* Ông Vương Ðịnh Hựu cầu con, Bồ Tát dạy:

- Ông từ nay đừng giết sanh mạng, đừng ăn thứ những loài vật khác, đừng đa dục, lắm sân hận. Vì sao thế? Sát sanh tổn hại đức từ của trời đất, trái nghịch đạo trưởng dưỡng. Ăn thịt những loài vật khác ắt tăng thêm dâm, uế, hoặc đến nỗi bị bịnh nặng. Ða dục, nhiều sân hận tổn hại thọ mạng rất nhanh, phá vỡ sự bình hòa của nguyên khí; còn phạm vào cấm kỵ của âm dương rất nhiều.

Ông nay nên phải luôn dè dặt giữ gìn ba điều ấy, một lòng phụng dưỡng mẹ già, bố thí, từ ái, giúp người nghèo, cứu người khổ, làm đủ các việc âm đức, tích lũy chẳng bỏ phế thì trời ắt sẽ ban điều tốt đẹp cho ông.

 

* Bồ Tát dạy ông Lục Ðịnh Tức bài kệ như sau:

 

Thân cận bậc lão thành

Ðừng quen kẻ ác dại,

Bậc quân tử thượng đạt

Các ông nên cố gắng

Khuyên bảo mẹ tu hành

Ấy chính là đại hiếu

Phải chí thành cung kính

Tuân lời Bồ Tát dạy.

 

Ngài lại dạy rằng:

- Ông về nhà, đến bên mẹ thiết thiết tha tha khuyên mẹ chí tâm niệm Phật, cầu sanh Cực Lạc. Nếu mẹ chẳng ăn chay nổi thì đừng miễn cưỡng, chỉ cốt mẹ không sát sanh. Nếu mẹ chịu quy hướng Phật Di Ðà, tự thôi ăn mặn thì đấy là hiếu hạnh bậc nhất trong thế gian. Ông hãy gắng làm thế.

 

* Lúc bấy giờ, duyên ứng hiện của Bồ tát đã hết; vì thế, ngài triệu tập các đệ tử, người nào cũng được Bồ Tát dặn dò.

Ngài dạy ông Ðịnh Miễn như sau:

- Ông tên là Ðịnh Miễn, nên tự hiểu danh hiệu mình: gắng sức tu hành sẽ tự được khai ngộ Vô Thượng Bồ Ðề, làm bậc thiện tri thức, nối tiếp Phật huệ mạng. Ông đừng tự buông bỏ.

 

* Ông Ðịnh Khai hỏi về yếu chỉ Nhất Tâm Tam Quán, Bồ Tát dạy:

- Ðiểm mầu nhiệm trong pháp Tam Quán của tông Thiên Thai là ở viên tâm. Nếu biết được viên tâm thì thấu tột được đạo.

Bồ Tát dạy ông Ðịnh Khai cùng Ðịnh Miễn cùng đứng, nhận lấy bài kệ:

 

Nhất khai thì nhị khai

Kể từ nay trở đi

Hạt giống dòng Bồ Ðề

Ðược hai tay khéo trồng

 

* Ngài dạy ông Thượng Ðức:

 

Ðầu đã hói

Nên tri túc

Nghĩ vô thường

Ðoạn ái dục!

Nam mô A Di Ðà

Niệm niệm luôn tiếp nối

 

* Bồ Tát dạy ông Nhĩ Chi:

 

Siêng thì chẳng bịnh

Chẳng siêng sẽ bịnh

Chớ bảo túc nghiệp

Báo ứng rất gần!

Nhiều lần thân cận

Từ phụ Di Ðà

Còn được sống lâu

Huống là hết bịnh.

 

* Bồ Tát dạy ông Trần Ðại Tâm:

 

Già chẳng dễ chịu

Chết quyết trói buộc,

Xong nợ con cái

Mới hòng sướng vui.

Cực Lạc chẳng xa

Chớ tự cách tuyệt

 

* Bồ Tát dạy ông Trầm Nguyên Huy:

 

Thẳm sâu chẳng lộ

Mới là trì giới

Nếu lộ ra ngoài

Không lâu ắt bại

Niệm đã chẳng chơn

Chẳng được tự tại

Phước, họa, cát hung

Ông phải tự dè.

 

* Bồ Tát dạy ông Ðỗ Nghĩa Kiến:

 

Thiện chính là nghĩa

Bất thiện bất nghĩa

Nghĩa, thiện chẳng hai

Chỉ thấy cái nghĩa

Vì nghĩa mà thấy

Chẳng thấy phi nghĩa

Lúc thấy phi nghĩa

Thấy vô kiến nghĩa.

 

* Bồ Tát dạy nữ đệ tử Ý An như sau: “Vì mắc bịnh mà bà chẳng niệm Phật hay sao? Ôi chao, bịnh càng nặng càng phải siêng niệm mới tốt chứ! Nếu đến lúc bịnh nặng quá chẳng niệm nổi thì đã lỡ làng rồi!”

 

* Bồ Tát dạy ông Vô Hủ:

 

Báu chi miếng ngọc? 

Phải tiếc tấc bóng

Chánh niệm Di Ðà

Tín quang rạng rỡ

Ðừng tham chuyện cũ

Mất luôn tiền đồ.

 

* Bồ Tát dạy ông Thường Nhiếp:

 

Có miệng tựa hồ câm

Có tai làm như điếc

Chẳng lẫn lộn với đời

Mới là sùng đạo nghiệp

 

* Ngài dạy ông Thường Nguyên như sau:

 

Hạnh chớ để biếng nhác

Biếng nhác chẳng là Tăng

Nếu ông tự phế hạnh

Thân mang nhiều hậu họa

 

* Bồ Tát dạy ông Ðịnh Mậu:

 

Ông là đạo nhân

Phải tịnh tâm mình

Tịnh được cái tâm

Mới hơn người được!

 

* Bồ Tát dạy ông Ðịnh Tùy:

 

Hạnh ròng chắc là quý

Nhưng vẫn là chưa hay

Nếu chỉ có như thế

Mà đã coi là đủ

Thì xuất gia ích gì?

Phải nguyện lìa si não

Nên khởi phát đạo ý

Ðừng để bỏ luống uổng

 

* Bồ Tát dạy ông Tra Ðịnh Hoằng:

 

Bồ Tát nói kệ

Về bảo mẹ ông

Lúc thường uống ăn

Chóng lo xong việc (**).

 

* Bồ Tát dạy ông Trần Ðịnh Chuyên:

 

Mình trời cao nhất

Không đâu chẳng thấy

Ông giữ sơ tâm

Chớ để giảm ít.

 

* Bồ Tát dạy ông Ðạt Bổn:

 

Ðạt Bổn vô bổn

Nên dứt vạn duyên

Chỗ nào chẳng yên?

Bởi thế, gấp gấp!

Một mai xuôi tay

Trai cày, gái dệt,

Hồi tưởng sanh tiền

Ông sẽ khóc lóc.

 

* Bồ Tát dạy từng người xong, lại bảo đại chúng rằng:

- Từ lúc ta giáng cơ đến nay, những lời ta nói ra đều là những điều yếu diệu để tu hành. Các ngươi phải luôn luôn thể hội, cực lực tuân hành thì nhất định sanh về thượng phẩm. Từ nay Bồ Tát sẽ chẳng giáng đàn nữa. Các đệ tử ai nấy phải nỗ lực, đừng để lỡ dịp này.

Khi ấy, các đệ tử nghe lời Bồ Tát dạy đều khóc lóc buồn tiếc, chẳng ngửa nhìn lên nổi. Bồ Tát bảo:

- Này các đệ tử! Các ông cho rằng nếu Bồ Tát chẳng giáng lâm nữa, e rằng mình sẽ đâm ra biếng nhác, vì đó sẽ bị sai sảy. Chẳng phải vậy đâu! Vì sao vậy? Từ rày trở đi, các ông có tinh tấn thì chỉ là chính các ông tinh tấn, bỏ đường trần tiến vào cảnh thánh; đấy là hành vi của bậc đại trí đại hiền. Còn nếu biếng nhác thì cũng chính là tự các ông biếng nhác, ngoảnh mặt với đại đạo, bước vào chỗ bùn lầy; đấy là hành vi của kẻ vô tri, hạ ngu.

Này các đệ tử! Cần phải luôn tấn tu, chớ sanh lưu luyến, vướng mắc, luôn gấp rút nỗ lực, có chi mà buồn thương!

Lát sau, Bồ Tát lại dạy:

- Các ông chẳng nên mong tưởng Bồ Tát sẽ giáng cơ nữa. Vì sao vậy? Bày ra chuyện cầu cơ vốn là chỗ quỷ thần dựa dẫm, chứ chẳng phải là việc thường ứng hóa của bậc đại Bồ Tát. Nếu các ông tuân phụng lời ta dạy chẳng sai, đối với Bồ Tát sanh tấm lòng cung kính, sanh ý tưởng khó được gặp gỡ thì chính là báo ân một cách lớn lao.

Khi ấy, các đệ tử tuy nghe pháp dụ nhưng vẫn bịn rịn chẳng nỡ chia tay. Bồ Tát lại dạy:

- Này các đệ tử! Trong túc nhân xưa kia, Bồ Tát cùng các ông có đại duyên. Từ nay ta chẳng giáng đàn nữa, nhưng chẳng nên nghĩ là chúng ta lìa xa nhau. Nên biết rằng Giác Minh Diệu Hạnh lúc nào cũng ở ngay trước mắt các ông. Các ông dè dặt, chớ để một ngày nào quên mất, tự buông bỏ Giác Minh Diệu Hạnh.

Giây sau, Bồ Tát lại dạy:

- Này các đệ tử! Pháp hội đã xong, ai nấy nên đi về đi. Bồ Tát chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu! Chớ nên khăng khăng chấp nê là Bồ Tát nhất định chỉ hiện diện trên một bức giấy mà thôi! Ai nấy nên niệm một câu A Di Ðà Phật, chí thành làm lễ, cúi lạy nhận lãnh, phụng hành mới là phải vậy! []

(Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa dịch xong ngày 13 tháng 08 năm 2002)

(*) Thương hàn: Ở đây, thương hàn là bệnh do trúng hàn, trúng nhiệt chứ không phải là chứng bịnh thương hàn (typhoid) do vi khuẩn gây ra như người Việt ta thường gọi.

(1) Niên hiệu Khai Nguyên thứ sáu đời vua Ðường Huyền Tông chính là năm 718. Bồ Tát đích thân chứng kiến chuyện Vi Hạnh thiền sư cầu thọ.

(2) Quang âm: ánh sáng mặt trời, thường dịch là tấc bóng. Ðây là từ ngữ chỉ thời gian. Ở đây ý nói ông Tôn chỉ sống thêm được chừng bảy, tám năm nữa.

(3) Vị tăng trụ lại ở đâu để tu tập trong một thời gian dài thì gọi là trụ tích. Tích ở đây là tích trượng.

(4) Tức là trong khoảng thời gian từ năm 874 đến 888. Ðây là thời Ðường mạt, các phiên trấn nổi lên cát cứ, tranh giành quyền lực; Hoàng Sào khởi binh, thiên hạ đại loạn. Tính từ thời gian ấy cho đến đời vua Thuận Trị nhà Thanh là tám trăm năm.

(5) Nhận: đơn vị đo lường, chừng bảy hay tám thước Tây.

(6) Bát tự: là năm, tháng, ngày, giờ sanh. Do năm, tháng, ngày giờ thường được phối hợp giữa Thiên Can (Giáp, Ất, Bính….) và Ðịa Chi (Tý, Sửu, Dần…) nên mỗi thứ năm tháng, ngày, giờ đều gồm có hai chữ, ví dụ năm Ðinh Dậu, ngày Kỷ Tỵ... Tàu thường dùng bát tự để tính toán vận mạng, nhất là trong hai khoa Tử Vi và Tử Bình.

(**) Ý Bồ Tát dạy ông Tra Ðịnh Hoằng trong lúc ăn cơm, uống trà thường ngày trong nhà phải gắng khuyên lơn mẹ mình mau tu tập.