|
* Bồ Tát hỏi ông Ðạt Bổn: “Ông muốn gì?” Ðáp: “Con muốn minh tâm”. Bồ Tát bảo: “Nói suông đầu môi chót lưỡi mà được sao? Phải siêng niệm Phật, công ấy gấp mười. Lại dạy cho ông bài kệ như sau:
Ngoài tâm không Phật Phật là tâm ông. Tin sâu chẳng ngờ Nhất niệm vô sanh”.
* Bồ Tát dạy ông Tra Ðịnh Hoằng: - Ông trì kinh Kim Cang Bát Nhã nên biết là có bảy lúc chẳng nên trì kinh, tức là: tâm hôn ám thì chẳng nên trì, có lầm lỗi thì chẳng nên trì, vào chỗ bất tịnh vừa xong chẳng nên trì, sau khi uống rượu chẳng nên trì, bị người quấy nhiễu chẳng thanh tịnh thì không trì, có sự sắp phải làm mà mình chưa làm thì không trì, tâm nhớ giữ điều chi khác thì đừng trì. Nếu bền lòng thọ trì thì phải tránh điều ấy. Tụng đến thuần thục thì liền ngay trong khi quán tâm mà trì. Nếu làm được như vậy thì công đức chẳng thể nghĩ bàn, quả báo chẳng thể nghĩ bàn. Phật nói ra lời thành thật, ông phải nên gìn giữ lấy. Ta dạy ông bài kệ sau đây:
Một kinh Bát Nhã Công đức vô tận Nhổ gốc vọng tưởng Thoát bịnh sanh tử
* Bồ Tát dạy ông Trần Ðịnh Chuyên: - Kẻ tiểu nhân làm ác chỉ sợ người khác biết; người quân tử làm lành cũng chỉ sợ người khác biết. Ông nên dùng cái tâm dè dặt của người quân tử để làm Phật sự. Ta bèn có bài kệ như sau:
Ðừng mong người khác biết Chớ mong trời cảm ứng Thường giữ được nhất tâm Cho kiên cố, chơn chánh.
Bồ Tát dạy ông Trần Ðịnh Mẫn như sau: - Ông chưa đầy 20 tuổi đã biết quy hướng về đạo, thật là sẵn túc nhân. Nay ta đặt tên cho ông là Mẫn. Chữ Mẫn có bốn nghĩa: thông duệ, siêng gắng, mầu nhiệm, và nhanh chóng. Thông duệ để trừ sự tối tăm của ông. Siêng gắng là ngăn trừ biếng lười, mầu nhiệm là khai phát trí huệ, nhanh chóng là phát khởi những gì ông bỏ phế. Ông nên nhìn vào cái tên ấy, suy nghĩ ý nghĩa, đừng nghĩ là Bồ Tát chỉ cho ông một cái tên suông mà thôi! Ta lại dạy ông bài kệ sau:
Ông tuổi còn nhỏ Nên học hiếu đễ Ðể mà giữ thân Ðừng đánh mất chí.
* Ngày hôm ấy, ông Trần Ðại Tâm đến sau mọi người, Bồ Tát hỏi: “Ông tu trì thế nào?” Ông đáp: “Con chỉ tu Tịnh Ðộ”. Bồ Tát bảo: “Ngoài pháp này ra, còn có pháp nào hơn được nổi đâu? Ta ban cho ông một bài kệ:
Ðạo không nói gì khác, Chỉ là tâm mà thôi Thai sen vừa mới thành Chuyên ròng, đừng nhị tâm.
* Bồ Tát nói: - Một môn Tịnh Ðộ ta dạy đó thật sự là tâm tông của chư Phật, là đường tắt của trời người. Nay các ông tuy cầu vãng sanh nhưng phát nguyện chưa thiết tha, như người vào trong biển cả chẳng nhặt lấy bảo châu thì chỉ nhọc nhằn vô ích thôi! Xưa kia vào thời Tấn Minh Ðế (323-326), ta mang thân nghèo hèn. Vì bần khổ nên phát đại nguyện rằng: ‘Tôi do túc nghiệp chịu lấy khổ báo này. Nếu ngày hôm nay tôi chẳng được thấy đức A Di Ðà Phật, sanh về cõi Cực Lạc, thành tựu hết thảy công đức thì dẫu cho táng thân trọn chẳng lui nghỉ’. Thề xong, trong bảy ngày bảy đêm, chuyên tinh ức niệm, tâm liền được khai ngộ, thấy A Di Ðà Phật: tướng hảo quang minh khắp cả mười phương thế giới. Ở ngay trước Phật, ta đích thân được thọ ký. Sau đấy, đến năm bảy mươi lăm tuổi ngồi tịch. Ðã sanh về cõi Cực Lạc rồi, sau vì ý nguyện độ sanh sâu nặng nên lại sanh vào thế giới này, tùy theo từng nơi mà hiển hóa: hoặc làm tỳ kheo, hoặc làm cư sĩ, hoặc làm quốc vương, hoặc làm quan lại, hoặc mang thân nữ, hoặc làm kẻ đồ tể, ăn mày, dù ẩn hay hiển, dù thuận hay nghịch, đều tùy thuận thuyết pháp, dẫn dắt các phẩm loại. Lại vì đa số chư tiên chẳng ngộ chơn thường, ham thuốc trường sanh, chẳng mong tấn tu, ta bèn hiện thân tiên cứu họ khỏi đọa đường mê như chuyện đời vua Ðường Hy Tông. Nay ta lại vì các ông phân biệt rõ tà chánh, xiển dương Tịnh Ðộ. Các ông phải nên nhất ý nhất tâm, tu trì bền chặt pháp môn này, chẳng lầm lạc nữa. Nếu tâm chí chuyên nhất bền chặt thì chẳng cần phải đợi chết đi mới vãng sanh mà ngay hiện tiền cũng được thấy Phật giống như ta khi xưa chẳng khác. Ta có bốn câu kệ như sau:
Nói ít một câu chuyện Niệm nhiều một câu Phật Ðánh chết được vọng niệm Pháp thân ngươi hiển lộ
* Hoặc có kẻ hỏi: “Kẻ học nhân làm thế nào để lìa được trần dục, được vô chướng ngại?” Bồ Tát dạy: - Ta sẽ do cái nhỏ mà suy ra cái lớn, từ cái bên ngoài suy ra cái bên trong. Các ông nên khéo hiểu nghĩa ấy. Có kẻ làm như thế này: Vô cớ đoạt mất của ông một tiền thì các ông có nổi nóng hay không? Ðáp: - Tuy một tiền là nhỏ nhưng thấy có kẻ đoạt mất thì sân. - Lại có kẻ vô cớ cho các ông một tiền, có sanh lòng vui sướng chăng? - Dẫu một tiền là nhỏ, nhưng thấy có người cho ắt mừng. Có người đáp: “Một tiền rất ít nên được cho cũng chẳng đáng vui, bị đoạt mất cũng chẳng đáng giận!” Bồ Tát bảo: - Ông biết được như thế thì tâm phải thanh tịnh từ lâu, sao mãi đến giờ đây vẫn còn chìm đắm trong trược cấu? Các ông phải biết đó là vì học nhân chẳng cẩn mật tẩy trừ cái tâm nên thấy có, thấy không, chỗ nào cũng dính mắc hết, niệm nào cũng tham. Do vì nghiệp thức rộn ràng không thể tạm đình chỉ cho nên dẫu niệm một câu A Di Ðà Phật, tâm tưởng vẫn rong ruổi theo cảnh ngoài như cũ, chưa thể trong khoảnh khắc quy về một chỗ được. Ấy là do các ông trong vô lượng kiếp chưa hề phát khởi cái tâm xa lìa trần dục dẫu trong một lúc hay trong một ngày. Bởi thế, từ vô thỉ kiếp đến nay, trần dục chưa hề chịu lìa khỏi tâm các ông trong một lúc hay trong một ngày. Thân trói buộc, tâm vấn vít, thâm nhập lưới trần, nào có được như hoa sen tuy mọc lên từ bùn nhơ nhưng chẳng bị nhiễm bẩn! Vì vậy, muốn đoạn tham chấp thì trước hết đối với chuyện người khác đoạt mất hay ban cho một tiền phải quán sát buông bỏ, phải coi đó chẳng phải là chuyện của mình, bị đoạt mất không sân, được cho cũng chẳng vui. Như thế cho đến trăm ngàn vạn tiền, cho đến ức ức vạn tiền, cho tới quốc thành, thê tử, cho đến thân nhục cốt tủy, cho đến tâm ý, ý thức quá khứ hiện tại vị lai, thậm chí sanh tử nghiệp báo, Bồ Ðề, Niết Bàn, hết thảy đều coi giống như chuyện được cho hay bị đoạt mất một tiền chẳng khác gì thì tự nhiên tập khí, hữu lậu tiêu mất, chướng duyên vĩnh viễn diệt mất, dần dần được thanh tịnh, thành tựu đạo phẩm. Các ông nên y theo đó mà tu hành, đừng đắn đo đến nỗi bị vướng mắc, trở ngại!.
* Ngày mồng Hai đầu mùa Ðông là ngày đản sanh của Bồ Tát, mọi người bày lễ chúc thọ. Bồ Tát hỏi: “Các ông lấy vật gì mừng thọ ta?” Ai nấy đều thưa: “Dùng tâm cúng”. Bồ Tát hỏi: “Tâm là vật gì mà đem cúng được?” Ðáp: “Chỉ một tấm lòng chí thành, vốn không có vật gì!” Bồ Tát bảo: “Ðã bảo là không vật thì ai biết là chí thành? Nếu biết là chí thành thì ắt phải có xứ sở. Ðã nêu bày được sao còn nói là chẳng có vật gì?” Ðáp: “Thật chẳng thể được”. Bồ Tát nói: “Các ông nói là chẳng được thì đó là tạm không có hay là quyết định không có?” Mọi người suy nghĩ chưa đáp nổi thì Bồ Tát nói: - Nếu không thì quyết định là không, hễ có thì quyết định là có. Nghi ngờ chút xíu sai cách muôn trùng. Phải biết là các ông nói là chơn thành hay hư vọng, bảo có, nói không đều là tâm khởi diệt, suy tính, cân nhắc, so đo. Ðem cái tâm ấy chúc thọ ta thì đều vô ích cả. Hãy nghe diệu kệ của ta:
Chí chơn vô nhị tâm Chí chơn vô lượng tâm Tâm chẳng phải hết thảy tâm Hết thảy tánh chẳng phải tâm Trừ vọng tâm chẳng thật, Nương chơn tâm cưỡng gọi Chơn lẫn vọng chẳng lập Nam mô Phật Thích Ca Hiểu tâm không xứ sở Phương tiện phước quần sanh
* Khi ấy, các đệ tử lại đều làm lễ, xin được nghe pháp yếu. Bồ Tát bảo: - Lành thay! Lành thay! Các ông lại mong được nghe pháp yếu, chí thành tin hiểu lời ta dạy, hãy khéo đáp câu hỏi của ta: Ví như có kẻ bảo người khác là Yên Kinh (Bắc Kinh) là kinh đô của đế vương, phú quý khôn sánh. Người ấy nghe nói có mong đến được nơi đó hay không? Mọi người cùng đáp: - Dạ có. Bồ Tát bảo: - Ông chẳng biết đường đi thì làm sao đây? Mọi người cùng đáp: - Ðã có người chỉ vẽ thì cứ theo lời chỉ ấy mà đi. Bồ Tát nói: - Chẳng được! Nếu kẻ đó chỉ đi về phương Nam hay phương Ðông mà các ông chẳng rành, cứ theo lời chỉ mà đi thì càng lúc càng xa Yên Kinh hơn nữa. Mọi người hỏi: - Nếu vậy thì nên làm như thế nào? Bồ Tát dạy: - Rốt cuộc, có người đã từng đến Yên Kinh, dạy người ấy như sau: “Ngươi phải đi theo hướng Bắc thì mới thẳng đến đế đô được”. Này các đệ tử! Lời dạy của người đó có sai lầm hay chăng? Ai nấy cúi lạy đáp: - Chẳng sai! Bồ Tát bảo: - Lại ví như có người muốn lên được dãy núi cao cả vạn nhận (5), lên đảnh núi chín tầng thì nên dạy kẻ đó như thế nào? - Phải từ thấp lên cao. Bồ Tát dạy: - Ðúng thế. Cổ nhân bảo: “Ði ngàn dặm bắt đầu từ lúc đặt bàn chân xuống”. Cần phải từ nấc thứ nhất tiến lên nấc thứ hai, cho đến nấc cao nhất thì mới là nói đúng. Nếu bảo chỉ cần một bước lên ngay được chỗ cao nhất thì là nói khoác. Lại ví như có người được vua phong cho làm quan, vua hỏi kẻ ấy: “Ngươi muốn làm tể tướng hay làm chức quan nhỏ?” Người ấy sẽ tâu như thế nào? Mọi người đáp: - Chắc chắn là muốn làm tể tướng. Bồ Tát bảo: - Ðúng vậy! Lại ví như có người ở nơi đường rẽ chẳng biết theo đường nào. Có kẻ thương hại đến bảo: “Phía bên này thật hiểm trở, thật ngoắt ngoéo, chẳng tiện ra khỏi được; còn phía bên này thật thẳng, thật rộng, thật bằng phẳng, đi theo đường ấy sẽ được thoát ra khỏi”. Người ấy nghe chỉ, đối với hai con đường ấy sẽ đi theo đường nào? Mọi người đáp: - Ði theo đường con đường ngay thẳng, to lớn, đi con đường bằng phẳng. Bồ Tát bảo: - Hay thay! Hay thay! Những câu các ông đáp lời ta hỏi đều hợp chánh lý, nhưng các ông có hiểu rõ các thí dụ ta vừa nói đó chăng? Mọi người lại làm lễ thưa: - Kính xin Bồ Tát khai thị. Bồ Tát nói: - Hãy nghe kỹ! Từ trước đến nay các ông tuy có tâm cầu đạo nhưng chẳng biết bí quyết tu hành, không biết hướng theo lối nào, giống như người muốn tới Yên Kinh nhưng chẳng biết đường nào là đúng. Nếu gặp phải tà sư dạy cho tà pháp thì giống như đế đô ở phía Bắc lại bảo là hướng về phía Ðông, phía Nam mới đúng. Do vậy, kẻ ấy trọn ngày tu hành nhưng vẫn bơ vơ không chỗ nương náu, làm sao thân cận đấng Chí Tôn, làm sao thành đại đạo được! Nay ta bảo các ông cõi Tịnh Ðộ Di Ðà chính là đế đô. Ba thứ Tín, Hạnh, Nguyện càng thêm siêng tinh tấn, rốt cuộc sẽ vãng sanh. Ðó là từ nấc thứ nhất tiến dần tới nấc tối thượng, mong lên được thượng phẩm. Nguyện như vậy thì làm tể tướng, chẳng nguyện như thế thì làm quan nhỏ. Tu hành theo đúng như thế là đi theo con đường to lớn, ngay ngắn, chẳng đi theo con đường cong quẹo vậy. Ta chính là người đã từng đến Yên Kinh. Nếu các ông chẳng tin tưởng sâu xa vào ta thì chính là bỏ đế đô hướng đến biên địa, bỏ ngôi vị tể tướng cao quý để cầu lấy chức quan nhỏ kém hèn; bỏ con đường to ngay, cầu con đường hiểm trở, rắc rối. Ðảnh núi cao ngàn nhận, đảnh tháp chín tầng chẳng phải là chỗ các ông đạt đến được, thật đau xót lắm thay!
* Ðại chúng tính tậu ruộng để giúp cho việc tu hành. Bồ Tát bảo: - Các ông muốn khuyến khích những người đồng học tụ tập lâu dài chẳng tan rã; muốn tạ tuyệt việc đời, tính kế chẳng phải cầu cơm áo từ nơi người khác nữa nên mới bàn như vậy. Nhưng ta xem ra: ý niệm ban đầu tuy tốt, nhưng xét rốt ráo lại chính là trần lao tham luyến, chẳng phải là pháp thanh tịnh. Vì sao vậy? Một chén cơm bên đường, tối ngủ nơi gò mả chính là khuôn phép hành đạo của đức Phật khi trước. Nếu nhất định cần phải nhờ vào ruộng mới tu hành được thì giả như việc ấy không thành bọn các ông sẽ trọn chẳng có một ngày nào tu hành ư! Các ông lại bảo tự mình chẳng có vốn sẽ ra sức tự mộ hóa (khuyên người khác đóng góp), như vậy lại càng không được! Trong một đời giáo pháp của Phật chẳng có hai chữ ấy (tức là hai chữ “mộ hóa”). Ðấy là hành vi của kẻ trong đời mạt, chẳng biết lễ nghĩa, chẳng sợ nhân quả, chẳng biết liêm sỉ. Người tu đạo chơn chánh thiết tha lo việc sanh tử, dứt khoát chẳng nghĩ đến chuyện ấy. Ta lại có một lời bảo các ông: Bọn các ông chỉ nên chấp trì chánh niệm, ai nấy nỗ lực thì chính là chẳng tụ họp mà lại là tụ họp. Còn nếu thân tâm tán loạn, phóng dật, chẳng thường tu hành thì dẫu có tụ tập mà thật ra là tan tác. Chỉ cần hiểu được ý này, cứ nên tùy phận, tùy thời, chẳng cần phải bận tâm tính trước chi cả!
* Bồ Tát lại bảo đại chúng: - Các ông lo ngại thân mình bị ràng buộc trong lưới rập thế sự, ý niệm chẳng được thanh tịnh ư? Ta có một pháp: các ông chỉ cần phát nguyện xa lìa, cầu giải thoát, tâm khăng khăng quy hướng thế giới Cực Lạc gặp Phật A Di Ðà, buông bỏ cái tâm bon chen danh lợi liền có thể dứt trần lao, bước trên đường giác.
* Có người hỏi niệm Phật chẳng nhất tâm nổi, nên dùng phương cách gì, Bồ Tát dạy: - Ông chỉ cần dứt ý tưởng lo cầu đắc định, cứ từ từ niệm, cốt sao tiếng hợp với tâm, tâm nương theo tiếng. Niệm lâu ngày, tự được các niệm lặng trong, tâm cảnh tuyệt chiếu, chứng nhập Niệm Phật Tam Muội. Nhưng thường ngày cần phải niệm cho nhiều, từ ngàn niệm đến vạn niệm. Tâm không gián đoạn thì căn khí mới dễ thành thục nhất. Nếu cưỡng ép tâm chuyên nhất thì trọn chẳng chuyên nhất nổi. Ngay khi ấy, ông Ðạt Bổn ngồi dưới tòa Bồ Tát chợt niệm lên mấy tiếng. Bồ Tát bảo: “Như thế đó! Như thế đó!”.
* Các đệ tử muốn tạo tượng cúng dường, thỉnh Bồ Tát hiện bày pháp tướng. Bồ Tát đáp: - Các đệ tử muốn tạo tượng cúng dường, sẵn lòng thành từ lâu, đúng lẽ ta phải hiện bày; nhưng các ông trong trần lao, ta trong diệu minh, nay ta có hiển hiện, các ông cũng chẳng thấy được. Hơn nữa, ta tùy cơ cảm hóa, thân tướng bất nhất. Nay chỉ căn cứ vào gốc gác khởi tu, các ông có thể vẽ ta dưới hình dạng một vị đại tỳ kheo, mặt như trăng tròn, hình thể khôi ngô, đắp ca sa, ngồi trên hoa sen, tay trái úp trên gối, tay phải trong tư thế thuyết pháp. Giữa hai mày phóng ánh sáng bạch hào, trong quang minh ấy có đức A Di Ðà Phật ngồi xếp bằng. Cần phải vẽ tướng hảo trang nghiêm, chẳng được vẽ sơ sài. Mọi người nghe xong, liền chắp tay đứng suy tưởng pháp tướng như thế. Bồ Tát bèn nói: - Này các đệ tử! Ai ai cũng có giác minh diệu hạnh, chẳng ở ngay nơi đây, cũng chẳng rời lìa, tìm nó ngay nơi các ông, đừng chấp vào đâu cả. Giác minh diệu hạnh luôn xuất hiện trong mỗi thời. Nay các ông đã minh bạch thì chẳng cần phải tạo tượng cúng dường, nguyện có ngày sẽ được gặp ta.
* Ông Tra Ðịnh Hoằng làm đám ma cho con mình xong, muốn bỏ nhà xuất gia. Bồ Tát dạy: - Ông chớ nghĩ đến điều ấy. Ðiều ấy ông làm không nổi! Ông chỉ cần chánh tâm để trị tâm, chánh thân để trị thân, dứt việc vô ích, tuyệt giao bạn bè vô ích, quy tâm về Ðại Giác, nguyện thoát khỏi đường mê, rót con sóng lớn để thấm nhuần cõi đất khô khan của chính mình, siêng cầu gia bị, diệt các chướng duyên. Ông tính cầu thọ để giữ gìn tấm thân thì nên dốc sức vào chuyện đó, đừng nói nhiều. Ông Ðịnh Hoằng lại hỏi là ông phụng trì kinh Kim Cang, nhưng câu chữ [trong các bản lưu hành] chẳng giống nhau, nên tuân theo bản nào để khỏi bị lầm lẫn? Bồ Tát bảo: - Bảy chữ Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật trọn không lầm lẫn!
* Ông Trầm Thiên Vũ mắc bệnh, bày lễ cầu Bồ Tát chỉ dạy. Bồ Tát bảo: - Ông nay mắc bịnh vẫn còn chưa chết thì nên dứt mọi buộc ràng, an tâm đoan tọa, niệm thân vô thường, niệm thế vô thường. Tất cả vọng duyên buông bỏ xuống hết, từ từ niệm một câu A Di Ðà Phật, tự nhiên lục trần chẳng sanh, nhất tâm thanh tịnh thì chẳng những lành được căn bịnh trong đời này mà căn bịnh sanh tử cũng nhờ đó được dứt khỏi. Nay ông bày lễ xin chỉ dạy, chẳng qua chỉ mong ta có phương thuốc thật hay dành cho ông hoặc sẽ truyền khẩu quyết trị lành bịnh cho ông. Ông nào có biết là Bồ Tát không hề có những pháp hư ngụy như thế, chỉ có đôi lời thành thật này dạy ông mà thôi. Ông nếu tin tưởng làm theo thì đó thật sự là một thang thuốc thượng phẩm, linh đan diệu được. Ta truyền cho ông bài kệ sau đây:
Bịnh tự mình sanh ra Cũng do mình chữa dứt Gìn giữ tâm thanh tịnh Thường sẽ được an vui Bền lòng chẳng tham luyến Sẽ giống Vô Lượng Thọ
* Bồ Tát dạy ông Ðạt Bổn: - Ông muốn tỏ thấu rốt ráo cái tâm, thật là có chí, nhưng ông ôm cả một bụng châu sa, chì, thủy hỏa; những chuyện như bổn lai diện mục, chơn không, chơn tịnh… thực chẳng biết gì thì làm sao làm được? Ông nên đem cái mớ đó ném ra ngoài biển Ðông mới được. Nếu không thì uổng cả tâm trí, lầm lạc công phu. Chẳng bằng đích đích xác xác niệm một câu A Di Ðà Phật. Minh tâm cũng bởi đấy, vãng sanh Cực Lạc cũng do đấy, nhất cử lưỡng tiện, thật là hết sức tiện lợi.
* Ông Vô Hủ hỏi: “Làm thế nào để báo đáp tổ phụ?” Bồ Tát hỏi: - Thế gian nghĩ thế nào là hiếu bậc nhất? Thưa: - Cung kính, phụng dưỡng, làm lành, chẳng quên ân đức tổ tiên. Bồ Tát dạy: - Ðấy tuy là hiếu nhưng còn hữu hạn. Chỉ nên phát đại nguyện, tu pháp xuất thế. Nếu như đạo thành quả mãn thì phước chẳng những ảnh hưởng đến chín đời tổ tiên mà kẻ oán người thân trong bao kiếp cũng nhờ đó được giải thoát. Ông nếu có thể chuyên tu Tịnh Ðộ thì là đại hiếu vậy.
* Ông Ðịnh Mậu hỏi: “Trì chú như thế nào để minh tâm, thế nào là trì chú rốt ráo?” Bồ Tát dạy: - Tâm chẳng lìa chú, chú chẳng rời tâm; ấy là ý nghĩa của trì chú. Trong tất cả thời ông nên quán sát bản thể của chú và bản thể của tâm ông là một hay là hai? Nếu bảo là hai, làm sao tâm trì được chú, chú hiển lộ được tâm? Nếu bảo là một thì tại sao hễ quên thì không có chú, hễ nhớ lại có chú. Do vậy, biết là chú này cùng tâm lìa các danh tướng, rốt ráo không tịch. Ðó gọi là rốt ráo. Nếu chỉ trì mà chẳng rốt ráo thì chẳng có diệu giải, làm sao hiển phát được đại trí huệ bình đẳng? Ðại trí huệ bình đẳng chẳng hiện thì biết nhờ đâu để soi tỏ hôn mê sanh tử, đạt được Thật Tế của tam giới?
* Ông Ðạt Bổn hỏi: “Mỗi lần con niệm Phật ra tiếng là dễ nổi nóng, con có nên thầm niệm hay không?” Bồ Tát nói: - Ông nói niệm Phật một tiếng là nổi nóng. Vậy sao ông suốt ngày trò chuyện cùng người khác chẳng nổi nóng chút nào? Ông nên biết rằng sự nóng giận đó chính là vô minh phiền não của ông từ bao kiếp tích tụ lại. Do ngày nay ông tin chưa chơn thật nên lửa nóng giận theo câu niệm mà sanh, lửa nóng giận theo vọng niệm sanh ra thiêu đốt pháp thân huệ mạng của ông. Xưa kia, đức Mâu Ni Thế Tôn vì đại pháp trong vô lượng kiếp xả thân cầu đạo nên mới thành đấng Vô Thượng Bảo Vương. Nay ông tuổi tác, sức lực đã suy, sáng tối siêng năng tu hành còn sợ chậm trễ, lẽ đâu vẫn luyến tiếc trần lao, mong cầu linh đan, diệu dược hòng được sống lâu tăng thọ? Ông chẳng nghe cõi trời Phi Phi Tưởng còn có lúc báo tận, kiếp hỏa cháy rụi hư hoại đến tận cõi Tam Thiền, huống hồ là khăng khăng bám vào pháp thủy, hỏa, châu sa, thủy ngân giả duyên hòa hợp hòng cầu vĩnh viễn chẳng bị biến diệt ư? Ông nay nghe lời ta nói như người ngủ mơ mới thức dậy, như người say mới tỉnh, phải siêng tu Tịnh Ðộ, chánh niệm vãng sanh. Trong thế giới ấy, thọ mạng vô cùng vô tận, thành tựu pháp thân, đắc Nhất Thiết Trí, nào có phải giống như là thuật trường sanh thô thiển ta thường thấy, thường bàn luận hằng ngày đâu?
* Ông Tra Ðịnh Hoằng hỏi: “Lúc trì chú, con hay sanh sợ hãi, xin Bồ Tát dạy cho!” Bồ Tát nói: - Ai đến dọa ông? Ai là kẻ sợ hãi? Do tập khí bất tịnh trong đời quá khứ của ông nên từ trong ý tưởng nhỏ nhiệm chợt hiện ra những tướng trạng ấy. Ông chỉ nên tinh thành trì tụng, tự nó sẽ trừ diệt, được việc lành tùy thuận như ý, dẹp được phiền não, tạo nhập huyền vi, còn sợ hãi chi!
* Ông Trần Ðịnh Dục vì mẹ bị bệnh nên đến cầu đảo, hỏi nên làm công đức gì để mẹ được lành hẳn. Bồ Tát dạy cho bài kệ như sau:
Hiếu đứng đầu muôn đức Quý nhất trong tam tài Lớn lao thay hiếu hạnh Là thầy của loài người Ông vì lòng hiếu hạnh Cầu mẹ được bịnh lành Ông đang lúc vui sướng Nghĩ nhớ mẹ đớn đau Ông dùng thức ăn ngon Nhớ mẹ ăn không nổi Ông mặc áo mịn mềm Nhớ mẹ thân máu mủ Dơ bẩn cả áo chăn Lộ bày cả hông ngực. Thường nghĩ suy như thế Sáng tối chẳng hề quên Quy mạng đức Ðại Thánh Tinh thành chẳng nhị tâm Tận lực làm việc thiện Hầu báo đáp tứ ân Nguyện mẹ được thêm phước Nguyện mẹ tăng tuổi thọ Nguyện bịnh mẹ được lành Nguyện mẹ thân mạnh khỏe Ðức Bồ Tát Giác Minh Là đấng ông dựa nương Chỉ làm đúng lời ta Không nguyện chi chẳng thỏa
* Ông Ðịnh Mậu muốn bỏ trì chú để niệm Phật nên thưa hỏi. Bồ Tát dạy: - Ông muốn bỏ trì chú để niệm Phật, nhất chí chuyên tu rất tốt, nhưng ông chưa biết pháp yếu, chỉ đáng gọi là người hiền lành trì trai, chưa đáng gọi là người niệm Phật. Vì sao vậy? Muốn vượt biển cả phải sắm thuyền to. Muốn đi ngàn dặm phải chọn ngựa hay. Bởi vậy, người niệm Phật phải có thủ đoạn lớn: cắt đứt mọi trói buộc, xé toang lưới trần, ngay cái niệm này chính là Phật, ngay đức Phật là tâm (tức niệm thị Phật, tức Phật thị tâm), cho đến lìa cả cái tức lẫn cái phi đó, đốn nhập Như Lai Ðại Quang Minh Tạng. Như vậy mới gọi là chánh niệm niệm Phật, mới đáng gọi là người niệm Phật. Ông phải khéo hiểu nghĩa này.
* Có bốn vị tăng nhỏ tuổi đến yết kiến Bồ Tát. Ngài dạy: - Các chàng trai trẻ! Chúng sanh từ vô thỉ đến nay do ân ái nên thành quyến thuộc. Trong quyến thuộc, cha mẹ có ân nặng nhất đối với con cái, yêu mến thiết tha nhất, khó cắt đứt, khó buông bỏ nổi. Nay các ông xuất gia lìa tục, được làm tỳ kheo thì nên biết là cha mẹ lại có ân càng sâu nặng hơn nữa đối với các ông, chẳng thể dùng lời lẽ nào để ví dụ được nổi. Vì vậy, các ông phải tận dụng lúc tuổi trẻ, sức mạnh này để siêng tu đạo nghiệp hòng báo đáp tấm lòng cha mẹ đau đớn cắt ân đoạn ái lúc ban đầu thì mới chẳng thẹn cho hai chữ ‘xuất gia’. Nếu lại phóng dật, biếng nhác đến nỗi suốt đời đọa lạc thì là gã bất hiếu nhất trong những kẻ bất hiếu, làm kẻ tội nặng nhất trong vòng trời đất. Phải nên đau đáu nghĩ nhớ lời ta dạy.
* Bồ Tát lại dạy đại chúng rằng: - Này các đệ tử! Một thân người do cha mẹ sanh ra, cha mẹ nuôi nấng. Ðối với mọi việc làm ăn, các thứ thọ dụng hiện tại của các ông dẫu cho cha mẹ chưa từng cho ông được đồng nào, nhưng thân các ông vẫn là do cha mẹ sanh ra nên mới có được như ngày nay! Trong muôn sự, thân là lớn, thân là gốc. Cứ từ gốc mà suy, chẳng phải là ân cha mẹ khó nói hết được hay chăng? Vì thế Phật dạy: ở bên cha mẹ nói lớn tiếng, nói nặng lời còn mắc vô lượng tội, huống hồ là ngày nay có kẻ còn tệ quá hơn thế nữa! Nếu bảo là chẳng nhịn nổi cha mẹ, không thể không tranh cãi thì xem cha mẹ có khác chi người ngoài đường! Chỉ nên vui vẻ thuận theo, cha mẹ ắt có ngày cảm động, quyết chẳng nên tranh cãi rằng cha mẹ sai, mình đúng, làm kẻ trái trời nghịch người!
* Bồ Tát nói: - Này các đệ tử! Nên biết rằng mười phương chư Phật là tâm chúng sanh, mười phương chúng sanh là tâm chư Phật. Vì vậy, nhớ Phật, niệm Phật chính là mười phương chư Phật hiện trong tâm các ông, nhưng cũng chẳng phải là mười phương chư Phật vào trong tâm các ông, cũng chẳng phải là tâm các ông rời khỏi chư Phật. Ðấy đều là giác diệu bổn minh chẳng thể nghĩ bàn.
* Bồ Tát nói: - Tâm hành xứ diệt là chơn tâm thường trụ của chư Phật. Tâm hành xứ hữu là nghiệp tâm sanh tử của chúng sanh, chẳng có kẽ hở bằng tơ tóc. Nếu các ông có thể miên mật gia công, khiến cho cái tâm này không chút hở trống thì mới được tương ưng đôi chút. Ðừng tu sơ sài nửa năm, mười tháng rồi tự cho là mình đã khổ tâm tu đạo, chẳng biết rằng đấy chính là điều chướng đạo, cần phải dè chừng. Hơn nữa, dẫu gia công tu tập mạnh mẽ nhưng nếu chưa đạt đến mức như tường đồng, vách sắt, đẩy chẳng đổ, dời chẳng lay thì vẫn chưa tạo thành một phiến [nhất tâm], chớ nên thấy có chút ảnh hưởng đã ngừng tay. Ấy là nửa đường bỏ dở, đến nỗi phí hết công lao khi trước, chẳng lợi ích mảy may. Ðây chính là căn bịnh lớn của người học đạo, các ông chẳng nên không biết! Cần phải biết rằng: Phật pháp như biển cả, càng vào bên trong càng thấy sâu, dứt khoát chẳng thể dùng chút tri kiến nhỏ nhoi hòng lãnh hội được hết nổi. Phải tu tập suốt đời, gắng hết sức tu tập, đừng nghĩ là dễ dàng.
* Bồ Tát nói: - Niệm Phật Tam Muội là từ đại thế lực nơi tâm ông tạo thành chứ chẳng phải là do cái khác mà có. Nay các ông niệm Phật suốt ngày đêm vẫn chẳng được nhất tâm, loạn tưởng vẫn còn cách trở chơn tâm đều là vì chưa tận lực dụng tâm.
* Ông Cố Ðịnh Thành xin Bồ Tát chỉ dạy, ngài bảo: - Ông đến am này muốn tu Tịnh nghiệp, có biết làm sao để được vãng sanh Cực Lạc không? Ðáp: “Niệm Phật vãng sanh”. Bồ Tát hỏi: - Ông biết niệm Phật thế nào để được vãng sanh chăng? Ðịnh Thành đáp: “Chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn”. Bồ Tát hỏi: “Thế nào là nhất tâm bất loạn?” Ðịnh Thành chẳng đáp được. Bồ Tát dạy: - Ta thấy ông chỉ nói giỏi chứ chưa thể tu hành đúng pháp. Ông nên lắng nghe lời ta nói. Này thiện nam tử! Tâm vốn vô niệm, hễ niệm thì tưởng sanh. Tưởng ấy hư vọng, lưu chuyển sanh tử. Nay ông nên biết: Một câu A Di Ðà Phật đây chẳng từ tưởng sanh, chẳng từ niệm có; chẳng trụ vào trong hay ngoài; chẳng có tướng mạo thì các vọng tưởng chấm dứt. Thân thanh tịnh vi diệu chơn thật của Như Lai chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng thể phân biệt. Niệm như thế thì phiền não trần lao liền chẳng đoạn, chẳng trói, chỉ là nhất tâm. Phải đạt nhất tâm mới gọi là chấp trì danh hiệu, mới gọi là nhất tâm bất loạn, Tịnh nghiệp thành tựu, chứng ngay vào thượng phẩm. Ông ÐịnhThành lại làm lễ, thưa: - Phàm phu đời trược tâm trí cạn cợt, kém cỏi, chưa thể thâm đạt chí lý, xin ngài dạy rõ cho! Bồ Tát nói: - Ông nay nên phát đại nguyện, nguyện sanh về Cực Lạc. Sau đó, chí thành khẩn thiết xưng niệm A Di Ðà Phật sao cho tiếng niệm duyên theo tâm, tâm duyên theo tiếng, tiếng và tâm nương dựa lẫn nhau như mèo rình chuột, lâu ngày chẳng mất thì nhập chánh ức niệm tam muội. Lại phải tiến thêm bước nữa, nên học hỏi với mọi hạng tri thức, học cao hiểu rộng, tự ngộ chơn lý mầu nhiệm ‘tâm này chính là Phật’. Ông nay nên đầy đủ lòng tin sâu xa, đừng bắt chước hạng ngu tối nghe rồi chẳng tin, cũng đừng học theo bọn nửa chơn, nửa giả, nửa tin, nửa ngờ; tuy mang tiếng lãnh thọ nhưng chẳng có tâm phụng hành chơn thành.
* Bồ Tát bảo bà mẹ ông Tra: “Sao bà chẳng siêng năng niệm Phật?” Ðáp: “Do tôi có thêm con cháu, thường hay ẵm bồng, sợ mình bất tịnh’. Bồ Tát dạy: - Bà nghĩ mình bất tịnh niệm Phật sợ bị mắc tội chứ chẳng biết không niệm Phật mang tội vô lượng. Ðừng ngại tịnh hay chẳng tịnh, chỉ cứ niệm mà thôi.
* Ông Trần Vĩnh Thọ hỏi về kết cục, Bồ Tát dạy cho bài kệ:
Tiết dục, tránh sân, Là phép giữ thân Thâu liễm an tịnh Là phép giữ nhà Cưới xin tùy sức Là cách bớt việc Làm lành niệm Phật Là pháp xuất thế Giữ bốn pháp ấy Kết cục thông đạt.
* Ông Cố Thiện Ký hỏi việc chung thân và cách thức làm lành, Bồ Tát dạy: - Nếu ông giữ được tâm chánh đáng, làm việc chánh đáng thì sẽ được chung thân chánh đáng. Nếu ông ôm lòng tà, làm việc tà, ắt bị tà chung thân. Còn với một chữ Thiện thì tùy thời, tùy chốn mà làm. Việc lớn, việc nhỏ đều được. Cũng nên tránh giết chóc, phải phóng sanh, tùy sức giúp kẻ nghèo, giúp người khổ; trì niệm A Di Ðà Phật, hồi hướng Cực Lạc. Ngày ngày [làm như thế] chẳng gián đoạn, suốt cả ba năm chẳng thay đổi thì ông mới xứng đáng với bốn chữ ‘hảo tâm hành thiện’.
* Bồ Tát dạy ông Vô Hủ: - Ðại để người tu Tịnh nghiệp: đi, đứng, nằm, ngồi, đứng lên, ngồi xuống, ăn uống đều nên hướng về phương Tây thì sự cơ cảm dễ thành, căn cảnh dễ thuần thục. Trong thất chỉ bày một tượng Phật, một quyển kinh, một lò hương, một cái bàn, một cái giường, một cái ghế, chẳng được bày nhiều thứ khác. Trên sân cũng quét dọn thanh tịnh để đi kinh hành không trở ngại gì. Cần giữ cho tâm này chẳng vướng bận mảy may gì, quên hết muôn mối lo, trống rỗng, chẳng biết có thân, chẳng hay có đời, cũng chẳng biết việc mình đang làm ngày nay là việc tu hành. Ðược vậy thì ngày càng gần với đạo, ngày càng cách xa đời, mới xu hướng Tịnh nghiệp được. Lúc bình thời ông đã có thể buông bỏ sạch hết thảy sự, trong ý niệm chẳng còn chút vướng mắc nào thì khi đại hạn xảy đến, thanh thản, thảnh thơi, chẳng có ý tưởng lưu luyến con cái, nuối tiếc tấm thân, con cháu, há chẳng phải là hành vi của bậc đại trượng phu ư? Bởi vậy, ông nên nhất ý tu hành, chẳng còn dính mắc điều gì khác nữa. Ðó chính là điều then chốt nhất. Còn như cách thức Tịnh tu thì chẳng ngoài hai chữ ‘chuyên cần’. Chuyên là chẳng làm chuyện gì khác. Cần chẳng bỏ uổng lúc nào. Nay ông sáng dậy liền tụng một quyển kinh Di Ðà, trì một ngàn câu A Di Ðà Phật, đối trước Phật hồi hướng, niệm bài Nhất Tâm Quy Mạng (xin xem phụ lục) vì bài này lời lẽ giản dị nhưng ý nghĩa súc tích. Ðấy chính là công khóa trong một thời. Nếu như lúc sơ khởi nếu thân tâm còn chưa yên thì mỗi ngày chỉ hành trì bốn thời. Ðã hơi yên thì dần dần tăng đến sáu thời, lại tăng dần đến mười hai thời: tụng được mười hai quyển kinh, niệm danh hiệu Phật một vạn hai ngàn tiếng. Trong lúc hồi hướng lại lễ Phật trăm lạy, cũng có thể chia làm bốn thời. Ðấy là thường khóa mỗi ngày. Những lúc khác chẳng cần tính vô số ấy. Dù niệm thầm hay niệm ra tiếng đều phải nhiếp tâm niệm chắc chắn mà thôi. Hơn nữa, trong pháp trì danh, cần phải mỗi câu mỗi chữ, tâm và tiếng phải nương theo nhau, chẳng được xen tạp mảy may ý niệm thế tục. Lâu ngày thành thục, quyết định được vãng sanh Cực Lạc, ngồi trên hoa sen báu, đạt lên địa vị Bất Thối. Nếu năm tháng tuổi già chưa hết, do ông đã chứng đắc như thế, ông sẽ dạy dỗ đại chúng hòng báo ân sâu của Phật. Nếu ông có thể nhất nhất tuân thủ lời ta thì mới chẳng phụ công Giác Minh Bồ Tát dạy ông chánh đạo, khiến cho ông xuất gia đã chẳng phụ công hòa thượng Tam Muội thế độ, truyền cho ông đại giới. Ðây thật chẳng phải là nhân duyên nhỏ nhoi, ông chớ nên tự sanh lòng khinh mạn, cẩn thận, cẩn thận!
* Bồ Tát dạy ông Thường Nhiếp: - Ông tính trì tụng thần chú Ðại Bi, cầu đức Quán Âm thầm gia hộ cho mau được nhập đạo. Rất tốt! Nhưng ông chẳng được chần chừ đến nỗi chí nguyện lẫn sự nghiệp chẳng thành. Cần phải làm ngay đi, cứ thẳng đường mà tiến. Ông nay nên tự ấn định thời hạn, định mức số câu, thời khóa, dứt tuyệt việc đời, ở yên trong một thất. Mỗi một thời tụng chú trăm lần và lạy một lần [Ðại Bi] Sám Pháp do ngài Tứ Minh soạn để sám hối nghiệp chướng hầu giúp phát khởi công hạnh thù thắng. Ðó là một thời. Một ngày một đêm chia thành sáu thời: Năm thời trì chú, một thời lễ sám. Các thời khác an tọa tu Thiền, thâm nhập bất tư nghị huệ. Vì sao gọi là bất tư nghị huệ? Hiểu trọn vẹn rằng ngoài tâm không pháp, các pháp chẳng có tên, thấu đạt không có mảy may gì được thành lập cả. Nhất niệm viên dung, chẳng thể suy nghĩ nổi, chẳng thể bàn luận nổi nên gọi là bất tư nghị huệ. Nương vào diệu huệ đó thì tâm gom vào nơi vi tế, nhiếp vô nhiếp tướng, nghĩa là chẳng thâu nhiếp gì hết, nhưng chẳng trở ngại gì đến nhiếp cả thì gọi là khéo nhiếp tâm! Do tâm đã được thâu nhiếp nên không việc gì chẳng hoàn thành. Nói tóm lại, không có lúc nào không hiện hữu nhưng luôn nhập vào tâm, ấy là cái gốc của việc trì chú nhiếp tâm. Tự nhiên túc chướng băng tiêu, định tâm hiển hiện rỡ ràng hoặc là được tam muội khai phát, khế hợp diệu tâm sẵn có. Chẳng để uổng phí năm tháng, nên khắc định kỳ hạn để tấn tu đạo nghiệp. Nếu không thì hôm nay, ngày mai, năm tới, tháng sau hoặc làm hoặc chẳng làm, muốn tiến chẳng tiến, bảo đảm cả trăm năm sau ông vẫn giậm chân tại chỗ, trọn chẳng thể dời nổi một bước. Cẩn thận! Gắng lên!
* Bồ Tát lại dạy ông Thường Nhiếp: - Chỉ tám chữ ‘cưỡng thuận nhân tình gắng gỏi việc đời’ khiến ông lầm lạc đại sự cả một đời người. Từ ngày nay trở đi, quyết chẳng nên trì kéo, nắm níu, bon chen như trước nữa. Ðạo nghiệp chưa thành, vô thường đã xộc tới. Gấp nên thu hình ẩn tích, nhất tâm hướng về đạo, chẳng nên lầm lạc nữa!
* Ông Ðạt Bổn tuân lời dạy, xuất gia, Bồ Tát dạy: - Ông tuổi già xuất gia chẳng được học lan man nhiều sự khác, chỉ tụng kinh Di Ðà, nhật khóa niệm Phật một vạn hai ngàn câu, từ ít tăng dần lên nhiều, chơn thành thiết tha cầu sanh về Cực Lạc. Ðấy chính là cách chỉ hoàn thành được một việc mà trăm sự đều ổn thỏa. Ðừng bắt chước kẻ ngu trong đời cao đàm khoát luận, bàn tánh luận tâm; thấy người niệm Phật liền nhất loạt dè bỉu, chê bai công hạnh của người ấy chẳng bằng gã mù chữ trong thôn ba nhà hay kẻ ăn mày niệm kinh Tam Quan nơi ngã tư đường, uổng cả thời gian, lầm lẫn đại sự. Vì thường ngày ông ưa bàn Thiền mà chẳng thấu đạt điểm trọng yếu, mầu nhiệm của Thiền, cũng chẳng thể tin sâu Tịnh Ðộ, ròng chắc niệm Phật nên ta mới dạy như vậy!
* Bồ Tát lại dạy ông Vô Hủ: - Tụng mười hai quyển kinh Di Ðà, niệm danh hiệu Phật một vạn hai ngàn biến chẳng tăng, chẳng giảm, cứ hành theo đúng lời ta dạy. Nhưng khi tụng kinh phải đều đặn, bình tịnh, đừng hoãn đãi, đừng gấp gáp, chẳng nhanh, chẳng chậm. Niệm Phật cần phải từng tiếng ứng theo tâm, chẳng thô tháp, chẳng lao chao, chẳng hư phù, chẳng trầm trệ mà niệm. Ðến lúc hồi hướng, chẳng phải là tụng bản văn Hồi Hướng một lượt là xong, mà phải từ trong tâm mình phát ra lời nguyện Ðại Bồ Ðề chơn chánh, chí thành khẩn thiết, nguyện khắp hết thảy chúng sanh cùng vãng sanh Cực Lạc, nhưng tâm mình chẳng chấp trước hệt như hư không. Ðấy gọi là hồi hướng. Lại khi tịnh tọa, nên phản quán thâm cứu: Phật chính là tâm ta, tâm này là Phật, chẳng cần phải cầu tự bên ngoài, đúng như tâm mà trụ, không năng, không sở. Quán sát đúng đắn, chắc chắn như thế không còn có niệm khác thì gọi là tu hành tam muội. Cẩn thận chớ quên mình, tâm nguội lạnh như đã chết, kẻo lại lạc vào tri kiến của ma tà ngoại đạo. Ngồi tịnh tọa một thời như vậy xong liền đứng dậy đi kinh hành, rồi lại trì tụng. Nếu cứ gấp gấp gáp gáp làm liền một hơi, dẫu hoàn tất khóa tụng của một ngày nhưng rốt cục thành ra tụng niệm cẩu thả, chẳng phải là tu hành chơn chánh vậy. Ðại để, người học đạo chẳng tuân lời tri thức răn dạy, quyết sẽ nhọc nhằn nhưng vẫn vô ích, chưa được lâu đã nản. Cẩn thận, cẩn thận! Thêm nữa, đối với những thứ chánh báo, y báo trang nghiêm cõi Tịnh Ðộ được giảng trong các kinh, ông phải giảng, tụng minh bạch. Giả sử lúc tịnh tọa hoặc kinh hành hoặc khi lễ tụng, nếu như Tịnh Ðộ hiện tiền thì hiểu biết rành rẽ, chẳng bị dị cảnh mê hoặc.
* Bồ Tát dạy ông Trần Ðại Tâm: - Ðạo niệm của ông dẫu tăng, nhưng thế niệm vẫn chẳng giảm. Phàm hết thảy tướng nhân ngã, tướng danh lợi, tướng sân hỷ v.v… trong thế gian chẳng phải chỉ phát xuất từ nơi thân, mà nó phát xuất từ lưới trần dằng dặc từ trước. Hễ tâm vướng mắc đôi chút liền tạo thành nhân duyên chướng đạo. Ông cần phải hiểu rõ như thế. Ông chỉ cần thân lễ A Di Ðà Phật, miệng tụng A Di Ðà, tâm niệm A Di Ðà, chẳng hề có chút mảy may phân biệt liền sạch làu trần cấu, xé nát lưới trần, sanh về cõi Cực Lạc. Ông cần phải hiểu minh bạch như thế.
* Có kẻ hỏi việc chung thân, Bồ Tát dạy: - Ông hỏi việc chung thân ư? Ta đây trọn chẳng có pháp chung thân vì lúc ta học Bồ Tát đạo, trải bao kiếp tu hành chưa từng học được việc ấy. Nhưng mà ông ngu si quá, chung thân chẳng qua là như thế đó, hỏi người khác ích gì? Sao ông chẳng hỏi đầu bạc cả rồi, mặt nhăn nhúm rồi, thân đã yếu rồi, vô thường rồi sẽ xảy đến, sẽ phải đến gặp mặt Diêm La đại vương thì nên kiếm một lời hay nửa câu nào đối đáp để tránh khỏi bị gông cùm nghiệp trói? Sao ông chẳng hỏi sự ấy?
* Tăng Pháp Duyên muốn kết định kỳ hạn lễ Di Ðà Sám. Trước tiên, ông đến thỉnh ý Bồ Tát. Ngài dạy: - Di Ðà Sám là do ngài Từ Vân Sám Chủ soạn mới đây đều đủ lý nhất tâm, sự nhất tâm, chuyên nhất vào một sự. Nếu bốn tướng (nhân tướng, chúng sanh tướng, ngã tướng, thọ giả tướng) chẳng sanh, lặng trong như hư không thì gọi là lý nhất tâm. Nhất tâm ấy khó đạt. Ngoài phải siêng tu tập sám pháp để trừ túc chướng, trong phải theo đúng lý tu quán hầu đạt đến nhất tâm. Ðã được nhất tâm lo chi chẳng nhập được đạo? Trong kỳ hạn tu sám, ông chớ quản thân mình hay vì thí chủ, cũng chẳng quản là lâu dài hay chẳng lâu dài, chỉ cốt quét sạch tập khí, tẩy sạch thân tâm. Chẳng thành tam muội thề chẳng ngơi nghỉ mới được. Thêm nữa, tuy ông theo thứ lớp trong pháp sám ấy [tu tập] nhưng vẫn chưa phải là tu hành. Nếu chơn chánh tu hành thì phải buông bỏ vạn duyên, một bát sống nhờ thập phương, một thân nương nhờ khắp cõi đất, chơn thành thiết tha cầu thoát sanh tử, đấy mới là cách tu hành chơn chánh. Nếu cứ khăng khăng đôi ba kỳ hạn sám hối, xong rồi vẫn bon chen việc đời mà muốn thành Tịnh nghiệp, thoát khỏi sanh tử thì chẳng khác nào hút gió nuốt sương lại mong no đủ. Trên đời chẳng hề có việc ấy. Ông chớ khởi ý tưởng ngu si như thế đến nỗi đói rét mà chết.
* Vương sư (chỉ quân binh nhà Thanh) kéo xuống đất Tam Ngô, bọn giặc vùng Thái Hồ nổi dậy chiếm thành rồi lại rút chạy. Lâu ngày mới yên ổn trở lại, mọi người mới dần dần tụ tập về. Bồ Tát dạy: - Sau cơn biến loạn ngày mười ba tháng Sáu, mọi người có sợ hãi không? Các ông nên biết: Ðấy đều là do từ vô thỉ kiếp đến nay chẳng thể tu thiện, tạo đủ ác nghiệp cho nên đời đời kiếp kiếp chẳng thoát nổi tai họa này. Như thời Lương Vũ Ðế, tám người do chiến tranh nên đều thất lạc hết. Bây giờ lại gặp binh biến, không chỗ trốn tránh. Ðủ thấy rằng chúng sanh chẳng vượt khỏi ba cõi, đạt vô sanh thì rốt cục khó thoát nổi nhân duyên nghiệp báo dẫu chỉ phân tấc. Các ông may còn chưa chết nhưng cũng đã mắc hiểm nạn lớn. Nghiệp quả ba đời đáng kinh, đáng sợ. Các ông còn chưa nhất tâm tu đạo, sớm thoát luân hồi, đời sau kiếp khác thật chưa chắc đã được vẹn tròn, biết làm thế nào đây?
* Bồ Tát dạy ông Trầm Nguyên Huy: - Nói chung, người tu Tịnh Ðộ kỵ nhất là xen tạp. Thế nào là xen tạp? Tức là vừa tụng kinh, vừa trì chú, vừa kết hội, lại ưa nói đôi chút về sự khẩn yếu của Thiền, lại ưa bàn những chuyện cát hung, họa phước, thấy thần, gặp quỉ. Ðấy chính là xen tạp. Ðã xen tạp thì tâm chẳng chuyên nhất. Tâm chẳng chuyên nhất thì khó thấy Phật vãng sanh, phí uổng cả một đời. Nay ông chớ nên làm như thế, chỉ khẩn thiết trì một câu A Di Ðà Phật, cầu sanh về Cực Lạc. Lâu ngày công hạnh thành tựu, mới là chẳng sai lầm vậy. Ta sẽ truyền cho ông một bài kệ để tuân theo đó mà tu hành.
Một câu A Di Ðà Là tổng trì vạn pháp Tiếng niệm ứng theo tâm Niệm đâu tâm theo đó Cảm ứng bất tư nghị Ao bảy báu nở sen.
* Bồ Tát dạy ông Ðịnh Khải như sau: - Ông đã gặp đại nạn, may thoát khỏi được. Từ rày nên đau đáu nghĩ đến lỗi trước, dứt tai ương về sau, không còn bộp chộp tranh hơi, khoái ý đua tài khiến thân mang vạ. Nay ta đặt tên cho ông là Khải. Khải là gì? Là Từ, là Nhân. Từ để lập thân, Nhân để giúp người. Công danh có được cũng chẳng vui, có mất cũng chẳng buồn. Chỉ lo vun bồi tâm lành, kiên cố thiện hạnh ngõ hầu đáp tạ tứ ân mà thôi.
* Có một lúc Bồ Tát giáng lâm pháp hội, có đến hơn ba người chưa dứt khoát tâm nghi, đều đến thưa hỏi. Bồ Tát thương xót bọn họ: tuy đều sẵn lòng chí thành nhưng chưa biết đường chánh tu hành, bèn ban lời dạy dỗ: - Hội ngộ hôm nay đáng gọi là hữu duyên. Nhưng nếu ta giảng Phật pháp cho các ông, sợ các ông chưa quen nghe, e khó lòng tin hiểu nổi. Chi bằng ta dẫn sách Nho trong đời để trò chuyện, họa may các ông tin được một hay hai câu. Sách Trung Dung chép: “Hoặc vì an ổn mà làm, hoặc vì lợi mà làm, hoặc miễn cưỡng mà làm”. Xét lúc này đây, chẳng phải vì lợi hay ổn mà làm thì ắt là miễn cưỡng mà làm; điều ấy cũng chẳng nên! Tức là các ông sau khi gặp ta, cũng từng đã phát tâm nếu miễn cưỡng làm lành ắt sẽ có ngày bỏ lửng, hoặc dần dần biếng nhác. Vì sao như thế? Chỉ vì đối với một chữ ‘thiện’ xem rất lơi là, cứ nghĩ là làm lành chẳng thấy công hiệu gì, chẳng như làm ác có công hiệu ngay. Chẳng biết rằng: nếu làm lành thật chẳng có công dụng gì thì sao bậc thánh hiền từ xưa đến nay trọn chẳng làm chút điều ác nào! Còn hành thiện thì tận tâm tận lực làm cho được trọn đủ cả mười hai phần. Lại như nếu quả thật làm ác có công hiệu thì tự xưa đến nay, hiền nhân quân tử sao chẳng cầu nơi việc có công hiệu; ngược lại, còn thực hiện việc không có tác dụng gì? Vả lại, hãy xem mấy kẻ làm ác hiện tại, tuy được sung sướng ngay trước mắt, nhưng rốt cục mấy kẻ được hưởng kết cục tốt lành: chết an lành, danh tiếng tốt, con cháu ngoan ngoãn suốt trong nhiều đời. Lại như mấy đứa bé mới mấy tuổi trong thế gian, hễ thấy nói đến người lành còn biết khen ngợi, há chẳng phải là làm lành ắt được đại lợi ư? Thấy nói đến kẻ ác, chúng cũng biết căm giận, há chẳng phải làm ác chẳng được đại lợi ư? Việc này quá dễ hiểu, chẳng phải vì các ông không thông minh nên không hiểu nổi, chỉ vì các ông chẳng thể thật tâm hướng thiện cho nên nhất thời chẳng thể quán sát tỉ mỉ đó thôi! Bởi vậy, thường ngày hễ bỏ ra một tiền là muốn khoe ngay với người khác hòng được một lời khen ngợi. Muốn khoe ngay với người khác là chỉ làm thiện bề ngoài, chẳng hiểu nổi chỗ dụng tâm khẩn thiết của bậc đại thánh, đại hiền. Chưa hiểu được ý vị đã buông tay bỏ lửng. Nếu các ông ngày nay quả thật tấm lòng chơn chơn thật thật, hành việc chơn chơn thật thật thì chẳng được khởi lên mảy may vọng tưởng mong mỏi trong khi làm lành, thản nhiên an vui theo mạng trời, giữ riêng mình biết, chẳng thấy có việc chung thân để cầu, có kết cục để hỏi, [chẳng thấy] có ngũ hành, bát tự (6) vận mạng cùng quẫn hay thông suốt để bói toán, chẳng thấy có cát hung, được mất để đoạt lấy hay tránh né. [Như thế] thì tự nhiên không tai họa nào chẳng tiêu, không phước nào chẳng đến. Ðạo càng ngày càng tăng, đức càng ngày càng chứa, thành thánh, thành hiền chẳng khó gì! Ðấy chính là sự thật tương lai nhất định của các ông nên ta mới đề cập đến sự thành công ấy đó thôi. Nếu không, lúc sống thì kẻ tiểu nhân chẳng kiêng dè, lúc chết ắt sẽ mục nát cùng cỏ cây, chẳng đáng đau đớn sao? Bồ Tát dạy lời ấy xong, im lặng mà trụ. Ðại chúng khi ấy vẫn nghiêm chỉnh chờ đợi, rồi lại có người lễ bái khẩn cầu. Bồ Tát dạy: - Bọn các ông thật là ngu si quá, nghe lời như vậy xong vẫn chẳng sanh lòng mong giữ lấy, sanh ý niệm tự xét lại mình, chỉ mong đem những chuyện con cái, thân mình, gia đình trong lòng ra hỏi cho kỳ được mới thôi. Khổ thay, khổ thay, nhưng Bồ Tát đại từ chẳng tận nên lại sẽ nói đôi câu cổ ngữ để đánh tan cơn si mộng của các ông. Một là người học đạo hễ tình bất chánh thì tánh bị ly tán, tâm chẳng vững thì đức ắt khuyết, thường thường dè dặt trong từng phút giây nhưng bị biến đổi trong khoảnh khắc. Nếu như thế thì là hạng chẳng thể thành tựu được, khó lòng nhập đạo, nào phải vì thánh nhân chẳng chịu dạy người hay thánh nhân đã chán mệt nên mình tuyệt phận. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy nên suy nghĩ. Hoặc là thiên hạ nào đã hết sạch bậc thông minh hướng thượng, nhưng bị lòng tự phụ vào trình độ hiểu biết ngăn che nên chẳng thành đại khí. Một khi người ấy đã ỷ mình là đúng thì chẳng thể để tâm rỗng rang quy hướng chánh đạo. Những người mình giao tiếp hằng ngày nhất định toàn là hạng dung tục, tâng bốc lẫn nhau. Hễ trót làm việc gì chẳng thể cam nhận lỗi mình nên đức nghiệp mới nguy ngập. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy nên suy nghĩ. Thế nhân tham muốn có được, ai nấy đều ra sức cưỡng cầu, nào hay hễ đạt được một tiền biết còn có mạng hay chăng? Cứ thấy công danh, phú quý là bảo do trí lực của mình ắt sẽ đạt được. Nếu thế thì trời cao lồng lộng, thần minh rỡ rỡ là vô dụng ư? Nếu như cứ cưỡng cầu mà được thì mạng số ắt cũng phải cầu được! Chẳng phải vì các ông nhiều phen vận dụng tâm cơ gấp rút mà trời sẽ thương xót ban cho. Nếu cứ miễn cưỡng cầu tìm thì sẽ mang nhục, chẳng vinh, bị mất mát, chẳng được gì, sẽ vướng cái họa sát thân, nhọc công mà chẳng lợi ích cho ai cả, mắc tai ương tổn đức, chẳng tăng thêm được phước lành. Trời chán ghét, thần minh bỏ lơi. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy suy nghĩ lấy. Ân lớn trong trời đất không gì hơn được ân cha mẹ. Cha mẹ còn sống là vị Phật đang sống trong nhà. Cha mẹ đã mất vẫn truy báo được. Thử nghĩ xem thân này là từ đâu mà tới, do ai được trưởng thành? Sao chẳng phản bổn tầm nguyên, tận tâm, tận lực kính thờ, vâng thuận. Thậm chí có kẻ kết oán với cha mẹ, chẳng đoái hoài gì đến, chỉ chăm chút vợ con, chẳng hiếu dưỡng cha mẹ. Thậm chí, cha mẹ mắc bịnh cũng chẳng hay, chết cũng chẳng chôn. Hoặc là nói một câu là trả miếng một câu tựa như người dưng. Ðấy đều là những hạng chẳng bằng cầm thú vậy. Than ôi! Người chẳng bằng nổi cầm thú hay sao? Ðáng sợ thay! Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy suy nghĩ lấy.
* Có kẻ muốn được làm quan, hỏi Bồ Tát sẽ được thỏa nguyện hay chăng, Bồ Tát dạy: - Cái việc làm quan ông đừng mong tưởng. Ông phải biết rằng: thông kinh sử là văn, luyện thao lược là võ, sức lực hơn người là dũng, trí năng xuất chúng là tài. Ông tự lượng xem mình có được một trong những điều ấy hay chăng? Nếu chẳng có được một điều nào trong bốn điều trên mà muốn làm quan thì bất quá chỉ là hạng gặp may mà thôi. Nếu là hạng gặp may thì ngay ý niệm ban đầu đã bất chánh. Một khi làm quan ắt sẽ cậy oai cậy thế, lăm lăm bóc lột dân chúng để cốt ấm thân mình, quyết chẳng thể làm điều tốt cho nước cho dân. Ðến nỗi tích ác ngày càng sâu, chẳng biết cải hối, đời sau nhất định làm thân trâu, ngựa, lạc đà, lừa có sức mạnh để báo đáp người đã nuôi mình. Như các loài súc sanh trong trận chiến tranh vừa rồi đều là hạng tham lộc ham công đời trước, là hạng chẳng có chút công đức gì với thiên hạ cả. Nhưng lẽ báo ứng xa gần không kỳ hạn, hoặc là gặp họa ngay trong đời này, hoặc con cháu mắc vạ. Chẳng hạn như bọn người tội phạm bị giam cầm, thân bị cắt xẻo, đâm chém. Con cháu hư hỏng hoặc tuyệt diệt không ai nối dòng là bởi như thế đó. Lại còn kẻ tổn hại lương dân, đoạt tài sản họ, ấy là vật bất nhân bất nghĩa. Ðem những thứ ấy cúng tế tổ tiên khiến tổ tiên càng nặng tội. Ðem cúng thần minh, thần minh thêm giận. Ðem cúng chư Phật thánh hiền, Phật thánh ứa lệ. Ðem kính phụng người nhân từ có đạo đức khiến họ đâm ra thẹn hổ. Như vậy là tội ác chưa cùng cực mà oán kết chồng thêm. Ðời sau quyết định sẽ làm loài dê, heo, gà, chó [là những loài] không có sức mạnh để báo đáp người nuôi mình và hạng người bần cùng, hạ tiện rất khổ trong thế gian. Hơn nữa, hạng người nhờ may được làm quan ấy dẫu làm việc tốt lành gì cũng chẳng tránh khỏi trong công lẫn tư, trong thiện lẫn ác. Tội phước ảnh hưởng chẳng sót tơ tóc. Tham danh tiếng, vinh hoa hữu hạn để phải chịu ác quả bao đời. Làm quan nhờ may mắn, tâm đắm chìm trong lợi dục. Những chuyện như vừa nói trên, thế bắt buộc phải vậy, chẳng đáng sợ sao! |