt nước. Chúng ta là hạng phàm phu khổ não trói buộc đầy dẫy, làm sao có thể tuyên dương một trong trăm phần vạn ức phần công đức của Bồ Tát?

      Thế nhưng nghĩ đến Bồ Tát đại từ, tâm niệm độ sanh thiết tha, tâm bi ân cần cứu khổ cứu nạn, đối với công ân tùy hình tùy loại tầm thanh cứu khổ của Bồ Tát, há lẽ chẳng nên cực lực tán ngưỡng. Bởi thế, mỗi khi xuất ngoại hoằng hóa, tôi thường tuyên dương công đức Đại Sĩ, mà đa số thính chúng cũng thích nghe thệ nguyện rộng sâu của Đại Sĩ.

      Mùa Xuân năm Dân Quốc 50 (1961), sang Việt Nam hoằng hóa lần thứ hai, Trụ Trì chùa Vạn Phật ở Chợ Lớn cung thỉnh tôi giảng phẩm Phổ Môn, tôi bèn chấp nhận giảng cho đại chúng. Lúc ấy, do cư sĩ Tịnh Thắng ghi chép lời giảng, nhưng vì nhiều năm cứ mải hoằng pháp ở ngoại quốc, nguyên cảo rốt cuộc để đâu mất, thủy chung không cách nào tìm lại được, đến nỗi chưa thể xuất bản thành sách!

      Năm Dân Quốc năm mươi sáu (1967), tại pháp hội thuyết pháp mỗi tuần ở Bồ Đề Lan Nhã thuộc Singapore, theo yêu cầu của thính chúng, tôi đặc biệt chọn giảng phẩm Phổ Môn, do pháp sư Tịnh Khải dịch sang tiếng Quảng Đông, đồng thời sư cô còn phát tâm đem bản ghi lời giảng mỗi tuần trình cho tôi xem. Xem xong, biết ghi chép không lầm, tôi lại sửa chữa đôi chút, cho đến khi giảng xong, hoàn thành hơn mười vạn chữ.

      Hoàn thành bản Giảng Ký này, nếu bảo có kiến giải đặc sắc gì, tôi chẳng dám nhận lấy, chỉ dám thừa nhận là những lời thông tục dễ hiểu. Nhận thấy Phật tử Trung Quốc đọc tụng phẩm Phổ Môn rất nhiều, ắt chẳng ít người muốn hiểu rõ nội dung. Đó là hiện tượng đáng mừng ít có, bởi lẽ chẳng những cần phải tin nhận Phật pháp mà còn phải hiểu rõ nữa.

      Nếu tôi không lầm, những bản chú thích liên quan đến phẩm Phổ Môn xưa nay thật sự rất nhiều, nhưng những bản khiến đại chúng xem đến có thể hiểu được lại không nhiều. Lúc tôi giảng phẩm này, vì mong đại chúng nghe hiểu được lời giảng, nên chỉ tích cực chọn lấy những điểm nông cạn nơi những nghĩa thẳm sâu, người chép lại cứ chép đúng theo lời tôi giảng, lại vận dụng tài viết lách sắp xếp lại, khiến cho bản Giảng Ký này rất dễ đọc.

      Với một phẩm Phổ Môn, đức Phật muốn làm cho hết thảy chúng sanh nhất tâm xưng niệm Quán Âm. Đức Quán Âm một thân vì khắp mười phương chúng sanh thị hiện các thứ sắc thân. Bởi thế, trong mọi hang cùng ngõ tận nước ta, kẻ ngu phu, ngu phụ không ai chẳng biết đến đức hiệu của Đại Sĩ, không ai chẳng tôn phụng thánh tượng Đại Sĩ, đủ thấy Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi rộng nhiếp quần cơ và lợi khắp trời người như thế đó!

      Trong thế giới Sa Bà này, có thể nói là Quán Âm Bồ Tát không lúc nào chẳng qua lại quanh quẩn bên chúng ta, vấn đề là mức độ thành kính của chúng ta đối với Bồ Đề như thế nào? Đối với Bồ Tát quý vị thành kính một phần, sẽ gần được Bồ Tát một phần. Đấy là điều tuyệt đối, chẳng còn nghi ngờ chút nào nữa.

      Bởi thế tôi nguyện mọi người trên thế giới, nhằm lúc mùa Thu hoạn nạn này, hãy cùng niệm thánh hiệu Quán Âm để cầu Bồ Tát gia bị, hiện đời thân tâm yên vui, mạnh khỏe, đời sau rốt ráo giải thoát!

Singapore, ngày mồng Mười tháng Tám Phật lịch 2511 (1967),

đề tựa tại giảng đường Linh Phong Bát Nhã.

 

 

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KÝ

 

 

I. Những điều khái lược sơ khởi

 

      Chư vị pháp sư! Chư vị cư sĩ!

      Thời gian trôi qua quá nhanh, mỗi năm một độ Tân Xuân đã qua mất rồi. Từ hôm nay trở đi, tôi lại cùng các vị giảng luận Phật pháp. Năm ngoái, cùng quý vị giảng kinh Thắng Man, xét về mặt lý luận khá sâu, người nghe cảm thấy hơi tốn sức, năm nay tôi đặc biệt chọn phẩm Phổ Môn giảng cho quý vị, là phẩm kinh mọi người thường đọc tụng, nhất định nghe giảng sẽ dễ hiểu hơn. Thật ra, kinh Thắng Man và Pháp Hoa đều cùng là đại pháp Nhất Thừa, đều là vì căn cơ tối thượng thừa mà nói, chẳng có trí huệ tương đương sẽ chẳng dễ tiếp thọ, nhưng phẩm Phổ Môn này chuyên giảng những sự trong thực tế, chẳng quá khó hiểu chi lắm.

      Năm nay cùng chư vị tuyên giảng Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, trong thời đại hỗn loạn hiện thời, tôi cho là rất có ý nghĩa. Sống còn trong thời đại này, ai nấy đều có cảm giác ở sẵn bên bờ hủy diệt, thật sự phải gấp cầu Quán Thế Âm Bồ Tát đại bi đến cứu giúp, mà cũng chỉ có Quán Thế Âm Bồ Tát đại bi vô tư như thế mới có thể cứu giúp nhân loại trong thế giới hiện tại. Phẩm Phổ Môn chuyên nói về tinh thần cứu khổ cứu nạn đại vô úy của Quán Âm Bồ Tát; bởi thế, sau khi chúng ta nghe xong, một mặt phải thiết thực cảm niệm, nhận hiểu đại nguyện của đức Quán Âm, một mặt phải chính mình nỗ lực phát khởi bi nguyện sao cho bi nguyện của chính mình và bi nguyện của Bồ Tát kết hợp thành một, khiến cho thế giới trùng trùng khổ nạn này chỗ nào cũng có Quán Âm thị hiện, chỗ nào cũng có Quán Âm cứu giúp, thì hoạt động của nhân loại trong thế giới nhờ đó mới được an tịnh vậy.

Nói đến Quán Thế Âm Bồ Tát thì tín đồ Phật giáo chúng ta không ai chẳng biết, giống như hai câu nói lưu truyền trong nước ta “Gia gia Di Đà Phật, nhân nhân Quán Thế Âm” (Nhà nhà Di Đà Phật, người người Quán Thế Âm), đủ thấy Quán Âm đã thâm nhập trong lòng người như thế nào! Nguyên lai, tín ngưỡng Quán Thế Âm Bồ Tát, xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát rất phổ biến chẳng riêng gì tại Trung Quốc, mà Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và những nơi có kiều bào cư ngụ như Tinh châu (Singapore), Mã Lai, đều rất phổ biến. Có thể nói là trong tất cả những nơi có Đại Thừa Phật pháp lưu hành đều có tín ngưỡng này. Chúng ta cứ thử đi khắp nơi trong những nước này, sẽ thấy rất rõ: nơi thành thị, nơi thôn làng, trên non cao, bên bãi biển, bến sông, nói chung là hễ chỗ nào có người sống, chỗ đó đều có người thờ phụng thánh tượng Quán Âm Bồ Tát, xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát. Chẳng riêng gì người tin Phật mới như vậy, ngay cả những kẻ không tin Phật, cũng thường bất tri bất giác xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát.

Đồng thời, chúng ta thấy kinh Đại Thừa giới thiệu rất nhiều danh hiệu Bồ Tát, đặc biệt là trong số tám vạn Bồ Tát được kinh Pháp Hoa nói đến, thậm chí trong số mười tám vị Bồ Tát thượng thủ, ta thấy rốt cuộc vị nào được con người hiện tại thường quen xưng niệm nhiều nhất? Ngoại trừ Văn Thù, Di Lặc còn được người đời xưng niệm, vị được người đời xưng niệm nhiều nhất không ai hơn được ngài Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát này.

Các vị Bồ Tát khác không những chẳng được người đời thờ phụng, xưng niệm, mà còn ít người biết đến danh hiệu nữa. Do vậy có thể suy luận rằng Quán Thế Âm Bồ Tát có nhân duyên đặc biệt đối với chúng sanh trong thế giới Sa Bà như thế nào, lại còn có mối quan hệ thật thâm thiết! Bởi thế, chúng ta phải thường nên xưng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, chúng ta chẳng nên cô phụ Quán Âm Bồ Tát từ bi cứu giúp chúng ta, trong từng thời khắc, chúng ta nên cùng Quán Thế Âm sống cùng một chỗ, thực hành hạnh đại bi cứu giúp rộng lớn.

     

1. Nguyên quán của đức Quán Thế Âm Bồ Tát

 

      Quán Thế Âm Bồ Tát đã cùng chúng sanh thế giới Sa Bà có mối quan hệ sâu đậm, thiết tha như thế, vấn đề tiếp theo là: Rốt cuộc, Quán Âm Bồ Tát là người thuộc địa phương nào? Đạo tràng hành hóa của Ngài ở đâu? Bởi người đời thường nêu lên câu hỏi này, nên bây giờ tôi bắt buộc phải giải thích sơ lược. Chỉ khi nào mối nghi này trong lòng mọi người được tháo gỡ sạch thì ai nấy mới có thể kiên định tin tưởng Quán Âm, mới hòng chân thành tụng niệm thánh hiệu Quán Âm.

      Rốt cuộc, Quán Âm Bồ Tát là người thuộc địa phương nào? Chẳng thể nói nhất định Ngài là người ở trấn nào, làng nào, tỉnh nào, nước nào trong thế giới Sa Bà được. Căn cứ vào những lời giới thiệu trong rất nhiều kinh điển, Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong hai vị đại Bồ Tát hầu cận hai bên đức A Di Đà Phật trong thế giới Cực Lạc cách ngoài mười vạn cõi nước, đồng thời, Ngài cũng là vị đại Bồ Tát thân thiết hỗ trợ A Di Đà Phật hoằng dương Phật pháp. Hiện tại, Ngài là vị Bổ Xứ Bồ Tát, trong quá khứ chính là Chánh Pháp Minh Như Lai, tương lai kế thừa A Di Đà Phật thành Phật trong thế giới Cực Lạc, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Bởi thế, hiện thời chúng ta chỉ có thể nói Ngài là một Bồ Tát vĩ đại đầy đủ đại từ bi, đại trí huệ trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng cần phải nói chính xác Ngài đản sanh tại nơi nào trong thế giới Sa Bà này!

      Còn như đạo tràng hành hóa của Quán Âm Bồ Tát thì về đại thể, có thể chia thành hai loại: căn bản đạo tràng và hóa hiện đạo tràng. Căn bản đạo tràng là thế giới Cực Lạc, bởi lẽ Quán Âm là một vị đại Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc. Căn bản đạo tràng này, phàm ai là Phật tử đều tin nhận, chẳng nảy lòng hoài nghi. Còn về hóa hiện đạo tràng, trong mười phương tất cả thế giới, phàm những nơi nào có Bồ Tát giáo hóa, nơi đó chính là hóa hiện đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Như vậy, loại đạo tràng này rất nhiều, chỗ nào cũng là đạo tràng của ngài Quán Âm cả.

      Bất quá, chỉ nói riêng trong thế giới Sa Bà, theo kinh Hoa Nghiêm, bên bờ biển ở Nam Ấn Độ, có ngọn núi Phổ Đà Lạc Già, là đạo tràng thị hiện đầu tiên của Quán Âm Bồ Tát trong thế giới Sa Bà. Nhưng những người học Phật Trung Quốc chưa ai từng đến đạo tràng này, mà cũng ít ai biết đến. Đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát mà người Trung Quốc thường biết đến là núi Phổ Đà ở trong Nam Hải, thuộc tỉnh Triết Giang. Trong quá khứ, mỗi năm người đến Phổ Đà triều bái Quán Âm rất nhiều.

     Nam Phổ Đà Sơn là đạo tràng thị hiện của Quán Âm Bồ Tát được người Trung Quốc công nhận, nổi tiếng toàn thế giới, đương nhiên phải có nhân duyên, lai lịch, bây giờ, chẳng ngại gì không giới thiệu đơn giản như sau:

      Ở Trung Quốc, vào thời đại Nam Bắc Triều (386-589), trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên đời Lương, có một vị pháp sư Nhật Bản là Huệ Ngạc đến Trung Quốc cầu pháp, hết sức chân thành tin tưởng Quán Âm Bồ Tát. Lúc Ngài học xong, quay về Nhật Bản, ngoại trừ rất nhiều kinh sách mang theo, Ngài còn đặc biệt thỉnh một tượng Quán Âm đem về nước cúng dường. Thời cổ giao thông chẳng thuận tiện như hiện thời, đương nhiên là phải ngồi thuyền gỗ. Nhưng khi ngài Huệ Ngạc thỉnh tượng Quán Âm lên thuyền gỗ, thuyền đi chưa được bao lâu, biển đột nhiên nổi sóng to, gió lớn, khiến cho chiếc thuyền Ngài ngồi dù làm bất cứ cách nào cũng không tiến lên được. Trong tình huống bất đắc dĩ đó, chỉ còn cách thỉnh tượng Quán Âm Bồ Tát lên một hòn đảo nhỏ, dựng một gian nhà lá trên đảo để thờ phụng Quán Âm Bồ Tát. Những dân chài qua lại hòn đảo nhỏ ấy và những cư dân vùng phụ cận thường đến thắp hương, lễ bái, phát sanh rất nhiều chuyện linh cảm chẳng thể nghĩ bàn. Bởi thế, người đến thắp nhang lễ bái càng ngày càng đông, hòn đảo nhỏ ấy ngày càng phát đạt đến nỗi cái tên gốc là đảo Mai Lãnh trở thành Phổ Đà Sơn, núi ấy cũng trở thành đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Sau này, nó cùng với đạo tràng Ngũ Đài Sơn của Bồ Tát Văn Thù ở Sơn Tây, đạo tràng Nga Mi Sơn của Bồ Tát Phổ Hiền ở Tứ Xuyên và đạo tràng Cửu Hoa Sơn của Bồ Tát Địa Tạng ở An Huy trở thành bốn đại danh sơn, thành những trọng trấn của Phật giáo Trung Quốc.

      Từ khi Phổ Đà Sơn trở thành đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát, về sau có rất nhiều chỗ Bồ Tát Quán Âm thị hiện linh cảm, đều gọi là đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Nói ở mức độ cao hơn, phàm những nơi nào có người tin tưởng Quán Âm Bồ Tát, chỗ nào thờ phụng Quán Âm Bồ Tát, chỗ đó đều có thể gọi là đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Bởi Bồ Tát giáo hóa chúng sanh trong khắp mười phương nên thật sự có thể nói là “không cõi nước nào, Ngài chẳng hiện thân”. Bất luận ở địa phương nào, bất luận loài chúng sanh nào, lúc nào cần đến Bồ Tát hóa độ, Ngài bèn dùng thân phận đúng theo nơi đó, đến hóa độ. Như kinh nói “nên dùng thân nào để độ, bèn hiện thân đó thuyết pháp” chính là thể hiện tinh thần ấy. Trong phần sau, khi giảng đến chuyện du hóa các nước, tôi sẽ giải thích tường tận.

      Nói theo Đại Thừa Phật pháp, phàm là bậc đại Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát đã lâu, đặc biệt là hàng Bồ Tát tối hậu thân Nhất Sanh Bổ Xứ, ai nấy đều có thể “không cõi nào chẳng hiện thân”, đều có thể giáo hóa chúng sanh trong từng thời khắc. Bây giờ, tôi nêu một vị Bồ Tát rất nổi tiếng, trong tương lai sẽ thành Phật trong thế giới Sa Bà này, đó là Di Lặc Bồ Tát. Cổ đức đã có bài tụng:

      Di Lặc, chân Di Lặc,

      Hóa thân thiên bách ức,

      Thời thời thị thời nhân,

      Thời nhân tự bất thức.

(Tạm dịch:

Di Lặc, chân Di Lặc,

Hóa thân trăm ngàn ức,

Luôn thị hiện người đời,

Người đời nào hay biết).

Có người cho rằng: niệm danh hiệu chư Phật, Bồ Tát về căn bản là vô dụng, bởi lẽ từ trước đến nay chúng ta chưa từng thấy Bồ Tát. Đây là một quan niệm sai lầm. Xin thưa thật cùng quý vị: Bồ Tát bi tâm thấu xương, xuyên tủy, thời thời khắc khắc hằng hiện diện trước mặt chúng ta. Như ngài Di Lặc sở dĩ có tên là Di Lặc chẳng phải đơn giản đâu nhé, Ngài có thể hóa thân nhiều đến trăm ngàn ức, dùng các thứ thân phận khác nhau: hoặc thị hiện thân Phật, hoặc thị hiện thân tỳ-kheo, hoặc thị hiện thân cư sĩ, thường hằng chẳng gián đoạn, thời thời khắc khắc thị hiện trước mỗi người đáng nên hóa độ. Tiếc rằng kẻ ấy chẳng biết Bồ Tát hiển hiện, ta chỉ có thể tự trách móc mình chẳng nhận ra Bồ Tát ở ngay trước mặt mình, chẳng được nói là Bồ Tát chẳng thị hiện trong nhân gian đông đảo.

Di Lặc thị hiện như thế thì phải biết là Quán Âm cũng giống như thế. Nếu dùng lại bài kệ trên, ta cũng có thể nói:

      Quán Âm, chân Quán Âm,

      Hóa thân thiên bách ức,

      Thời thời thị thời nhân,

      Thời nhân tự bất thức.

      Như nay các vị đang hiện diện đây, ai là Quán Âm Bồ Tát, ai là Di Lặc Bồ Tát, chúng ta cũng chẳng nhận biết một ai, nhưng chẳng thể vì đó nói là trong đạo tràng này không có Quán Âm, Di Lặc ẩn hiện. Là Phật tử, phải kiên định tin tưởng điều này!

     

2. Giới tính của Quán Âm Bồ Tát

     

      Địa phương xuất thân và đạo tràng thị hiện của Quán Âm Bồ Tát, tôi đã giảng đại lược rồi; hiện giờ còn một vấn đề tôi cần phải giải đáp, đó là đức Quán Âm Bồ Tát trọn vẹn đại từ bi, đại nguyện lực, đại công đức rốt cuộc là nam hay nữ đây? Bởi lẽ, hiện thời trông thấy tượng Quán Âm Bồ Tát, đại đa số là nữ tướng, nên thường có người nêu lên câu hỏi này.

      Trên căn bản, chúng ta nên nói Quán Âm Bồ Tát là nam tử. Từ đời Đường trở về trước, tất cả tượng Quán Âm dù là tượng đắp hay tranh vẽ đều mang tướng mạo nam nhân. Quán Âm Bồ Tát mang tướng người nam là có căn cứ hay không? Kinh Hoa Nghiêm chép: “Dũng mãnh trượng phu Quán Tự Tại”. Quán Tự Tại chính là Quán Thế Âm. Kinh gọi Ngài là “bậc trượng phu dũng mãnh”, chứng minh Quán Âm vốn là nam tử.

Chẳng qua, nói trên phương diện Quán Âm thị hiện, khó có thể quyết định Ngài là nam hay nữ; bởi lẽ Bồ Tát thị hiện nào phải để chơi giỡn mà trọn vì độ sanh. Chúng sanh muốn Bồ Tát thị hiện thân tướng nào, Bồ Tát liền vì chúng sanh thị hiện thân tướng ấy. Nếu như có một loại chúng sanh cần Bồ Tát thị hiện tướng người nam để hóa độ, Bồ Tát liền vì kẻ ấy thị hiện nam tướng. Lại có một loại chúng sanh cần Bồ Tát thị hiện tướng nữ để hóa độ, Bồ Tát liền vì kẻ ấy hiện tướng nữ; rất khó nói quyết định Ngài là thân tướng nào! Bởi lẽ đối với bản thân Quán Âm Bồ Tát, [thân nam hay nữ] không thành vấn đề, thuận theo yêu cầu của từng chúng sanh mà hiện thân, tự mình chẳng có chủ ý. Còn như Bồ Tát Quán Âm trong thế giới này thường hiện tướng nữ cũng là đạo lý chung, đến phần sau sẽ lại giảng tiếp.     Bây giờ, trước hết tôi sẽ kể câu chuyện xưa Quán Âm Bồ Tát thị hiện thân nữ để hóa độ chúng sanh cho quý vị nghe. Tại Trung Quốc, vào đời Đường, tại bến Hữu Kim ở Thiểm Tây, Bồ Tát thị hiện làm một cô gái bán cá. Cô gái bán cá này lớn lên rất xinh đẹp, mỗi sáng sớm cô xách một giỏ cá, đến thôn trang nọ bán cá. Thanh niên trong thôn thấy cô gái tuổi nhỏ xinh đẹp, chẳng ngừng đuổi theo cô. Mỗi chàng thanh niên đều hy vọng sẽ được cùng cô kết duyên giai ngẫu. Do quá nhiều người theo đuổi khiến cô gái bán cá không biết giải quyết như thế nào, cô bèn nghĩ ra một cách, bảo cùng những chàng thanh niên trong thôn:

- Các anh nhiều người quá, em chỉ có một thân gái, đương nhiên chẳng thể thỏa mãn tâm nguyện của từng người được. Bây giờ, em đưa ra một điều kiện chẳng khó khăn quá, ai làm được em sẽ lấy người đó, chẳng cần ai phải theo đuổi nữa!

      Những chàng thanh niên vội hỏi ngay: “Điều kiện gì?”

Cô gái bán cá đáp:

- Trong nhà Phật có một bản kinh tên là Phổ Môn Phẩm. Ai trong ba ngày có thể học thuộc lòng, em sẽ sánh duyên cùng người đó.

Kết quả, trong ba ngày đọc thuộc phẩm Phổ Môn có bốn năm chục người. Cô gái bán cá lại nói:

- Em chỉ có một thân, các anh lại nhiều người quá. Làm sao biết quyết định lấy ai đây? Xin thưa cùng các anh, trong nhà Phật có một bộ kinh tên là kinh Kim Cang, kinh văn dài hơn phẩm Phổ Môn. Trong số các anh có ai trong năm ngày đọc thuộc, em sẽ lấy người đó.

Các chàng do tình yêu sôi sục, trong năm ngày đọc thuộc kinh Kim Cang, vẫn có hơn mười người. Kết quả, vẫn chẳng giải quyết vấn đề được. Khi ấy, cô gái bán cá lại bảo những chàng đó:

- Trong nhà Phật có bộ kinh Đại Thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, trong vòng bảy ngày, ai trong số các anh có thể đọc thuộc, em nhất định lấy người đó.

Chư vị nghĩ xem: Kinhh Pháp Hoa bảy quyển hai mươi tám phẩm nhiều thế đó, phải đọc thuộc trong vòng bảy ngày chẳng phải là chuyện dễ dàng gì, cho nên rốt cuộc chỉ có một chàng thanh niên họ Mã đọc thuộc. Cô gái bán cá thực hiện lời hứa, đương nhiên lấy chàng thanh niên họ Mã. Chàng họ Mã trong lòng hoan hỷ chẳng thể nói, người khác cũng mừng cho chàng lấy được cô gái đẹp như hoa xinh tợ ngọc đó làm vợ. Nhưng đến tối động phòng hoa chúc, sau khi đám khách vui say rã đám, cô gái bỗng lên cơn đau bụng chết đi! Chẳng cần phải nói, lúc đó thật bi thương, chàng thanh niên họ Mã tuổi trẻ, tận dụng mọi tâm cơ, mới lấy được một cô vợ đẹp, nay rốt cục trắng tay, sao không đau lòng muốn chết. Nhưng người đã chết rồi chẳng sống lại được, đau thương ích gì? Chỉ đành chiếu theo phong tục, đem người chết đi an táng, chứ còn có cách nào khác nữa đâu?

Nói ra thật là kỳ quái, linh cữu đưa đi nửa đường, đột nhiên gặp một vị lão tăng bảo chàng thanh niên họ Mã:

- Nghe nói hôm qua cậu vừa cử hành đại lễ kết hôn, sao hôm nay đã cử hành tang lễ?

Chàng thanh niên họ Mã ôm mặt, khóc lóc đáp:

- Là vì cô vợ xinh đẹp yêu dấu nhất của con, dốc sạch tâm cơ mới cưới được cô ta làm vợ, chẳng ngờ một cô gái xinh đẹp hoạt bát, nháy mắt đã thành một cái xác chết vô tri, hỏi sao con không đau lòng cho được?

Lão tăng thấy chàng bi thương đến thế, nhân đó bèn khai thị:

- Cậu tuổi trẻ, chỉ biết nói chuyện tình ái, chẳng biết tìm cầu chân lý. Cậu phải biết cô gái xinh đẹp cậu vừa mới cưới hôm qua nào phải là con gái tầm thường trong thế gian, mà là Quán Âm Bồ Tát thị hiện để hóa độ các cậu đấy! Bởi lẽ, Quán Âm Bồ Tát bi tâm sâu nặng, biết già trẻ trong thôn trang này chẳng biết tín phụng Tam Bảo, nên mới đặc biệt thị hiện thân nữ để đến hóa độ các cậu. Nếu cậu nhất định không tin, có thể mở hòm ra xem.

Mọi người muốn kiểm chứng bèn mở quan tài ra thật, đều thấy xác người vợ không còn trong đó nữa, đến lúc đó chẳng thể không tin là Bồ Tát vận dụng thần thông rời đi. Thế nhưng, quay lại nhìn lão tăng, cũng không biết lão tăng đã đâu mất rồi!

Do đây biết rằng: Không riêng gì cô gái bán cá là Quán Âm thị hiện, ngay cả vị lão tăng cũng là Quán Âm thị hiện, mục đích nhằm làm cho những người trong thôn đó thiết thực giác ngộ, nỗ lực tín phụng Tam Bảo. Từ đó, không riêng gì chàng thanh niên họ Mã phát tâm xuất gia tu hành, người trong thôn cũng đều tin Phật, Bồ Tát, quy y Tam Bảo. Trong Phật giáo có hai câu nói về điều này: “Trước dùng dục để lôi kéo, sau khiến nhập Phật trí”, đó là phương tiện độ sanh lớn nhất của Bồ Tát.

Sở dĩ, Quán Âm Bồ Tát thường thị hiện thân nữ giáo hóa chúng sanh, xét ra, có hai nguyên nhân, giờ đây sẽ thuật sơ lược như sau:

1) Chuyên lấy chúng sanh nhiều đau khổ làm đối tượng cứu giúp. Nhân loại chúng sanh đau khổ rất nhiều, trong thời quá khứ trọng nam khinh nữ, đúng là nữ nhân đau khổ hơn nam giới rất nhiều. Trong thời đó, nữ nhân bị rất nhiều hạn chế, như: Trước khi lấy chồng, ở nhà với cha mẹ, nhất định phải nghe theo mệnh lệnh của cha mẹ; xuất giá rồi sống ở nhà chồng, nhất định phải nghe theo lệnh chồng. Đến lúc tuổi già có con cái, lại phải nghe lời con cái. Làm con người trong thế gian, phụ nữ thật sự đau khổ rất nhiều như thế. Quán Âm Bồ Tát lấy việc cứu khổ chúng sanh làm mục đích, đương nhiên trước hết phải cứu độ hàng phụ nữ nhiều đau khổ. Bởi thế, Ngài mới đặc biệt thường hay hiện thân nữ, có giống hệt như họ thì sau đó mới từ những nỗi thống khổ vốn sẵn của thân nữ, dẫn dụ họ dần dần đi vào con đường tu học Phật pháp lớn lao, hòng giải trừ tất cả thống khổ, ngõ hầu giải thoát thân tâm.

2) So ra, tuy thân nữ có nhiều nỗi khổ như thế, nhưng sự nhu hòa từ ái trong tâm họ đúng là vượt trội người nam. Giống như cha mẹ trong thế gian đau đáu yêu mến con cái, cố nhiên giống nhau; nhưng nếu so sánh, người mẹ yêu mến, che chở con cái sâu đậm, thân thiết hơn cha. Tôi thường hay nói: Lúc nào cha mẹ ngồi cùng một chỗ, nếu đứa con nhỏ chạy đến muốn xin cha mẹ cho tiền mua đậu phộng hay kẹo ăn, cha thường nói:

- Tụi bay cứ xin tiền hoài làm chi? Hôm nay ba không có tiền cho tụi bay đâu!

Nói vậy là xong, thật sự không cho một đồng nào. Còn mẹ chẳng như vậy, một mặt quở trách đứa nhỏ đừng có xin tiền hoài, một mặt vẫn rút tiền lận lưng cho con, nhưng rất dịu dàng vỗ về con:

- Hư lắm nghe! Từ rày đừng có lại xin tiền nữa nghe chưa!

Tuy nói vậy, lần sau đến xin nữa, vẫn lại giống như vậy. Bởi thế lòng từ ái của mẹ hơn hẳn cha. Quán Âm Bồ Tát là bậc đại từ bi, bởi thế, Ngài thị hiện thân nữ, chẳng qua là tịnh hóa, khuếch đại tình mẹ của thế gian thành lòng đại bi.

Lòng mẹ trong thế gian tuy nói là bao la, nhưng phạm vi nhỏ hẹp phi thường, chỉ biết yêu thương, che chở con cái của chính mình, chẳng biết yêu thương, che chở con cái người khác, nên trong tình yêu thương đó vẫn bao gồm đôi chút nhiễm ô. Thông thường, tuy nói cha mẹ thương con vô điều kiện; kỳ thật, trong cái vô điều kiện đó vẫn có điều kiện, như người Trung Quốc hay nói: “Tích cốc phòng cơ, dưỡng nhi phòng lão” (Chứa gạo phòng đói, nuôi con dưỡng già). Đấy chẳng phải là điều kiện thì là cái gì đây? Bởi thế lòng yêu thương của cha mẹ so với lòng từ bi của Bồ Tát có hai điểm bất đồng:

1) Chẳng rộng lớn.

2) Chẳng phải là vô điều kiện.

Lòng từ bi của Quán Âm Bồ Tát không những như tình yêu thương của mẹ, lại còn tịnh hóa và rộng lớn hơn, từ bi đối với hết thảy chúng sanh, chẳng phải chỉ từ bi đối với một phần chúng sanh. Bởi thế, Bồ Tát từ bi vĩ đại, lòng mẹ thương con của thế gian chẳng thể sánh bằng được. Quán Âm Bồ Tát hiểu sâu xa lòng mẹ yêu con trong thế gian thật khó có, bởi vậy, Ngài hiện thân nữ khắp chốn, hy vọng dùng thân phận nữ cảm hóa hết thảy nữ nhân trong thế gian đừng khư khư chấp vào tình mẹ nhỏ hẹp, mà phải biết dùng tinh thần mẹ thương con để thương mến hết thảy chúng sanh, hy vọng mỗi một chúng sanh đều có thể lìa khổ được vui, đều có thể liễu sanh thoát tử, đều có thể thành Đẳng Chánh Giác.

Những điều vừa nói trên chính là hai nguyên nhân lớn khiến Quán Âm Bồ Tát thị hiện thân nữ. Bất quá, ở đây tôi xin quý vị phải nhớ thật kỹ: Đây chỉ là Bồ Tát thị hiện, tuyệt đối đừng lầm tưởng Bồ Tát vốn là thân nữ.

 

3. Ngàn mắt ngàn tay của Quán Âm

 

Quán Âm Bồ Tát tùy loại hóa thân, thị hiện các thứ thân phận bất đồng, như Ngư Lam Quán Âm, Tống Tử Quán Âm, Bạch Y Quán Âm, Bát Tý Quán Âm, Thập Lục Tý Quán Âm, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Âm v.v… (1) là những hình tượng mọi người đều biết. Trong số đó, tượng Quán Âm ngàn mắt ngàn tay có rất nhiều người chẳng hiểu rõ lắm. Vì thế, ở đây tôi sẽ giải thích sơ lược:

Theo cách hiểu thông thường, một con người chỉ có hai mắt, hai tay. Nếu ai rất có bản lãnh, ta nói kẻ ấy rất phi thường, tựa hồ có đủ cả ba đầu sáu tay. Nghe nói ai ba đầu sáu tay, ta đã thấy người ấy rất phi thường rồi. Nhưng Quán Âm Bồ Tát có đủ ngàn mắt ngàn tay nhiều như vậy, đương nhiên khả năng càng lớn. Bởi vậy, có người hỏi: “Vì lẽ gì Quán Âm Bồ Tát có ngàn mắt, ngàn tay? Rốt ráo biểu trưng ý nghĩa gì?” Do vậy, đương nhiên phải giải thích sơ lược; nếu không, chẳng những người ta hỏi đến không cách gì đáp được, mà chính mình đối với sự việc này cũng hoài nghi rất lớn, chẳng thể đúng pháp kiền thành xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát.

Liên quan đến vấn đề này, trước hết chúng tôi bắt đầu từ truyền thuyết mà nói, sau đấy sẽ lại dùng lý luận để giải thích. Theo sách Nhữ Châu Chí có chép: Trong quá khứ, cô con gái thứ ba của Sở Trang Vương tên là Diệu Thiện, là một đứa con gái hiếu thuận phi thường. Lúc Sở Trang Vương bệnh tình rất nguy cấp, thầy thuốc nói muốn được lành bệnh cần phải dùng đến con mắt, cánh tay của thân nhân. Diệu Thiện công chúa nghe xong, chẳng hề nhăn mặt chút nào, cắt tay, móc mắt để chữa cơn bệnh nặng cho cha, khiến cha được lành bệnh. Đợi đến khi cha lành bệnh, công chúa bèn tọa hóa. Vị thầy thuốc gọi cô là Đại Bi Bồ Tát, rồi vị thầy thuốc nói lời đó cũng lập tức biến mất. Nhân đó, Sở Trang Vương bèn phong công chúa là Đại Bi Bồ Tát và dựng chùa Hương Sơn, đắp tượng ngàn mắt, ngàn tay. Có người nói: Sở Trang vương truyền lệnh đắp tượng “toàn thủ, toàn nhãn” (tay và mắt đầy đủ), nhưng viên quan hiểu lầm là “thiên thủ, thiên nhãn”, nên mới có tượng Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.

Nhưng thuyết của sách Nhữ Châu Chí, sách Cảm Thông Lục không chép, đương nhiên chẳng phải là truyền thuyết đáng tin cậy. Lại còn có lời tục truyền rằng: Đại Sĩ là con gái thứ ba của Sở Trang Vương, tên là Diệu Thiện, nhân vì hy sinh tay, mắt cứu cha mắc bệnh ngặt nghèo, nên bèn hiện hình tượng ngàn mắt ngàn tay. Sách Biên Niên Thông Luận viết chuyện này cũng do thiên thần kể cho ngài Nam Sơn Đạo Tuyên Luật Sư nghe nên tự nhiên cũng chỉ là truyền thuyết mà thôi.

Nếu theo như kinh Đại Bi Đà Ra Ni thì trong quá khứ, lúc Quán Âm Bồ Tát ở nơi Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai; Tĩnh Trụ Vương Như Lai từng vì Ngài nói Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đại Đà Ra Ni, muốn cho Ngài trì tâm chú này, để trong đời ác vị lai làm đại lợi lạc cho khắp hết thảy chúng sanh. Ngay sau khi nghe xong bài chú này, Quán Âm Bồ Tát lập tức phát thệ nguyện rộng lớn: “Nếu như trong tương lai, con sẽ có thể lợi lạc một phần chúng sanh thì ngay lập tức thân con sanh ngàn mắt, ngàn tay”. Đại nguyện ấy vừa phát, quả nhiên, ngay lập tức thân Ngài thành ngàn mắt, ngàn tay, mười phương đại địa chấn động, mười phương chư Phật cũng đều phóng vô lượng quang minh, chiếu khắp mười phương vô biên thế giới. Đấy là duyên do Quán Thế Âm Bồ Tát được danh hiệu ấy.

Nhưng cũng có thể nói [tượng thiên thủ thiên nhãn] mang tánh chất tượng trưng, giờ đây sẽ nói sơ lược như sau:

- Ngàn tay tượng trưng cho sức lực cứu độ chúng sanh vĩ đại của Quán Âm Bồ Tát. Như thông thường, giúp người khác làm chuyện gì, dùng một tay làm thì đẩy chẳng đi, kéo chẳng động, người khác bèn bảo quý vị: “Ông phải dùng hai tay ra sức mới có thể đẩy, kéo được”, chứng tỏ thêm một tay là thêm một phần sức. Lại như thường nghe người ta nói: Người nào cảm thấy rất bận rộn, thường hay nói hiện thời bận bịu quá sức, không có cách gì, nếu như có nhiều chân nhiều tay, hoặc có mấy tay giúp, chia nhau ra làm, sẽ thảnh thơi rất nhiều. Điều này chứng tỏ nhiều tay giúp, sức lực càng lớn, làm được rất nhiều việc. Phối hợp những điều này lại để giảng, thì ngàn tay của đức Quán Âm Bồ Tát có ý nghĩa là: Chúng sanh được Quán Âm Bồ Tát giáo hóa nhiều, người theo Bồ Tát tu học Phật pháp cũng nhiều, đến lúc năng lực tu học đã cao rồi, liền được phái qua chỗ này chỗ nọ giáo hóa chúng sanh, nhưng sức lực phát sanh tại mỗi địa phương được giao nhiệm vụ giáo hóa cũng giống như chính sức lực của Bồ Tát phân tán ra. Bởi vậy, ngàn tay hoàn toàn mang ý nghĩa biểu thị sức cứu độ chúng sanh vĩ đại của Quán Âm Bồ Tát, bất tất phải khăng khăng cho rằng Bồ Tát thật sự mọc ra ngàn tay.

- Còn ngàn mắt tượng trưng cho trí huệ sâu thẳm chẳng thể nghĩ bàn của Quán Âm Bồ Tát. Như mọi người lúc bình thường xem thứ này thứ nọ, một mắt chẳng thấy rõ ràng, phải hai mắt mới trông được rõ; bất luận trước mắt là vật gì, đều có thể thấy rõ ràng minh bạch. Hai con mắt nhìn vật đã rõ, ngàn con mắt thấy vật đương nhiên càng rõ hơn nữa. Nhưng Quán Âm Bồ Tát quán sát sự vật, chẳng như người thường chỉ nhìn xuông, mà là dùng mắt trí huệ, quan sát sâu chắc, phân tích thấu triệt, bởi thế, Quán Âm Bồ Tát trí huệ cực thâm diệu. Dùng con mắt trí huệ thâm diệu này có thể hiểu rõ tướng chân thật của vũ trụ, vạn hữu, chư pháp, có thể quan sát chúng sanh các thứ căn tánh và mong muốn bất đồng, thuận theo các căn tánh và yêu cầu sai khác mà thực hiện các sự hóa đạo và điều phục bất đồng. Nếu như chẳng đủ trí huệ, dù có tâm hóa độ chúng sanh, nhưng đối với hết thảy chúng sanh chỉ có thể nói một thứ pháp, chẳng thể làm lợi khắp chúng sanh. Nhân vì Quán Âm Bồ Tát trí huệ thâm diệu, nên có thể đối với các loài chúng sanh sai khác, nói các thứ giáo pháp sai khác. Bởi thế, ngàn mắt tượng trưng cho trí huệ của Bồ Tát.

Phối hợp những điều trên để nói, thì có thể thấy ngàn mắt ngàn tay tượng trưng cho đại lực, đại trí của Quán Âm. Nhưng đại lực, đại trí nào phải là điều những kẻ bình thường có được, chỉ có đại Bồ Tát mới có đủ, bởi thế, xưng tụng Ngài là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Âm Bồ Tát.

 

4. Nguyên nhân lưu truyền phẩm Phổ Môn

 

Chữ Phẩm trong Phổ Môn Phẩm có nghĩa là “loại”. Rất nhiều kinh điển Đại Thừa được chia thành phẩm, tức là những thứ giống nhau được gộp thành từng phẩm. Phẩm này giảng về những sự thị hiện cứu giúp của Quán Âm, nên những sự thị hiện và cứu giúp này được gom thành một bộ phận kinh văn để nói, bởi thế gọi là Phẩm.

Kinh Pháp Hoa tổng cộng hai mươi tám phẩm, phẩm này là phẩm thứ hai mươi lăm. Bây giờ chúng ta phải nêu câu hỏi: “Toàn bộ kinh Pháp Hoa có đến hai mươi tám phẩm, vì sao chỉ có mình phẩm này được đọc tụng, giảng nói, giải thích, lưu thông nhiều nhất?” Điều này đương nhiên có nguyên nhân. Nguyên nhân chủ yếu nhất là vì Quán Âm Bồ Tát đối với chúng sanh cõi này, đặc biệt là với nhân dân Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, có nhân duyên sâu đậm, thiết tha.

Ngoài ra, còn có nguyên nhân hoằng thông đặc biệt, tức là trong lịch sử Trung Quốc, vào thời Ngũ Hồ Loạn Hoa, tức là giai đoạn năm triều đại, mười sáu nước, có một nước nhỏ tên là Bắc Lương, quốc chúa tên là Thư Cừ Mông Tốn, có lần mắc bệnh ngặt nghèo, thật là đến mức các thầy thuốc bó tay, trăm thứ thuốc đều thành vô dụng, chỉ còn có nước đợi chết, không còn cách nào khác. Chính vào lúc đó, có vị pháp sư hoằng hóa dịch kinh là Đàm Vô Sấm đến phương Bắc Trung Quốc, nghe nói quốc chúa mắc bệnh, Ngài tự động đến bảo cùng người dân trong nước:

- Quốc chúa các người mắc bệnh, chẳng phải là bệnh bình thường nơi thân thể, mà chính là bệnh nghiệp chướng trong tâm, y dược thế gian chẳng trị lành được. Bất quá, theo như ta thấy: Thọ mạng quốc chúa vẫn chưa hết, vẫn còn có biện pháp cứu vãn. Giờ đây, ta bảo cùng các ngươi: Trong nhà Phật có bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trong kinh ấy có phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn, nếu như quốc chúa có thể chí thành khẩn thiết đọc tụng, sẽ được Quán Âm Bồ Tát từ bi gia bị, khiến cho bệnh nghiệp chướng của nhà vua tiêu trừ, thân thể lại được mạnh khỏe như cũ.

Đại thần trong nước nghe nói vậy, lập tức bẩm tấu quốc chúa. Quốc chúa và các đại thần vì mong được lành bệnh, bèn tuân theo lời pháp sư Đàm Vô Sấm chỉ dạy, khẩn thiết chí thành niệm tụng Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm. Đúng là linh nghiệm, chẳng bao lâu sau, bệnh quả nhiên lành hẳn, khỏe mạnh lại như cũ.

Nhân đó, chẳng những quốc chúa sắc truyền mọi người tụng phẩm Phổ Môn, rất nhiều người dân cũng tự động tụng phẩm Phổ Môn, và thật sự có rất nhiều người do niệm phẩm Phổ Môn mà tiêu trừ bệnh nghiệp chướng. Từ đó cho đến hiện tại, ở Trung Quốc, phẩm kinh này được lưu truyền đặc biệt rộng rãi, giảng nói đặc biệt nhiều, đọc tụng đặc biệt đông đảo, và được giải thích cũng chẳng ít.

Tại Trung Quốc, niệm Phổ Môn được cảm ứng rất nhiều, như trong năm Dân Quốc hai mươi sáu (1937), bà Đào Thị Thập Lục, vợ góa của họ Nguyên, không con, thường trì niệm Quán Âm Phổ Môn Phẩm, đột nhiên mộng thấy một người áo trắng tay cầm một đóa sen trắng trao cho ăn. Ba năm sau, thấy quang minh Phật, trên hộp đựng kinh thấy có khối lửa to như viên đạn, bà sợ kinh bị cháy, lấy tay phẩy, bèn được một hạt xá-lợi. Lúc lâm chung, hóa Phật đến đón, từ biệt đại chúng ra đi.

 

5. Giải thích sơ lược tựa đề của phẩm kinh này

 

Phẩm này mang tên “Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”, tổng cộng tám chữ. Quán Thế Âm Bồ Tát là Nhân (người), Phổ Môn Phẩm là Pháp. Quán Âm là người năng chứng, Phổ Môn là pháp được chứng. Bởi thế, phẩm này dùng Nhân và Pháp để đặt tên.

Trong năm chữ dùng Nhân để đặt tựa, ba chữ đầu là biệt danh, chỉ mình Quán Âm là có thể xưng hô như thế, hai chữ sau là tên gọi chung. Phàm những ai phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo, đều có thể gọi là Bồ Tát, chứ chẳng phải chỉ để gọi riêng một ai.

Quán Thế Âm là đức hiệu của Bồ Tát; có lúc còn gọi là Quang Thế Âm (2), có khi gọi là Quán Tự Tại, có lúc gọi tắt là Quán Âm. Danh xưng Quán Thế Âm là do ngài Tam Tạng La Thập phiên dịch, còn Quang Thế Âm là do ngài Tam Tạng Trúc Pháp Hộ phiên dịch. Quán Tự Tại là do ngài Tam Tạng Huyền Trang phiên dịch. Ngài còn được gọi là Quán Thế Tự Tại hoặc Thánh Quán Tự Tại. Thánh là chữ tán thán.

Theo bản Tâm Kinh Lược Sớ của ngài Pháp Tạng, chữ Quán Tự Tại có hai nghĩa:

1) Ước theo trí giải thoát, thì với trí huệ của Quán Âm, Ngài đã thấy cảnh sự lý vô ngại, đạt đến mức độ tự do, tự tại, chẳng còn chút chướng ngại mảy may nào.

2) Ước theo bi giải thoát thì đối với những cơ nghi đáng được hóa độ, thường hiện ra trước cứu giúp, lòng đại bi của Quán Âm cũng đã đạt đến mức tự do, tự tại, chẳng còn nhận thấy có gì bó buộc, xem xét thế giới, tự tại dẹp khổ, ban vui, nên gọi là Quán Thế Tự Tại.

Còn ý nghĩa chữ Quán Thế Âm do ngài La Thập dịch thì đến phần giải thích kinh văn sau này sẽ giảng tường tận.

Tuy có các danh xưng bất đồng, kỳ thực là một người. Nếu so giữa cách dịch của ngài La Thập và ngài Huyền Trang thì: một đằng chú trọng dịch ý, một đằng chú trọng dịch thẳng, cho nên mới dịch khác nhau, chẳng thể nói ai dịch đúng, ai dịch sai. Chẳng qua người trong niệm thường quen xưng niệm là Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc Quán Âm.
      Bồ Tát là tiếng Ấn Độ gọi tắt, nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, Hán dịch là Giác Hữu Tình, tức là đại tâm chúng sanh thượng cầu Đại Giác, hạ hóa hữu tình. “Thượng cầu đại giác” là tác dụng của đại trí. “Hạ hóa hữu tình” là tác dụng của đại bi. Bởi thế, phàm là Bồ Tát thì đều là bi trí song vận. Bất quá, chữ Bồ Tát trong Phật giáo không chuyên chỉ các vị đại Bồ Tát được thờ trong điện đường, mà còn chỉ những người phát tâm và những vị Bồ Tát sống trong nhân gian thật sự hành Bồ Tát đạo.

Bây giờ tôi nói tiếp về ba chữ dùng Pháp để đặt tựa, Phổ Môn Phẩm. Phẩm có nghĩa là Loại, tức là loại nào xếp theo loại nấy, nghĩa là vật được gom thành từng loại thì gọi là Phẩm. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, hết thảy mọi chuyện về Quán Thế Âm được đức Phật quy kết giảng tại đây, nên gọi là Phẩm.

Phổ nghĩa là “phổ biến”, Môn nghĩa là “có thể đi qua, thông suốt”. Như trước mặt chúng ta đây thấy một cái cửa lớn, có cái cửa lớn như vậy ai cũng đều có thể ra vào qua lại tự tại. Nếu như cái nhà này không có cái cửa đó, muốn từ ngoài vào trong, cố nhiên chẳng có cách nào; muốn từ trong đi ra ngoài, cũng giống vậy, chẳng có cách gì!

Nói đến chữ Môn trong Phật pháp, thì từ địa ngục đến khi thành Phật, tổng cộng có mười cánh cửa. Chìa khóa của mỗi cửa đều nằm trong tay chúng ta. Chúng ta muốn tiến vào cửa nào, phải mở được cánh cửa ấy. Chẳng mở được thì chẳng tiến vào được. Nêu thí dụ: Ví dụ như cửa địa ngục vốn khóa rất chắc, sao có thể tiến vào được? Vấn đề rất đơn giản, chỉ cần quý vị tạo tội nghiệp Ngũ Nghịch, Thập Ác, quý vị bèn có được chìa khóa cửa địa ngục. Có chìa khóa ấy rồi, tùy thời bèn mở được cửa địa ngục, tự nhiên đi vào địa ngục. Nếu như không có chìa khóa đó, dù có muốn tiến vào đến đâu đi nữa, kết quả vẫn chẳng thể vào trong được cửa ấy.

Từ ngoài cửa tiến vào trong cửa, những sự khổ vui bên trong cửa thật khác xa nhau. Nói theo thế gian: Có những cửa bên trong thật là khoái lạc, như thiên đường thường ngụp lặn trong dục lạc và định lạc; có những cửa bên trong khá thống khổ, như ba đường ác, hoặc chịu nỗi thống khổ nóng lạnh, hoặc chịu nỗi khổ tàn sát, hoặc chịu nỗi khổ đói khát. Bất quá, mọi chìa khóa nằm trong chính tay mình, muốn tiến vào cái cửa nào, hoàn toàn do mình quyết định.

Chẳng qua, mười pháp giới tuy có mười cánh cửa, nhưng chỉ có một cánh cửa Phật đạo được gọi là Phổ Môn. Như cánh cửa sáu đường trong thế gian thuộc về cửa hữu lậu, muốn thông với vô lậu, tự nhiên là chẳng được, bởi thế nó chẳng được gọi là Phổ Môn. Cửa xuất thế Nhị Thừa thông thường gọi là Không Môn, đối với sanh tử phiền não chỉ có thể giải thoát một nửa, cho nên cửa này chẳng được gọi là Phổ Môn. Đến như cửa Bồ Tát, rớt vào hai bên Không và Hữu, chẳng thể Không Hữu viên dung, nên cũng chẳng thể gọi là Phổ Môn.

Phật đạo sở dĩ gọi là Phổ Môn là vì sau khi thành đạo, Phật vốn vì đại bi nguyện lực, tiến vào địa ngục giáo hóa chúng sanh. Tuy nói là cửa địa ngục đóng rất chặt, nhưng do sức bi nguyện, muốn tiến vào liền được, chẳng trở ngại chút nào. Vào cửa địa ngục là như thế, vào các cửa ngạ quỷ, súc sanh v.v… cũng giống như thế, nói chung là xuất nhập tự tại, vô ngại tự tại, cho nên gọi là Phổ Môn.

Ở đây, có lẽ có kẻ muốn hỏi: “Đã phải thành Phật mới có thể xưng là Phổ Môn, Quán Âm là Bồ Tát còn chưa thành Phật, sao có thể xưng là Phổ Môn?” Ở đây, chẳng ngại gì nói về hai phương diện Bản và Tích. Từ Bản mà nói, Quán Âm đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, đã có đủ bi nguyện của Phật, đương nhiên có thể xưng là Phổ Môn. Nếu nói theo Tích, Quán Âm tuy còn chưa thành Phật, nhưng đã ở địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ, đã đủ công đức Phật, có thể vào trong các cửa độ sanh, cho nên có thể gọi là Phổ Môn.

 

6. Giải thích riêng chữ Phổ Môn

 

Trong phần giải thích tên phẩm, tuy đã giải thích sơ lược hai chữ Phổ Môn, nhưng vẫn còn có ý nghĩa trọng yếu cần phải giải thích riêng. Bởi thế, tôi lại giải thích như sau:

 

6.1. Từ bi Phổ Môn:

 

Từ Bi là pháp môn trọng yếu nhất trong Phật pháp, cũng là điều thường được nhắc đến nơi cửa miệng đệ tử Phật. Như xin người nào đó giúp đỡ mình, nếu như người ta nói không rảnh, ta thường nói: “Xin anh từ bi”, hoặc người khác thỉnh cầu đệ tử Phật, cũng nói: “Quý vị đệ tử Phật lấy từ bi làm gốc, tin rằng sẽ đáp ứng điều tôi cầu xin”. Từ bi còn được vận dụng trong nhiều hoàn cảnh khác. Từ bi là trung tâm của Phật pháp, với ý nghĩa căn bản: “dẹp khổ ban vui”. Tuy cùng gọi là Từ Bi, nhưng trình độ có sâu hoặc cạn. Về đại thể, Phật pháp chia Từ Bi thành ba loại:

 

a) Ái Kiến Từ Bi:

Có kinh còn gọi là Sanh Duyên Từ Bi. Có thể nói là người nào trong thế gian cũng có lòng từ bi này; như làm cha mẹ yêu thương, che chở con cái, có thể nói là một biểu hiện của lòng từ bi. Nhưng lòng từ bi ấy chẳng thể phổ biến rộng lớn, trong đó vẫn hàm chứa tánh nhiễm ô và tâm phân biệt, chẳng thể cứu tế rộng khắp hết thảy chúng sanh, còn có hạn lượng; cho nên chẳng thể gọi là Phổ Môn.

 

b) Pháp Duyên Từ Bi:

Lòng từ bi này chẳng phải ai trong thế gian cũng có được, mà là lòng từ bi của bậc thánh giả Nhị Thừa. Thánh giả Nhị Thừa hiểu rõ vạn hữu chư pháp và mạng thể của chính mình đều là do các nhân duyên, điều kiện hợp thành, duyên sanh vô tánh, pháp pháp đều không. Thế nhưng các Ngài chỉ biết đến cái Không, chưa biết Bất Không, chỉ có thể tùy duyên hóa độ, chẳng thể giáo hóa khắp hết thảy chúng sanh, bởi thế lòng từ bi này vẫn chưa phải là Phổ Môn.

 

c) Vô Duyên Từ Bi:

Đây là lòng từ bi của Phật, Bồ Tát, thật sự có thể gọi là Phổ Môn từ bi. Lòng từ bi như thế, nếu nói tách rõ ra là “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”. Bất luận là Phật hay Bồ Tát đều hiểu rõ đạo lý sau đây: Chúng sanh là chúng sanh trong tâm của Phật, Bồ Tát. Trong mắt của Phật, Bồ Tát, chúng sanh và chính mình vốn là một thể, nên tất cả thống khổ của chúng sanh chính là tất cả thống khổ của mình. Chúng sanh chưa được sướng vui, khác nào chính mình chưa được sướng vui. Nếu nói theo Nho gia Trung Quốc thì: “Ưu kỳ sở ưu, lạc kỳ sở lạc” (Lo cái lo của người, vui với niềm vui của người). Đứng trên lập trường của Phật, Bồ Tát, vốn không có lo khổ mà cũng chẳng có sướng vui. Chỉ vì thấy chúng sanh đau khổ, nên tự biết là khổ, do thấy chúng sanh sướng vui, trong tâm tự sướng vui. Thấy chúng sanh giải thoát, hệt như chính mình được giải thoát. Trong con mắt của Phật, Bồ Tát, chỉ thấy có chúng sanh, nào có chính mình.

Vì thế, Phật, Bồ Tát tuyệt đối chẳng thấy có tướng ta - người sai biệt, cho nên suốt ngày độ sanh, chẳng thấy một ai được mình độ; tự mình và chúng sanh đã hòa hợp dung thông thành một thể, thật sự chẳng thể phân ra ai là người hóa độ, ai là người được độ. Tuy chẳng thấy có người độ và kẻ được độ, nhưng vẫn liên tục không gián đoạn, tinh tấn chẳng lười, hóa độ tất cả hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới, không một chúng sanh nào chẳng được Phật, Bồ Tát cứu độ. Đó là Vô Duyên Đại Từ, Đồng Thể Đại Bi, mà cũng chính là Từ Bi Phổ Môn chân chánh.

Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn là do tất cả sự từ bi của Quán Âm Bồ Tát đều là vô duyên từ bi. Chính vì Bồ Tát có tâm từ bi rộng lớn như thế, nên ở trong thế giới Sa Bà này, vận dụng lòng từ bi đó hóa độ hết thảy những chúng sanh đáng được độ, bởi thế, cũng được xưng là Phổ Môn Từ Bi.

 

6.2. Thuyết pháp Phổ Môn

 

Phật, Bồ Tát xuất hiện trong thế gian, chẳng hề vì mình, mà đa phần là vì chúng sanh, vì muốn thuyết pháp cho chúng sanh. Phật vì chúng sanh thuyết pháp rất nhiều, nào là đại pháp, tiểu pháp, không pháp, hữu pháp, quyền pháp, thật pháp, các pháp sai khác nhau. Người bình thường khi thuyết pháp độ sanh, do chẳng có trí huệ phân biệt căn tánh của chúng sanh nên lúc giảng đại pháp chẳng thể kiêm giảng tiểu pháp; còn lúc giảng tiểu pháp, chẳng thể kiêm giảng đại pháp. Giảng các pháp không, hữu, quyền, thật cũng thế. Thuyết pháp chẳng được phổ biến thì chẳng được gọi là Phổ Môn!

Quán Âm Bồ Tát có đủ trí huệ thâm diệu, lúc thuyết pháp, trong cùng một pháp hội, Ngài nói ra các pháp bất đồng, khiến cho mỗi thính chúng hiện diện đều hiểu rõ hệt như Ngài đối trước chính mình thuyết pháp, đều được thọ dụng thật sự nơi Phật pháp, bởi thế gọi là Thuyết Pháp Phổ Môn.

Thêm nữa, những ngôn từ sử dụng trong lúc thuyết pháp giữa phàm phu và Bồ Tát rất khác biệt. Mỗi địa phương ngôn ngữ lại bất đồng, lục đạo cũng khác biệt. Như tôi chẳng nói được các phương ngôn Quảng Đông, Phước Kiến v.v… lúc thuyết pháp cho người xứ Việt (Quảng Đông), phải dịch thành tiếng Quảng, lúc vì người xứ Mân (Phước Kiến) thuyết pháp phải dịch sang tiếng Mân. Nếu không, những ai thuộc các địa phương đó chẳng hiểu tôi đang nói gì. Bởi thế, chẳng được gọi là Phổ Môn.

Quán Âm Bồ Tát đã đắc Ngữ Ngôn Tam Muội, “có thể dùng một âm thanh diễn nói pháp, chúng sanh tùy loại đều được hiểu”, đấy phải đâu là chuyện dễ! Âm thanh Bồ Tát thốt ra chỉ là một, nhưng mỗi một loại chúng sanh sai khác đều nghe như Ngài nói tiếng của chính mình, chẳng hạn như người Mân Nam nghe thành tiếng Mân Nam, người Quảng Đông nghe thành tiếng Quảng Đông, thiên long bát bộ nghe thành tiếng của thiên long bát bộ, chẳng phải là Phật, Bồ Tát, sao có thể làm được như thế? Đấy là Thuyết Pháp Phổ Môn.

 

7. Những phẩm kinh chị em của Phổ Môn

 

Phổ Môn là phẩm kinh được rút ra từ kinh Pháp Hoa để lưu truyền riêng, cố nhiên phẩm này rõ ràng mang tánh chất trọng yếu, nhưng kinh Pháp Hoa là lời giảng “khai Quyền hiển Thật” đến mức độ cùng cực của Như Lai, diễn tả, phô bày rõ đại pháp Nhất Thừa. Bởi thế, luận về mặt trọng yếu, toàn bộ hai mươi tám phẩm kinh, phẩm nào cũng cực trọng yếu, chẳng thể nói phẩm nào không liên quan đến ý chỉ hoằng dương. Tuy nói như thế, từ xưa, các vị đại đức đặc biệt rút lấy các phẩm Phương Tiện, An Lạc Hạnh, Như Lai Thọ Lượng, Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm trong kinh, gộp thành bốn phẩm trọng yếu nhất của kinh Pháp Hoa; mỗi phẩm đại biểu cho một ý nghĩa đặc thù nhất.

Theo cổ nhân phân biệt:

- Phẩm Phương Tiện hiển thị: Mỗi một cá nhân chánh thức phát tâm. Phát tâm nói thông tục là “động cơ”. Bất luận làm gì, thì trước hết phải phát tâm, hay nói cách khác là phải có động cơ. Trong Phật pháp, quý vị muốn rốt cuộc đi theo một con đường nào, thì phải xem hiện giờ quý vị phát tâm như thế nào. Đại Thừa Phật pháp phải lấy phát tâm Bồ Đề làm chủ.

- Phẩm An Lạc Hạnh hiển thị: Mỗi cá nhân do phát tâm, bèn tu hành đúng như lời dạy. “Tu hành” nói thông tục là “thực hiện”. Phát tâm Bồ Đề rồi, tất nhiên phải tiến bước trên con đường Bồ Đề, nhưng phải biết đúng pháp đúng luật. Trong phẩm này có những lời giáo hóa rất hay.

- Phẩm Thọ Lượng hiển thị: Mỗi cá nhân do tu hành bèn chứng đắc Bồ Đề vô thượng tối cao, vì đã có thực hiện, tất nhiên chẳng luống qua, tất nhiên có thâu hoạch.

- Còn như phẩm Phổ Môn đang được giảng ở đây thì hiển thị vô trụ đại Niết Bàn của mỗi cá nhân chứng đắc, bởi thế mới có thể chẳng trụ trong sanh tử, chẳng trụ Niết Bàn mà độ sanh, như những gì đức Quán Âm đã biểu hiện chính là thuyết minh hay nhất của vô trụ đại Niết Bàn.

Nếu nói về phương diện tu học Phật pháp thì phát tâm, tu hành, chứng quả là ba mức độ lớn. Chỉ vì cực quả để chứng đắc trong Đại Thừa có hai loại: quả đại Bồ Đề và quả đại Niết Bàn, cho nên phân thành hai phẩm (Thọ Lượng và Phổ Môn). Theo cách phân tích này, ta thấy bốn phẩm này là bốn phẩm tối trọng yếu trong toàn bộ kinh Pháp Hoa, ba phẩm kia chính là chị em của phẩm Phổ Môn.

Trong hai mươi tám phẩm của kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn đứng vào thứ hai mươi lăm. Ở trên đã nêu lên nội dung của bốn phẩm tối trọng yếu, ở đây, chẳng ngại gì lại nêu lên nội dung của hai mươi tám phẩm. Theo cổ đức phán định, hai mươi tám phẩm được chia thành hai bộ phận lớn, tức là như tông Thiên Thai gọi là Tích Môn và Bản Môn. Nay theo thứ tự, thuyết minh như sau:

Mười bốn phẩm đầu thuộc về Tích Môn, mười bốn phẩm sau thuộc về Bản Môn. Hai danh từ Bản Môn và Tích Môn mọi người nghe đến thấy rất xa lạ mà cũng chẳng dễ hiểu, lẽ đương nhiên phải giải thích đại lược.

Bản có nghĩa là căn bản. Từ căn bản mà nhìn Thích Ca Mâu Ni Phật, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã sớm thành Phật từ lâu, thành Phật rất sớm, vượt ngoài sự tưởng tượng của chúng ta. Trong phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ mười sáu, có đoạn nói như thế này:

“Hết thảy thế gian: trời, người và A Tu La, đều cho rằng Thích Ca Mâu Ni Phật rời khỏi cung họ Thích, đến thành Già Gia chẳng xa, ngồi nơi đạo tràng, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Thế nhưng thiện nam tử! Thật sự từ khi ta thành Phật đến nay là vô lượng vô biên, trăm ngàn ức na-do-tha kiếp. Ví như năm trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới, giả sử có người nghiền thành vi trần, đi qua năm trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi ở phương Đông mới bỏ xuống một hạt bụi, đi về phía Đông như thế đến tột cùng các thế giới nhiều như vi trần như thế… dù chẳng bỏ xuống hay không bỏ xuống một hạt bụi, hết sạch số bụi đó, cứ mỗi hạt bụi là một kiếp. Ta từ khi thành Phật đến nay lại còn nhiều hơn số đó trăm ngàn na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp”.

Do đây biết rằng đức Phật thành Phật, thật đã rất lâu xa về trước, tuyệt đối chẳng phải như mọi người thường tưởng chỉ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, đức Thích Ca mới thành Phật.

Tích có nghĩa là tỏ lộ dấu vết, tức là sau khi đấng Thích Tôn đã thành Phật từ lâu xa rồi, thường trong các thế giới thị hiện giáo hóa chúng sanh. Phàm những gì Phật thị hiện đều gọi là Tích cả. Tích từ do Bản mà có – "tùng bản thùy tích" (từ căn bản thị hiện ra) – đương nhiên Tích chẳng phải là Căn Bản. Kinh Phạm Võng ghi: “Ta nay đến thế giới này tám ngàn lượt, vì thế giới Sa Bà này ngồi trên tòa Kim Cang Hoa Quang Vương...” cố nhiên cũng là “thùy tích”. Kinh Pháp Hoa chép:

“Từ đấy trở đi, ta thường trụ trong thế giới Sa Bà này thuyết pháp giáo hóa, cũng ở trong trăm ngàn vạn na-do-tha a-tăng-kỳ cõi nước ở phương khác làm đạo sư cho chúng sanh.

Này các thiện nam tử! Trong những khoảng đó, ta nói Nhiên Đăng Phật v.v… lại còn nhập Niết Bàn, như thế đều là dùng phương tiện phân biệt”.

Đây cũng là Tích chẳng phải là Bản.

Nói chung, những gì chúng ta biết về đức Thích Ca Mâu Ni đều là những sự thuộc phương diện Tích Môn, còn những sự thuộc về phương diện Bản Môn, chúng ta chẳng thể suy lường hiểu thấu nổi!

Vì sao đức Phật thường thị hiện chẳng ở lâu giáo hóa trong thế gian? Phải biết đây cũng là điều khổ tâm bất đắc dĩ của đức Phật. Nguyên nhân là vì chúng sanh thường quen thói, cứ hễ thường trông thấy Phật bèn thấy Phật rất bình thường, chẳng chịu theo đúng pháp đức Phật đã dạy để tu hành. Phẩm Như Lai Thọ Lượng kinh Pháp Hoa có đoạn: “Nếu đức Phật ở lâu trong đời, kẻ đức mỏng chẳng trồng thiện căn, bần cùng, hạ tiện, tham đắm ngũ dục, vào trong lưới ức tưởng vọng kiến. Nếu thấy Như Lai thường trụ bất diệt, càng khởi lòng kiêu căng, buông lung, giải đãi, chẳng thể sanh ý tưởng khó gặp, khởi lòng cung kính”. Bởi thế đức Phật chẳng thể không nhiều lần thị hiện giáng sanh, nhiều lần thị hiện nhập diệt, để cao độ cảnh giác chúng sanh.

 

8. Giải thích đề mục kinh Diệu Pháp Liên Hoa

 

Đã lược giảng tên gọi phẩm này, tôi lại giảng sơ lược tựa đề kinh này. Bốn chữ Diệu Pháp Liên Hoa nếu giảng nghiêm túc rất phức tạp, nội một chữ Diệu thôi, Thiên Thai Trí Giả đại sư phải giảng chín mươi ngày. Câu nói “cửu tuần đàm Diệu” (chín tuần (2) giảng chữ Diệu) đã trở thành một giai thoại khoái trá trong lịch sử giảng kinh Trung Quốc. Bởi thế, muốn giải thích chi tiết trong một thời gian ngắn ngủi, đương nhiên là chẳng thể được, chỉ đành nói giản lược mà thôi.

Chữ Pháp trong Diệu Pháp chỉ hết thảy pháp, như pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp phàm phu, pháp thánh nhân v.v… không pháp nào chẳng bao hàm trong đó. Các pháp như thế, nhất nhất thuyết minh, đương nhiên là chẳng thể, mà thật ra cũng chẳng cần thiết. Bởi thế, Phật giáo đem vô lượng vô biên pháp quy nạp thành ba loại lớn; đó là tâm pháp, chúng sanh pháp và Phật pháp. Bất luận loại pháp nào cũng đều hết sức vi diệu; bởi thế gọi là Diệu Pháp, tức là: tâm pháp là diệu, chúng sanh pháp là diệu, Phật pháp cũng là diệu. Tách riêng từng pháp cố nhiên là diệu, nhưng ba pháp chẳng sai biệt lại càng diệu hơn nữa; nói “tâm, pháp và chúng sanh, ba pháp ấy không sai biệt” chính là nói về ý này. Đạo lý này rất sâu, tuy nghe chẳng dễ hiểu, nhưng Diệu Pháp chẳng thể nghĩ bàn ai ai cũng sẵn có, tuyệt đối chẳng thể coi thường. Sở dĩ, chúng sanh là chúng sanh là vì mê mất diệu pháp này, sở dĩ chư Phật thành Phật là vì giác ngộ diệu pháp này. Bởi thế, giờ đây, tất yếu lại phải phân biệt [từng pháp]!

Vì sao tâm pháp là diệu? Muốn hiểu điều này, trước hết phải hiểu rõ mười pháp giới đã nói ở trên. Mười pháp giới là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A Tu La, người, trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Mười pháp giới này nếu nói tách ra thì sai biệt bất đồng, rất dễ hiểu, nhưng “giới giới hỗ cụ” (mỗi một giới có đầy đủ các giới khác), nghĩa ấy sâu rộng, rất khó hiểu rõ.

Nói “giới giới hỗ cụ” nghĩa là trong mỗi một giới đều có đủ chín giới khác. Chẳng hạn như địa ngục pháp giới, chẳng phải chỉ là mình địa ngục pháp giới, nó vẫn có đủ chín pháp giới khác, thậm chí nói đến Phật pháp giới, chẳng phải là một Phật pháp giới mà còn có đủ chín giới khác nữa. Mỗi giới có đủ mười giới, tổng cộng là bách giới (10x10=100); một trăm giới ấy, trong một niệm tâm của mỗi người chúng ta đều có đủ. Chẳng hạn như trong nhân pháp giới, lấy một niệm hiện tiền làm trung tâm, thì phàm ai có tâm, không ai chẳng khởi tâm động niệm, trong từng thời khắc khởi lên những niệm tâm sai khác. Có lúc khởi một niệm sân tâm, bèn rơi vào địa ngục pháp giới. Có lúc khởi lên một niệm tham tâm, bèn rơi vào ngạ quỷ pháp giới. Có lúc khởi một niệm ngu si bèn rớt vào súc sanh pháp giới. Có lúc khởi một niệm ghen ghét bèn rớt vào Tu La pháp giới. Có lúc khởi lên một niệm Giới Thiện, bèn thuộc nhân loại pháp giới. Có lúc khởi niệm Thập Thiện, Tứ Thiền, Bát Định bèn rớt vào Thiên pháp giới. Có lúc khởi một niệm Chân Không bèn thuộc vào Thanh Văn pháp giới. Có lúc khởi một niệm duyên khởi, bèn thuộc vào Duyên Giác pháp giới. Có lúc khởi một niệm đại Bồ Đề tâm bèn thuộc vào Bồ Tát pháp giới. Có lúc khởi một niệm tâm từ bi, bình đẳng bèn thuộc v