Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ

Trước khi giải kinh này, xin dùng năm nghĩa: Danh, Thể, Tông, Dụng, Giáo để phân định:

1- Thích Danh: Danh đề Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, nếu nói theo tiếng Việt chính là: Lời Giải Kinh Phật Nói Quán Vô Lượng Thọ.

Về Lời Giải, phần sớ văn trong đây y theo nguyên tác của ba Ngài: Thiên Thai, Thiện Đạo, Nguyên Chiếu, bớt chỗ phiền, lựa điểm yếu mà trích lục ra.

Kinh có nghĩa: Thường Pháp hay Khế Pháp. Thường Pháp là pháp chư Phật, thánh nhơn trong ba đời thường nói. Khế pháp là pháp ấy hợp với chân lý, thời tiết, nhân duyên, và căn tánh của chúng sanh.

Phật, nói cho đủ là Phật Đà, có nghĩa; giác ngộ. Sự giác ngộ này lại gồm 3 nghĩa: tự giác ngộ, giác ngộ cho người, và hạnh giác ngộ đã đầy đủ. Danh từ Phật trong đây chỉ cho đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Kinh điển của thánh giáo, đại khái do năm bậc là : Phật, các Thánh đệ tử, Thiên Tiên, Quỷ Thần, và Hóa Nhơn nói ra. Trong đây gọi Phật nói là để giản biệt với bốn bậc kia, và chính đức Phật đã vì bà Vi Đề Hy cùng quyến thuộc, nói ra kinh này ở cung vua Tần Bà Sa La.

Quán nghĩa là soi. Người tuy theo lời Phật dạy, dùng trí huệ thanh tịnh cùng sức tín nguyện của mình soi rõ chính báo, y báo cõi Cực Lạc, gọi là (Quán). Tịnh Ðộ giáo có bốn pháp tu là: Quán Tướng, Quán Tượng, Trì Danh và Thật Tướng. Kinh này phần chánh yếu dạy về Quán-tưởng-môn. Sự Quán-tưởng trong đây có hai phần: Chánh Báo và Y Báo.

Phần Chánh Báo có hai: Chủ Trang Nghiêm và Thánh Chúng Trang Nghiêm. Chủ Trang Nghiêm là đức Phật A Mi Đà. Thánh Chúng Trang Nghiêm là hai vị Bồ Tát đó là Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, chư thượng thiện nhân hiện đang ở Cực Lạc, cùng hải chúng khắp mười phương sanh về.

Phần Y Báo có ba: Địa-hạ trang nghiêm, Địa-thượng trang nghiêm, và Hư Không trang nghiêm.

Địa hạ trang nghiêm là sự trang nghiêm ở dưới bảo địa cõi Cực Lạc, như tất cả tràng báu cùng ánh sáng chói suốt lẫn nhau.

Địa thượng trang nghiêm là sự trang nghiêm nơi mặt đất, như bảo địa, bảo trì, bảo lâu, bảo thọ cùng các thứ câu lơn, đài báu...

Hư Không trang nghiêm là sự trang nghiêm ở hư không, như hóa cầm, lâu các, lưới báu, linh ngọc, âm nhạc, gió, ánh sáng...

Ba thứ trang nghiêm trên đây đều là thắng tướng nhiệm mầu nơi cõi Cực Lạc.

Vô Lượng Thọ là dịch âm của danh từ Phạn ngữ A Mi Đà ( AMiTa ) chỉ cho ý nghĩa: sự sống không lường. Câu Nam Mô A Mi Đà Phật, nếu phiên âm từng chữ theo Hán việt thì là: Quy mạng Vô Lượng Thọ Giác, tức chỉ cho ý nghĩa: “Xin nương về đấng giác ngộ có sự sống không lường”.

Trong đây nói Quán Vô Lượng Thọ là mật ý muốn cử chánh báo để gồm y quả, thuật hóa chủ để kiêm đồ chúng: cho nên tuy nội dung có mười sáu pháp quán mà chỉ nói Phật là đã đầy đủ. Vì thế nên gọi: Phật nói Quán Vô Lượng Thọ.

2- Biện Thể: Thể là chủ chất. Thích Luận nói: “Trừ Thật Tướng của các pháp, ngoài ra tất cả đều là ma sự”. Các kinh Đại thừa đều lấy Thật Tướng làm tâm ấn, dùng vô lượng công đức để trang nghiêm, vô lượng hạnh nguyện làm chỗ qui thú. Vậy kinh này lấy Thật Tướng làm thể.

3- Minh Tông: Tông có nghĩa là cội gốc, là nguồn mối: như ngôi nhà có kèo cột, chiếc áo có cái bâu. Do tông chỉ không đồng, nên giáo pháp có lớn nhỏ. Như các kinh Tiểu Thừa, tông chỉ phần nhiều đi về chỗ siêu thoát, ba cõi, tu chứng Nhơn Không. Các kinh Ðại Thừa, như kinh Duy Ma thì lấy Bất-tư-nghì-giải thoát làm tông; kinh Đại Bát Nhã làm Không Huệ làm tông. Kinh này lấy Quán Phật tam muội hay Niệm Phật tam muội làm tông.

4- Thuyết Dụng: Dụng tức là lực dụng hay công đức của kinh. Các kinh hay khiến cho chúng sanh được sự trừ ác sanh thiện, nên gọi là lực dụng, là công đức. Nếu phân tích ra thì công năng trừ ác gọi là “lực”. Sanh thiện gọi là “Dụng”; trừ ác gọi là Công, sanh thiện gọi là Ðức. Kinh này hay khiến cho chúng hữu tình “trừ được tội ngũ nghịch, vãng sanh về Tịnh Ðộ”, nên nay lấy tiêu điểm ấy làm lực dụng của kinh.

5- Nhiếp Giáo: Kinh này thuộc về giáo pháp Đại thừa tên là Đại Phương Ðẳng hay Đại Phương Quảng. Sao gọi là Đại Phương Quảng? Thám Huyền Nghĩa Ký bảo: “Nói ra pháp rất rộng lớn sâu xa, nên gọi là Phương Quảng” (Tuyên thuyết quảng đại thậm thâm pháp cố, danh vi Phương Quảng ). Về Tịnh Ðộ giáo, vì muốn thích hợp với các căn cơ, nên đức Thế Tôn nói ra ba bổn kinh rộng, lược không đồng. Hai bổn kia là kinh Phật Thuyết A Mi Đà và kinh Vô Lượng Thọ. Riêng về bổn này, vào thời Nam Bắc triều, đời Tống Văn Đế, niên hiệu Nguyên Gia, ngài Cương Lương Gia Xá, đến Dương Châu dịch từ Phạn ngữ ra Hán văn. Và kinh này trong tám giáo nhiếp về Ðốn Giáo, trong hai tạng thuộc về Bồ Tát tạng.