19. Dùng lý đoạt sự

 

Lục Tổ Ðàn kinh chép:

“Người Thiều Châu hỏi về pháp tu Tây phương, Lục Tổ dạy: ‘Tự tâm có Tây phương, kiếm Tây phương chỗ nào? Người Ðông phương tạo tội tác nghiệp cầu sanh Tây phương. Nếu người Tây phương tạo tội gây nghiệp thì cầu sanh chốn nào? Chỉ ngộ được tánh thì chỗ nào mà chẳng được?”

Ngài Chí Công cũng nói: “Bậc trí biết tâm là Phật, kẻ ngu nguyện sanh Tây phương”.

Lời của hai vị sư này đều là dùng lý đoạt sự, đều cùng là tùy bịnh cho thuốc. Nếu cứ chấp nê theo lời để hiểu thì là chấp thuốc thành bịnh vậy. Nếu chỉ căn cứ theo lý mà nói thời một pháp còn chẳng thể được, huống hồ là có Tịnh Ðộ để sanh! Chẳng riêng mình Tịnh Ðộ mà ngay cả tự tâm cũng còn chẳng thể được. Cái chẳng thể được này cũng bất khả đắc nốt!

Nếu như vậy thì nói ‘tự tâm có Tây phương’ và ‘biết tâm là Phật’ đều thành thừa thãi. Mà lý đây chính là cái lý tức sự, cái Không đây chính là cái Không tức Hữu. Chính ngay trong chỗ sạch trơn ấy phương ngại gì đến việc kiến lập các pháp để niệm Phật vãng sanh?

Do sự chính là lý nên niệm nhưng vô niệm, sanh mà vô sanh; thế nên cứ thẳng bước trên đường rộng, chấp chi lời chết cứng. Người đời sau chẳng hiểu ý này, cứ một bề bám theo lời nói mà hiểu, hủy báng người tu Tịnh nghiệp. Khác nào đối với người đang ngồi thuyền vượt biển lại khuyên đi đường bộ, chẳng tương xứng cơ nghi, chỉ càng khiến tăng thêm hoặc loạn. Ngài Vĩnh Gia nói: “Bỏ có chấp không cũng là bịnh, khác nào để tránh chết đuối bèn đâm đầu vào lửa”. Có nên như thế chăng?

 

20. Bốn thứ tình chấp

 

Ðạo chẳng phải trong, ngoài; chẳng rời trong, ngoài. Ðạo tuyệt ta, người nhưng chẳng trở ngại gì đến ta lẫn người do muôn pháp đều đồng một thể vậy. Một chẳng nhất định là một, nào ngại chi vạn pháp khác biệt. Nếu hiểu rõ ý chỉ này, hễ hiểu rõ được một điều thì hết thảy mọi điều đều hiểu rõ. Muôn pháp đều là tự tánh của mình, không chỗ nào là chẳng đến được. Nếu có Phật để niệm thì là chấp tướng; nếu bảo không Phật để niệm thì lại càng chấp tướng nặng hơn.

Thử dùng tứ cú để luận, tức là [bốn câu]: ‘có Phật’, ‘không Phật’, ‘cũng có Phật cũng không Phật’ và ‘chẳng phải có Phật chẳng phải không Phật’ thành ra bốn thứ chấp. Hễ chấp lấy một thứ đều thành tà kiến.

Nếu với bốn điều này dung thông vô ngại thì hễ chỉ quán một điều cũng thành tam muội vậy; [ở đây chỉ] nêu một điều đại diện cho các điều khác ngõ hầu [người nghe] lãnh hội được ý. Phật do nguyện lực rộng lớn khiến cho kẻ sơ tâm phàm phu một khi đã sanh về cõi kia thì vĩnh viễn chẳng thoái chuyển. Còn nếu ai chẳng chịu vãng sanh, cam chịu trầm luân thì chính là gã đang ở sát cạnh giỏ cơm mà đành chịu chết đói vậy.

Tổ Ðạt Ma dạy: “Tâm như tường vách mới có thể nhập đạo” là để phá vọng tình phân biệt, cũng là tùy bịnh cho thuốc. Nếu muốn đạt ngay được vô tâm thì đúng là chấp thuốc thành bịnh!

Tỳ kheo Thiện Tinh có thể giảng nổi mười hai bộ kinh, đắc quả Tứ Thiền, nhưng vì giao du với bạn tà nên nói xằng là không Phật, không Pháp, chẳng có Niết Bàn cho nên bị sanh hãm trong địa ngục; đấy đều là do vọng chấp pháp không, bác không nhân quả nên chiêu lấy cái quả báo dữ dội ấy.

Người đời nay chẳng tuân lời Phật, chấp tà kiến là Ðại Thừa, báng Niệm Phật là Tiểu Thừa, thật đúng là phi pháp lại bảo là pháp, pháp nói là phi pháp; thoát nổi trọng tội Vô Gián được chăng?

 

21. Lẽ được mất của chuyện bàn suông về Không

 

Kinh nói: “Chư Phật nói pháp Không để độ kẻ chấp trước. Nếu lại chấp nơi Không, chư Phật chẳng độ nổi”. Giáo pháp của cả Ðại Tạng là tùy bịnh cho thuốc. Khéo dùng thuốc thì không bịnh chi chẳng hết; chẳng khéo dùng thì đề hồ thượng vị trở thành chất độc!

Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma chẳng lập văn tự, chỉ đề xướng trực chỉ, bảo là Giáo Ngoại Biệt Truyền. Lục Tổ nói: “Chỉ hai chữ ‘chẳng lập’ ấy đã là văn tự. Bảo là Trực Chỉ chỉ vì do [người tu hành còn] hiểu cong vạy vậy”.

Vì kẻ học pháp mà cổ nhân cạy niêm cởi trói, xóa ngờ phá chấp; công ấy không chi lớn hơn. Cần phải biết đạo lý như sau:

Chẳng thể dùng hữu tâm để cầu. Chẳng thể dùng vô tâm để đắc. Chẳng thể dùng ngôn từ để tạo. Chẳng thể dùng tịch mặc để thông. Ðạt thẳng đến chỗ không nương dựa vào đâu, vượt khỏi ngoài sự suy nghĩ của phàm, thánh. Cũng chẳng nương dựa vào cái chỗ không nương dựa ấy, vượt khỏi chỗ suy lường của phàm, thánh thì mới đáng gọi là xuất cách đạo nhân.

Kẻ học đạo đời sau cứ chấp trước ngang bướng, chẳng rõ ý Tổ, nhận lầm lời lẽ cổ nhân là thật, cho rằng thật sự có một pháp Giáo Ngoại Biệt Truyền, phải thẳng tay quét sạch văn tự, chấp chặt rằng chẳng còn có một pháp nào hết cả thì mới là cứu cánh, khăng khăng tính kế sống mãi trong dòng sanh tử. Ðối với các đạo khác, họ cũng đem [cái chấp] quét sạch ấy để quét sạch hết cả, nghinh ngang chẳng hay biết gì.

Ôi! đáng thương thay! Riêng họ chẳng biết rằng: đoạn vọng tưởng tam giới, diệt ngũ ấm sắc thân, trọn chẳng vướng bận dẫu mảy may nào lại chính là kiến giải của Tiểu Thừa đối với Tam Tạng. Nếu hiểu được [như thế] thì sẽ chuyển mình, tự nhiên mọi pháp dung thông, đi trên đường sanh tử chẳng trở ngại gì; tuân theo thánh giáo của Phật, phát nguyện vãng sanh, tham lễ Di Ðà, thân cận thiện hữu, mau chứng bất thoái, phổ độ chúng sanh. Sánh với kẻ thiên chấp Không kiến, cam chịu luân hồi, chẳng cầu xuất ly, lẽ tiêu hoại chẳng đồng vậy.

 

22. Chống kinh, trái thánh

 

Ðạo của cổ nhân hễ đã tu chứng thì [thấy] là chẳng phải là không, nhưng nếu còn nhiễm ô thì chẳng đạt được. Như kinh Kim Cang Bát Nhã dạy: “Vô trụ tướng bố thí”, há nào có phải là chẳng cần tu bố thí thì mới là vô trụ tướng hay sao?

Chỉ cốt sao cái tâm năng tu khế hợp lý Bát Nhã Chơn Không thì trọn ngày bố thí mà lìa hết thảy tướng; ấy mới là phá chấp vậy. Bàn thẳng về ly tướng, nói cùng tột về lý thì cũng chẳng chấp vào cái Ly Tướng mới đáng gọi là: “Ðối với cả hai thứ chấp trước và không chấp trước, hành nhân đều chẳng chấp trước vào thứ nào cả!”

Do xứng tánh tu hành, lìa các kiến giải chấp Có, chấp Không của phàm phu và Nhị Thừa nên gọi là “vô trụ tướng” vậy. Phàm Bồ Tát tu hành lục độ, vạn hạnh, không vị nào chẳng đều như thế cả. Há phải đâu là cứ khơi khơi không tu rồi bảo là “chẳng trụ tướng” ư!

Nay Vãng Sanh Tịnh Ðộ chính là một môn trong vạn hạnh của Bồ Tát, là một pháp để đi qua suốt mười phương thừa sự chư Phật vậy. Do xứng tánh tu hành nên hiểu rành rẽ hết thảy pháp đều là vô tướng. Vô tướng cũng là vô. Phàm đã như vậy thời với Tịnh Ðộ nào ngại vãng sanh, với đức Di Ðà nào ngại chi thân cận. Nương Phật  nguyện lực nên mau chứng vô sanh.

Nếu cứ chấp chặt rằng vô sanh, vô kiến mới là đạt lý thì sẽ đọa vào thiên kiến chấp không của Nhị Thừa, ngoại đạo. Công nhiên trái nghịch, chống kinh, chê thánh, còn tội nào lớn hơn nữa!

 

23. Vì nhỏ mất lớn

 

Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:

“Nay có kẻ mua bán chỉ mong một tiền mà được hai tiền, người đi đường một ngày đi được đoạn đường bằng cả hai ngày thì tâm liền vui sướng. Không được như thế, tâm ắt buồn bực.

Ðối với vật ngoài thân có chút được mất liền đã vui, buồn như thế; còn với tháng ngày hữu hạn của mình dần dà bị mất đi, tuy sự mất mát ấy thật lớn nhưng chẳng lấy làm lo. Cái duyên Tịnh Ðộ khó gặp nhưng ta may sao được biết đến, đấy chính là cái được lớn lao nhưng lại chẳng lấy làm vui.

Chỉ thấy những cái được, mất nhỏ nhoi mà vui, buồn; còn với những cái được, mất lớn lao lại chẳng hề hay biết. Sao chẳng suy xét kỹ càng vậy!”

 

24. Mười  điều mất mát nếu chẳng tu

 

Phật dạy pháp tu hành đường tắt khiến hết thảy chúng sanh mau siêu sanh tử; nhưng người chướng nặng chẳng chịu tấn tu thì sẽ chịu mười điều mất mát:

Một, chẳng tin lời Phật. Hai, chẳng tuân thánh giáo. Ba, chẳng tin nhân quả. Bốn chẳng trọng cái linh tâm của mình. Năm, chẳng cầu tiến lên. Sáu chẳng thân thiện hữu. Bảy, chẳng cầu giải thoát. Tám, cam chịu luân hồi. Chín, chẳng sợ ác đạo. Mười, cam làm loài ma.

Ngược lại, tu hành thì được mười thứ lợi ích thù thắng.

 

25. Vĩnh viễn không có ma sự

 

Sách Niệm Phật Chánh Tín Quyết của Thọ Thiền Sư có viết:

“Hoặc có kẻ nói lúc lâm chung thấy Phật, phóng quang tiếp dẫn, đó đều là ma cảnh. Thuyết ấy như thế nào?

Ðáp: Tu tập tam muội theo như kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy thì có thể phát động ấm ma. Tu các thứ tam muội dạy trong Luận Ma Ha Diễn và sách (Ma Ha) Chỉ Quán v.v… sẽ có thể phát động ngoại ma. Ðấy là nói về những cách chuyên dùng tự lực để tu Thiền, vì ma chủng đã có sẵn từ trước bị Ðịnh thúc đẩy nên ma sự phát động. Nếu hiểu rõ được [ma cảnh] mà đối trị thì thành thánh pháp, còn nếu cứ mặc tình xuôi theo, chẳng hề hay biết thì sẽ bị chướng ngại.

Nay ta tu Niệm Phật tam muội là nương vào sức đức Phật kia giống như gần gũi đế vương, kẻ nào dám phạm?

Vả lại, đức Di Ðà có thệ nguyện đại từ bi, sức tam muội oai thần, có sức dẹp tà lớn lao, có sức hàng ma to lớn, thiên nhãn xa trông, thiên nhĩ vẳng nghe, tha tâm soi tột, quang minh chiếu khắp nhiếp thủ chúng sanh. Phật đã có sức công đức như vậy, lẽ nào chẳng hộ trì nổi người niệm Phật khiến cho lúc lâm chung chẳng bị chướng ngại hay sao?

Còn các việc như kim đài đến đón… vốn phát xuất tự Quán kinh, do chính kim khẩu đã nói; nếu coi [những việc ấy] là ma thì thật là quá sức vô tri vậy!

 

26. Ba sức Ban Châu

 

Trong Hội Tông Tập của Viên Thông Phạm pháp sư có dẫn kinh Ban Châu Tam Muội như sau:

“Niệm Phật vãng sanh có ba thứ lực:

Một là Bổn Hữu Phật Tánh Lực, tức là nói trong tâm phiền não có Như Lai tạng vậy.

Hai là Từ Quang Nhiếp Thủ Lực, tức là nói Di Ðà quang minh vô lượng, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật chẳng bỏ.

Ba là Niệm Phật Tam Muội Lực, tức là nhớ Phật niệm Phật thì hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật”.

Ba thứ lực này như ba sợi dây hợp thành sợi thừng lớn, lôi được vật nặng.

Lại như cái gương thủy hỏa, nếu đem hướng về mặt trời, chiếu lên cỏ khô thì lấy được lửa. Nếu đem hứng ánh sáng mặt trăng, dùng châu để hứng lấy [ở phía dưới gương] thì liền được nước.

Cái gương có đủ tánh thủy, hỏa ấy giống như chúng sanh vốn sẵn đủ Phật tánh lực. Cần phải nhờ đến ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi đến là ví cho từ quang nhiếp thủ của Phật Di Ðà vậy. Dùng cỏ, châu lấy được nước, lửa là ví cho sức tín tâm niệm Phật. Ba thứ này chẳng được thiếu một điều. Ba sự hòa hợp thì nước, lửa mới sanh; ba lực cùng hỗ trợ ắt sẽ sanh Tịnh Ðộ.

 

27. Thuyền chở đá chẳng chìm

 

Kinh Na Tiên ghi:

“Xưa có quốc vương hỏi sa môn Na Tiên rằng:Vì sao chúng sanh nghiệp nặng niệm Phật liền được vãng sanh?’

Na Tiên đáp:

- Ví như có kẻ tính chở đến cả trăm ngàn khối đá lớn vượt qua biển lớn; do bởi sức thuyền nên đến được bờ kia. Tội của chúng sanh ví như tảng đá lớn; nguyện lực Di Ðà như thuyền lớn kia. Ðá vốn dễ chìm nhưng nhờ thuyền chở được; vượt ngang biển khổ sanh tử hoàn toàn nhờ vào nguyện vương của Phật”.

Trong hết thảy thời, dùng nguyện vương ấy làm người dẫn đường tốt lành lên thẳng bờ kia, chẳng vượt ra ngoài tự tâm. Vì vậy, sách Câu Xá tụng có câu:

“Kẻ ngu tạo tội thì dẫu nhỏ cũng đọa ác. Người trí làm tội dù lớn cũng thoát khổ. Như cái kim sắt dù nhỏ cũng chìm xuống nước, cái bát sắt dẫu to vẫn nổi được”.

 

28. Vừa niệm liền sanh

 

Trong Thập Nghi Luận có câu hỏi rằng: “Tây phương cách đây mười vạn ức cõi, phàm phu hèn yếu làm sao đến đó được?”

Ðáp: “Tây phương mười vạn ức cõi là đối với phàm phu nhục nhãn, tâm lượng sanh tử mà nói. Ðiều khiến chúng sanh được thành tựu Tịnh nghiệp là: trong lúc lâm chung, cái tâm trụ trong Ðịnh chính là cái tâm thọ sanh Tịnh Ðộ. Lúc vừa khởi niệm  chính là lúc sanh về Tịnh Ðộ”.

Vì vậy, kinh dạy: “A Di Ðà Phật cách đây chẳng xa” chính là do nghiệp lực chẳng nghĩ bàn vậy. Do một niệm liền được sanh nên chẳng phải sợ xa.

Lại như người nằm mộng, thân tuy ở trên giường mà tâm ý thức đến khắp các phương khác giống như lúc bình thường chẳng khác. Tịnh Ðộ cũng thế: vừa khởi niệm thì liền được sanh, còn ngờ chi nữa!

 

29. Như gương hiện bóng

Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:

“Mỗi một chúng sanh trong mười phương thế giới niệm Phật thì ao báu nơi Tịnh Ðộ liền sanh một đóa hoa sen, ghi tên người ấy”. Nếu có kẻ ngờ vực, ta sẽ bảo rằng: “Giống như gương sáng sạch, vật soi vào liền hiện hình. Gương có dụng tâm đâu? Do gương sáng nên hình bóng tự nhiên hiện vậy”. Vì thế mới nói: “Thiện tâm vừa phát, điện báu trên cõi trời đã thành trước. Ác niệm vừa khởi, hỏa thành dưới đất đã hoàn thành”. Nếu như vậy thì người tu Tịnh nghiệp có cành hoa đề tên, chờ người vãng sanh, có chi là lạ?

Hoặc [có kẻ] gạn: “Trì chú Vãng Sanh thì A Di Ðà Phật thường ngự trên đảnh, người tu Tịnh nghiệp lúc lâm chung Phật và Bồ Tát cùng đến đón rước. Chúng sanh vô lượng thì làm sao Phật ngự khắp trên đảnh nổi, đều đến đón hết nổi?”

Ta bảo: “Một vầng trăng hiện khắp trong hết thảy chỗ có nước. Một mặt trời chiếu khắp vô lượng thế giới. Chỉ có chỗ nước đục trăng chẳng hiện được, nơi chậu úp mặt trời chẳng chiếu được!

Quang minh của Phật Vô Lượng Thọ chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật chẳng bỏ. Ðời có kẻ chẳng nguyện vãng sanh thì giống như nước đục, chậu úp, chẳng được quang minh soi đến, há nào có phải là lỗi của mặt trời, mặt trăng đâu?

 

30. Cầu Phật gia hộ

 

Chiếu Luật Sư nói:

“Hoặc có kẻ hỏi:  Như Quán kinh đã dạy: ‘Tâm này làm Phật, tâm này là Phật’. Tâm đã là Phật, cần gì niệm Phật khác?

Ðáp: Chính vì do tâm vốn là Phật nên mới dạy chuyên niệm đức Phật ấy. Kinh Phạm Võng dạy: ‘Nên thường tự biết ta là Phật chưa thành, chư Phật là Phật đã thành’.

Tâm ông dẫu là Phật nhưng là Phật chưa thành; còn A Di Ðà Phật là Phật đã thành. Phật chưa thành chìm trong biển dục đã lâu, đầy đủ phiền não, chẳng biết kỳ ra. Ðức Phật đã thành thì từ lâu đã chứng Bồ Ðề, đầy đủ oai thần, có thể gia hộ chúng sanh.

Vì thế chư Phật khuyên niệm Phật, chính là để cho vị Phật chưa thành nơi ta cầu nơi đức Phật đã thành của người khác cứu giúp cho. Vì vậy, nếu chúng sanh chẳng niệm Phật thì phàm thánh vĩnh viễn cách biệt, cha, con xa lìa, ở mãi trong luân hồi, cách Phật càng xa vậy”.

 

31. Bí quyết trường sanh

 

Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:

“Kinh Lăng Nghiêm nói có mười loại tiên, thọ ngàn vạn năm, ở yên trong núi sâu, khi mạng hết lại bị luân hồi vì chẳng hiểu chơn tánh. [Tiên đạo] cùng với lục đạo chúng sanh gọi chung là thất thú (bảy đường). Người học đạo tiên trong đời, cả vạn người tu chẳng có đến một người đắc đạo. Ví dù có đắc đạo vẫn chẳng thoát nổi luân hồi vì còn chấp nơi thần, hình, chẳng thể bỏ đi nổi.

Vả lại, thần hình chỉ là vọng tưởng hiện ra trong chơn tánh, đều chẳng phải là chơn thật. Trong vòng vài trăm năm trở lại đây, những người được thành tiên chỉ có Chung Ly, Lữ Ðộng Tân, nhưng số người học theo họ Chung, họ Lữ có đến ngàn muôn. Chỉ riêng những người đích thân tôi biết số cũng chẳng ít, rốt cuộc đều tử vong, chôn vùi dưới đất. Chẳng thấy một ai giữa ban ngày bay lên nổi.

Muốn cầu trường sanh thì chẳng chi bằng Tịnh Ðộ. Chẳng biết tu pháp này lại học đạo thần tiên chính là bỏ mỹ ngọc trước mắt để cầu thứ đá vân chẳng thể có. Há chẳng phải là lầm lắm sao? Cư sĩ Hương Sơn đời Ðường trong bài thơ tặng Vương tiên nhân có viết:

 

Nghe ngài bớt ăn, ngủ,

Ngày nghe thuyết thần tiên

Ngầm đợi bậc phi thường

Cầu bí quyết trường sanh

Bảo dài vốn đối ngắn

Chưa thoát vòng sanh tử,

Dẫu có được trường sanh

Chẳng còn bị chết yểu

Cây tùng ngàn năm mục

Hoa cẩn một ngày tàn

Rốt cục giống hư không

Cần gì khoe năm tháng?

Thọ, yểu dẫu khác nhau

Sanh tử rồi giống hệt!

Chẳng bằng học vô sanh

Vô sanh thì vô diệt.

 

32. Mười tâm trong kinh Bảo Tích

 

Kinh Ðại Bảo Tích chép:

“Ngài Di Lặc hỏi Phật:

- Như Phật đã dạy về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà, nếu có chúng sanh phát mười thứ tâm, chuyên chú nơi Phật thì người ấy khi mạng chung sẽ được vãng sanh. Những gì là mười?’

Phật bảo Di Lặc:

- Mười tâm như vậy, chẳng phải là [những tâm mà] những kẻ phàm ngu, kẻ bất thiện trượng phu còn đủ phiền não có thể phát khởi được nổi.

Những gì là mười?

Một là đối với các chúng sanh khởi đại từ, không tâm tổn hại.

Hai là đối với các chúng sanh khởi đại bi, không tâm bức não.

Ba là với chánh pháp của Phật, chẳng tiếc thân mạng, tâm thích thủ hộ.

Bốn là với hết thảy pháp, phát sanh thắng nhẫn, tâm không chấp trước.

Năm là chẳng tham lợi dưỡng, cung kính tôn trọng, tâm vui thích thanh tịnh.

Sáu là cầu Phật Chủng Trí, trong hết thảy thời tâm không quên mất.

Bảy là đối với các chúng sanh, tôn trọng cung kính, tâm không hèn kém.

Tám là chẳng ham bàn chuyện đời, sanh tâm quyết định đối với Bồ Ðề phần.

Chín là trồng các căn lành, tâm thanh tịnh chẳng có tạp nhiễm.

Mười là đối với các Như Lai, xả ly các tướng, khởi tâm tùy niệm.

Ðấy gọi là mười thứ tâm của Bồ Tát. Nếu đối với mười tâm này, hễ ai thành được một tâm, thích muốn được sanh trong thế giới đức Phật kia mà chẳng được sanh thì thật chẳng có lẽ ấy”.

 

33. Ngài Từ Vân khuyên tu

 

Từ Vân sám chủ nói:

- An Dưỡng Tịnh nghiệp là đường tắt dễ tu. Các kinh Ðại Thừa đều chỉ bày điều cốt yếu này. Mười phương chư Phật không vị nào chẳng khen ngợi.

Nếu tỳ kheo, tứ chúng, thiện nam, tín nữ muốn mau phá được vô minh, vĩnh viễn diệt hết trọng tội ngũ nghịch, thập ác và các lỗi nhẹ khác thì nên tu pháp này.

Muốn cho giới luật lớn nhỏ được thanh tịnh như cũ, đủ đầy hết thảy các ba la mật môn thì nên học pháp này.

Muốn lúc lâm chung lìa các nỗi sợ hãi, thân, tâm an vui, vui vẻ như trở về, quang minh chiếu sáng nhà cửa, hương lạ, âm nhạc, A Di Ðà Phật cùng các thánh chúng trao cho đài tử kim, xòe tay tiếp dẫn, vượt ngang ngũ đạo, mãi mãi ngự trên chín phẩm, thoát hẳn phiền não, an nghỉ thanh lương, vừa ra khỏi trần lao liền chứng bất thoái, chẳng trải bao kiếp lâu xa liền chứng vô sanh thì phải nên học pháp này.

Muốn tu chút pháp mà cảm được diệu báo, mười phương chư Phật đồng thời khen ngợi, được hiện tiền thọ ký, trong một niệm cúng dường vô ương số Phật, trở về cõi mình ngồi ăn chung với Phật A Di Ðà, nghị luận cùng Quán Âm, sánh bước cùng Thế Chí, thấy suốt nghe tột, thân vô hạn lượng, bay lên không tự tại, rành rẽ túc mạng, thấy khắp ngũ đạo như bóng hiện trong gương, trong niệm niệm chứng nhập vô tận tam muội, [để đạt được các điều] xưng thuật chẳng thể cùng tận như thế thì phải nên tu tập pháp thù thắng này”.

 

34. Hiện đời được phước

 

Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:

“Hoặc có kẻ bảo cầu sanh Tịnh Ðộ là việc sau khi chết, chẳng biết là có lợi ích gì lớn lao cho ngay khi đang còn sống chăng? Phàm Phật dạy người, không điều gì là chẳng lành. Ðã lấy việc cầu sanh Tịnh Ðộ làm tâm thì hễ ý nghĩ đến điều gì, miệng nói đến điều gì, thân làm ra điều gì, không gì là chẳng lành. Trong đời hiện tại, người ấy đáng coi là bậc quân tử, là đại hiền, được người kính trọng, được thần nhân phù trợ, phước duyên được tăng, thọ mạng được vĩnh viễn.

Kế đến là khống chế được nghiệp duyên, chẳng còn chuyên chí vào cõi này; do vậy, ác duyên giảm bớt; bởi đấy, thiện duyên càng tăng. Giả sử có kẻ chẳng biết lễ nghĩa, chẳng sợ hình phạt, chỉ cậy vào khí lực, chỉ chuyên chú theo đuổi cái lợi thế gian, nhưng nếu chỉ tạm biết lấy Tịnh Ðộ làm tâm thì ắt cũng tự giảm bớt lỗi mình. Tuy tất cả việc làm của kẻ ấy chưa thể đều phù hợp với lễ nghĩa hết cả nhưng cũng trở nên khá gần với lễ nghĩa vậy, lẽ đâu phải chịu vướng trong hình phạt hay sao?

Nếu như ai nấy đều được như vậy thì dần dần có thể thoát khỏi bầy tiểu nhân, trọn quy về quân tử, đối với những người quen biết trong xóm đều xem như người lành.

Do những lẽ ấy, há còn dám bảo: tuân theo giáo pháp của Phật, lấy Tịnh Ðộ làm tâm là vô ích đối với cuộc sống hiện tại hay chăng?”

 

35. Các sự lành hỗ trợ

 

Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:

“Cúng Phật, trai tăng, tạo tháp, dựng chùa, niệm tụng, lễ sám, hiếu dưỡng cha mẹ, kính anh trọng em. Trong vòng họ hàng, không ai chẳng hòa mục. Xóm giềng làng nước đối đãi tử tế với nhau. Thờ vua thì dốc lòng son vì nước. Làm quan thì nhân từ, lợi dân. Làm bề trên thì khéo làm cho mọi người an vui. Làm kẻ dưới thì siêng gắng phục vụ bề trên.

Hoặc là chỉ giáo kẻ ngu mê, hoặc phù trợ người cô quả, yếu đuối, hoặc cứu người đang bị tai nạn cấp bách, hoặc huệ thí kẻ bần cùng, hoặc dựng cầu, đào giếng; hoặc thí cơm, cấp thuốc, hoặc giảm sự tiêu xài của chính mình để làm lợi người khác. Hoặc dùng tiền của làm lợi người khác, giảm bớt chi dùng của chính mình, hoặc dạy người làm lành, hoặc giúp thiện, ngăn ác. Cứ tùy nghi mà làm hết thảy việc lành thế gian hay xuất thế gian, chẳng nệ lớn, nhỏ, ít, nhiều; hoặc là chỉ dùng một tiền đem cho người hoặc là cho một vốc nước đỡ khát.

Ðối với mỗi việc lành dẫu nhỏ nhoi cũng đều khởi niệm rằng: Nguyện đem thiện duyên này hồi hướng Tây phương, nhờ các điều thiện hỗ trợ quyết sẽ được vãng sanh”.

 

36. Thành công cốt yếu là bởi thuần thục

 

Sách Long Thư Tịnh Ðộ chép:

“Mạnh Tử nói: ‘Nhân cũng là cốt ở thuần thục mà thôi’. Vì thế, quân tử trọn chẳng trái nghịch điều nhân dẫu chỉ trong khoảng thời gian lâu bằng bữa ăn . Chánh trực cũng bởi đấy mà điên đảo cũng bởi đấy. Nếu được như vậy thì không điều gì mình làm mà chẳng vì điều nhân.

Người tu Tịnh Ðộ cũng thế: Phàm đi, đứng, ăn uống, nói năng, im lặng, động tịnh đều chẳng quên Tịnh Ðộ. Thân này tuy sống trong ngũ trược mà tâm đã ở Tịnh Ðộ”.

Ngài Tra Am nói: “Hình mặt trời lặn tương tự cái trống treo, ngồi xếp bằng ngay ngắn hướng mặt về Tây; thân tuy chưa đến liên trì mà trước đã gởi lòng về Cực Lạc”, chính là ý này vậy.

 

37. Mười điều lợi thù thắng

 

Từ Vân Sám Chủ nói: “Tam giới đại sư, vạn đức từ phụ, quy y ngài thời tội diệt; kính ngài thời phước sanh. Các kinh đã nói đủ. Nếu có thể quy y Tam Bảo, thọ trì danh hiệu một vị Phật thì hiện đời sẽ được mười điều lợi thù thắng:

Một là ngày đêm thường được hết thảy chư thiên, đại lực thần tướng ẩn hình thủ hộ.

Hai là thường được hai mươi lăm vị Bồ Tát như Quán Thế Âm v.v… thủ hộ.

Ba là thường được chư Phật ngày đêm hộ niệm, A Di Ðà Phật thường phóng quang minh nhiếp thọ người ấy.

Bốn là hết thảy ác quỷ, dạ xoa, la sát đều chẳng hại được; rắn độc, thuốc độc thảy đều chẳng làm hại nổi.

Năm là đều chẳng mắc nạn nước, lửa, oán tặc, đao, tên, gông cùm, tù ngục, chết ngang.

Sáu là những tội trước kia trót tạo đều sẽ tiêu diệt; mạng trót giết oan đều được giải thoát, chẳng còn đối chấp.

Bảy là đêm mộng điều tốt lành, thấy hình sắc tượng thắng diệu của Phật A Di Ðà.

Tám là tâm thường hoan hỉ, nhan sắc tươi nhuận, khí lực sung mãn, việc làm tốt lành.

Chín là thường được hết thảy thế gian, nhân dân cung kính, lễ bái giống như kính Phật.

Mười là lúc mạng chung, tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện tiền, A Di Ðà Phật và các thánh chúng cầm đài kim cang tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc thế giới hưởng sự vui mầu nhiệm thù thắng đến cùng tột đời vị lai”

 

38. Hổ Khê tôn giả khai thị

 

a. Phàm là người tu Tịnh Ðộ thì rõ ràng là phải chống cự với sanh tử, chứ chẳng thể nói xuông rồi thôi. Phải nghĩ đến vô thường vùn vụt, thời gian chẳng đợi ai. Phải nên dốc chí thực hiện thì mới được; chứ còn nếu nửa tiến, nửa lùi, dường như tin, tựa hồ ngờ, mặc cho may rủi thì còn làm được việc gì, làm sao thoát khỏi luân hồi nổi!

Nếu đã tin biết được thì từ ngày nay trở đi phải phát đại dũng mãnh, phát đại tinh tấn, đừng quan tâm là hiểu hay chẳng hiểu, [chớ nệ là] kiến tánh hay không kiến tánh, cứ chỉ chấp trì một câu Nam Mô A Di Ðà Phật giống hệt như nương tựa vào một tòa núi Tu Di dù có bị lay lắc vẫn chẳng động.

Chuyên tâm, nhất ý để tham niệm hay quán niệm, ức niệm, thập niệm, hoặc niệm thầm, niệm rõ tiếng, hệ niệm, lễ niệm. Niệm đâu tâm theo đấy, luôn nhớ, luôn niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm, đi cũng niệm, ngồi cũng niệm; tâm niệm chẳng để luống qua. Niệm Phật chẳng rời tâm, ngày ngày, giờ giờ chẳng buông bỏ, miên miên mật mật như gà ấp trứng thường giữ cho hơi nóng liên tục.

Ðấy chính là tịnh niệm liên tục, lại dùng thêm trí quán chiếu thì liền biết được rằng Tịnh Ðộ chính là tự tâm. Ấy mới là công phu của bậc thượng trí tu tấn.

Giữ được định như thế, chủ yếu là thực hành như thế để làm chỗ dựa an ổn. Ví dù có gặp cảnh khổ, vui, thuận, nghịch hiện tiền vẫn chỉ niệm A Di Ðà Phật, không hề có một niệm đổi khác tấm lòng, không hề có một niệm tâm thối đọa, không hề có một niệm tạp tưởng tâm. Cho đến hết đời, vĩnh viễn không có niệm khác, quyết định cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Nếu quả có thể dụng công như vậy thì sanh tử nghiệp chướng, vô minh trong  bao kiếp sẽ tự nhiên tiêu sạch, trần lao tập lậu tự nhiên sạch hết không còn sót. Chẳng lìa bổn niệm, tận mặt thấy đức A Di Ðà. Công thành hạnh mãn, nguyện lực hỗ trợ nên lúc mạng chung quyết sẽ sanh trong thượng phẩm.

 

b. Ðiều cốt yếu trong sự tu hành chơn tín là cầu sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới: Chuyên chú tâm ý vào một niệm, trì một câu A Di Ðà Phật. Chỉ có một niệm này là bổn sư của mình. Chỉ có một niệm này chính là hóa Phật. Chỉ có một niệm này là vị tướng quân mạnh mẽ phá tan địa ngục. Chỉ có một niệm này là gươm báu chém tan các tà. Chỉ có một niệm này là đèn sáng soi tan tăm tối. Chỉ một niệm này là thuyền lớn để vượt đại khổ hải. Chỉ một niệm này là phương cách tốt lành để thoát sanh tử. Chỉ một niệm này là đường tắt thoát khỏi tam giới. Chỉ một niệm này là bổn tánh Di Ðà. Chỉ một niệm này để thấu đạt Duy Tâm Tịnh Ðộ. Chỉ nên ghi nhớ một câu A Di Ðà Phật trong tâm niệm, chớ để lạc mất.

Niệm niệm thường hiện tiền, niệm niệm chẳng rời tâm. Vô sự cũng niệm như thế. Hữu sự cũng niệm như thế. An vui cũng niệm như thế. Bịnh khổ vẫn niệm như thế. Sống cũng niệm như thế. Chết cũng niệm như thế. Một niệm phân minh chẳng mê như thế thì cần phải hỏi ai để tìm đường về nữa!

39. Liên Trì đại sư khai thị

 

a. Vọng niệm là bịnh; niệm Phật là thuốc. Bịnh lâu thì một viên thuốc chẳng trị hết nổi. Vọng niệm chất chứa thì chẳng thể nào vừa niệm đã trừ hết được nổi. Lý lẽ nhất định như vậy. Ðừng lo ngại những vọng niệm khác tơi bời [khởi lên], chỉ quý ở chỗ niệm Phật tinh chuyên, khẩn thiết. Từng chữ phân minh; câu, câu nối tiếp. Dốc sức chấp trì thì mới có phần xu hướng được, nghĩa là: do sức chơn thật tích tụ lâu ngày nên đến một ngày nào đó sẽ chợt rỗng rang [khai ngộ]. Ví như mài chày làm kim, luyện sắt thành gang, quyết định chẳng dối. Tuy có lắm môn để nhập đạo, nhưng chỉ có một môn này là đường vắn tắt nhất, chẳng thể coi thường, chớ có coi thường.

 

b. Ðạo này chí huyền, chí diệu, lại rất mực giản dị. Vì giản dị nên bị bậc cao minh xem thường! Sanh tử chẳng lìa nhất niệm mà thậm chí muôn pháp thế gian, xuất thế gian cũng chẳng ngoài nhất niệm. Nay đem cái niệm ấy niệm Phật thì sẽ thiết tha, tinh chuyên, chơn thật xiết bao!

Nếu xét kỹ tận nguồn nhất niệm ấy thì nó chính là tự tánh Di Ðà, chính là ý của Tổ Sư tự phương Tây đến (**). Ví dù chẳng ngộ được, nhưng nương niệm lực ấy mà vãng sanh Cực Lạc, vượt ngang sanh tử, chẳng bị luân hồi nữa thì cuối cùng sẽ đại ngộ vậy. Xin buông bỏ muôn duyên, trong mười hai thời niệm niệm khăng khăng. Ðấy chính là là điều tôi rất mong mỏi.

 

c. Sự hiếu thế gian có đến ba, hiếu xuất thế gian chỉ có một. Cái hiếu thế gian gồm:

- Một là thừa hoan hầu hạ, dùng thức ngon lành dâng lên mẹ cha.

- Hai là đỗ đạt làm quan, dùng tước lộc để vinh hiển mẹ cha.

- Ba là tu đức trau hạnh để thành thánh, thành hiền nhằm làm rạng rỡ mẹ cha.

Thế gian gọi ba điều ấy là hiếu vậy. Sự hiếu xuất thế gian là khuyên cha mẹ trai giới, tu đạo, nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện vãng sanh, vĩnh biệt tứ sanh (không còn sanh trong bốn loài: noãn, thai, thấp, hóa), mãi mãi thoát khỏi lục đạo, gởi thân trong thai sen, thân cận Phật Di Ðà, đắc bất thối chuyển. Người con báo hiếu coi việc ấy là trọng đại nhất.

Khi xưa, tôi vừa chớm biết nhập đạo, song thân đã khuất, do thương cảm bèn viết bài văn tự trách bất hiếu để bày tỏ nỗi bi hận. Nay thấy trong chúng tại gia, xuất gia có đủ điều may mắn càng bội phần cảm khái, lệ nhỏ ròng ròng. Cúi đầu, rập đầu xin khuyên:

Người chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ cho được yên ổn là hiếu. Người lập thân hành đạo để cha mẹ nở mặt là đại hiếu. Người khuyên cha mẹ dùng pháp môn niệm Phật cầu được vãng sanh Tịnh Ðộ là đại hiếu nhất trong những người đại hiếu.

Tôi sanh muộn, vừa nghe được Phật pháp thì mẹ cha đã khuất, đau đớn thấu trời, tuy muốn đáp đền vẫn không làm cách nào được. Xin thưa cùng mọi người: khi cha mẹ còn tại thế nên sớm khuyên niệm Phật. Ngày cha mẹ mất nên lễ Phật, tụng kinh ba năm.

Nếu chẳng làm được như vậy thì hoặc là suốt cả một năm hay trong bốn mươi chín ngày cũng được. Hiếu tử muốn báo cái ân cù lao, không thể không biết đến điều này.

 

d. Phàm là người học Phật chẳng cần bàn đến hình dạng trang nghiêm, chỉ quý ở chỗ chơn thật tu hành. Cư sĩ tại gia chẳng nhất thiết phải áo dà, khăn đạo. Người để tóc cứ mặc thường phục niệm Phật, chẳng nhất thiết phải khua mõ, gõ khánh. Người thích yên tịnh cứ yên lặng niệm Phật, chẳng bắt buộc phải quây quần lập hội. Người ngại việc có thể tự đóng cửa niệm Phật, chẳng cần phải đến chùa nghe kinh. Người biết chữ có thể tuân theo giáo pháp niệm Phật. Ngàn dặm thiêu hương chẳng bằng ngồi yên trong nhà niệm Phật. Cúng dường tà sư chẳng bằng hiếu thuận cha mẹ niệm Phật. Kết giao rộng rãi với bè bạn ma chẳng bằng một mình thanh tịnh niệm Phật. Gởi tiền kho cho kiếp sau (1) chẳng bằng hiện tại làm phước niệm Phật. Hứa nguyện, cầu đảo chẳng bằng hối lỗi đích thân niệm Phật. Tập tành học theo sách vở ngoại đạo chẳng bằng một chữ không biết mà niệm Phật. Vô tri bàn xằng lẽ Thiền chẳng bằng chắc thật trì giới, niệm Phật. Mong cầu yêu quỷ linh ứng chẳng bằng chánh tín nhân quả niệm Phật.

Nói tóm lại, đoan tâm diệt ác niệm Phật như vậy thì gọi là thiện nhân. Nhiếp tâm dứt trừ tán loạn để niệm Phật như vậy thì gọi là hiền nhân. Ngộ tâm đoạn hoặc niệm Phật như thế thì gọi là thánh nhân.

e. [Ðại sư ] bảo ông Châu Tây Tông:

“Bịnh của ngài đã đến nỗi này, thật là rất nguy. Nên đem hết những điều muốn nói viết hết ra giao cho lịnh lang và tôn đường, để trong dạ chẳng còn vướng víu điều gì, nhất tâm chánh niệm. Nếu bình nhật đã tin tưởng nổi pháp môn Niệm Phật thì nên lấy con mắt trong tâm soi chiếu bên trong; bốn chữ Phật danh vằng vặc ngời ngời, chẳng gián, chẳng đoạn. Dẫu ngày hôm nay hay ngày mai bị chết cũng được, hoặc là chẳng chết mà sống mãi đến một trăm hai mươi tuổi cũng xong.

Ðây là lời khẩn yếu; bằng hữu bấy lâu quen biết chính là chỗ này. Mọi sự khác đều nhỏ nhặt, chẳng phải bận tâm đến. Chớ có vì tham sống sợ chết đến nỗi hỏng đại sự. Rất quan trọng đấy!”

 

f. Bảo Vương Ðại Trác:

“Ðối với căn bịnh của ngài thì mọi sự ngoài thân kể cả tứ chi, trăm đốt xương trong thân này đều nên dốc lòng buông bỏ, khiến cho rỗng không chẳng còn có một vật gì! Nếu chẳng thể buông bỏ hết thì hãy tạm buông bỏ để đợi đến sau này. Chẳng chế ngự được lửa vọng tưởng thì nên niệm Phật nhiều tiếng để đè ép nó.

Vinh hoa, phú quý thế gian chẳng qua là sự trong phút chốc; ách nạn, khổ não chẳng qua cũng là sự trong phút chốc; trong khoảnh khắc đã biến thành không. Vả lại, mọi sự đều do các duyên trước kia, sức người chẳng làm gì được! Tận tình buông bỏ hết, nhất tâm niệm Phật hết sức thiết tha.

Cổ nhân có nói: “Bịnh là lương dược của chúng sanh”. Vì thế, người mắc bịnh phải nên sanh lòng hoan hỉ lớn lao. Ðối với hết thảy những điều chẳng như ý, chớ khởi phiền não.

[Cổ nhân] còn bảo: ‘Sanh tử hữu mạng’ nên người mắc bịnh phải nên sanh [ý tưởng] đại giải thoát, mặc kệ sống chết chớ sanh sợ hãi.

Thêm nữa, quá khứ như huyễn, hiện tại như huyễn, vị lai như huyễn; cứ tận tình buông bỏ, chỉ giữ chánh niệm mà thôi. Trong khi bịnh nên ngàn vạn nhẫn nại, lòng chớ mong sớm được lành bịnh; đấy lại chính là kế hay để chóng được hết bịnh!  Một phen đã ôm lòng nóng nảy thì bịnh càng nặng thêm. Nhớ kỹ, nhớ kỹ!”

 

40. Hám Sơn đại sư khai thị

 

* Ðiều quan trọng thứ nhất trong việc tu hành là đối với sanh tử tâm phải khẩn thiết. Ðối với sanh tử tâm chẳng khẩn thiết sao lại dám nói là niệm Phật đã thành khối? Vả lại, chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, niệm niệm vọng tưởng, tình căn che lấp kỹ, thường ngày chưa từng phản tỉnh. Nay muốn dùng cái tâm tin tưởng hời hợt để đoạn sanh tử nhiều kiếp thì khác nào giọt nước làm sao dập tắt nổi đống củi đang cháy, há có lý này chăng?

Nếu quả thật đương nhân đối với sanh tử, tâm thật khẩn thiết, niệm niệm như cứu đầu đang bị cháy, chỉ sợ một phen mất thân người thì vạn kiếp khó có lại được. Nên giữ chặt một câu niệm Phật này, nhất định muốn chống cự lại các vọng tưởng. Trong hết thảy xứ, niệm niệm hiện tiền, chẳng còn bị vọng tưởng lôi kéo, che chướng. Hạ công phu siêng nhọc như thế thì lâu ngày thuần thục, tự nhiên tương ứng. Có như vậy thì dẫu chẳng cầu được thành một khối mà vẫn tự nhiên kết thành một khối.

Ðiều này cũng giống như người uống nước, nóng, lạnh tự mình biết, chẳng thể nói cho người khác biết được. [Niệm Phật được thành tựu] hoàn toàn là do mình ra sức. Nếu chỉ niệm Phật ngoài da thì dẫu nhọc nhằn bao năm tháng cũng chẳng hưởng được gì.

 

* Mỗi ngày trừ hai thời công khóa, chỉ đem một câu A Di Ðà Phật đặt ngang nơi ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê. Chẳng nghĩ gì đến hết thảy việc đời, chỉ lấy một câu Phật hiệu làm mạng căn của chính mình. Cắn chặt [câu niệm Phật] nơi hàm răng quyết chẳng buông bỏ; thậm chí ăn uống, cử động: đi, đứng, nằm ngồi, trong mọi lúc một câu niệm Phật này luôn hiện tiền.

Hễ gặp phải cảnh thuận, nghịch, vui, giận, phiền não, hay lúc tâm chẳng yên bèn đem một tiếng niệm Phật khởi lên một phen thì liền thấy phiền não tiêu diệt ngay lập tức. Do niệm niệm phiền não chính là gốc khổ sanh tử nên nay ta dùng niệm Phật để tiêu diệt phiền não thì chính là Phật đã độ thoát nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu diệt được phiền não thì mới có thể dứt sạch sanh tử, chứ không có pháp nào khác!

Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não thì sẽ làm chủ được mộng mị. Nếu đã kiểm soát được mình trong khi mộng mị thì trong khi bịnh khổ cũng sẽ tự chủ được. Nếu đã tự chủ được trong khi bịnh tật thì lúc mạng sắp lâm chung sẽ liền biết được chỗ mình sẽ sanh về.

Ðiều này chẳng có gì là khó làm, chỉ cốt luôn một dạ nghĩ đến sanh tử khẩn thiết, chỉ cần dựa vào một mình câu niệm Phật chứ không còn suy nghĩ chi khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, được đại thọ dụng.

 

41. Tử Bách lão nhân khai thị

 

* Ý nghĩa của việc Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Ðộ cốt ở chỗ suốt đời trì niệm cho đến khi lâm chung, nhất tâm bất loạn. Chỉ biết Sa Bà là chốn cực khổ, Tịnh Ðộ là cõi rất vui. Ví như cá, chim: thân bị nhốt trong lồng, giỏ, tâm chỉ mong được thoát khỏi lồng, giỏ. Người niệm Phật coi Sa Bà là lồng, giỏ, xem Tịnh Ðộ là không gian, là nước. Do tâm chê chán và hâm mộ đã thuần thục nên khi xả mạng, cái ham muốn Sa Bà sạch trơn, chẳng còn [sót lại] tí nào dẫu chừng bằng hạt cải. Bởi thế, chẳng luận là tội nghiệp nặng hay nhẹ đều vãng sanh ngay, chẳng còn ngờ vực chi nữa!

 

* Pháp môn Niệm Phật cốt ở chí quyết định. Chỉ giữ nhất niệm như đại tướng thân bị vây hãm nặng nề quyết chí đánh tháo ra. Một người một thanh đao đối địch vạn người; mạnh mẽ như vậy thì oán địch sanh tử, các khổ ma quân chẳng đánh mà tự tan vậy.

 

42. Khẩu quyết niệm Phật của Thảo Am thiền sư

 

Có ai mà chẳng niệm nổi A Di Ðà Phật, thế mà lại khó niệm. Có ai mà chẳng nguyện sanh Tây phương Cực Lạc, nhưng rất ít kẻ được vãng sanh! Ấy là do người niệm Phật chưa nắm được bí quyết vậy.

Niệm Phật phải cho thật chân thành, thiết tha, chỉ nghĩ đến một chữ CHẾT mà thôi. Trong mỗi niệm luôn nhớ một chữ CHẾT thì tự nhiên lãnh đạm đối với các cảnh duyên, tình ái cũng tự mỏng nhẹ. Ðến lúc đấy (lúc chết) thì danh lợi, thế lực, giàu có cũng chẳng biết dùng để làm gì! Ðến chừng ấy, có muốn thấy nghe hay biết cũng chẳng được; tứ đại đều đã chia lìa cả thì còn nương dựa vào đâu? Cô hồn vô chủ làm sao được tự do đây!

Khi ấy, chẳng thấy Di Ðà, chỉ sợ gặp la sát. Khi ấy, chẳng sanh Tịnh Ðộ, sợ lạc vào thai lừa. Ví dù không có ác nghiệp cũng chẳng tránh khỏi phải sanh trở lại vào nhân đạo. Dẫu có nhân lành cũng chưa từng tránh khỏi phải thọ phước báo cõi trời dễ hết.

Chớ bảo tự mình làm chủ! Nghiệp quả kéo lôi, thật khó trốn tránh. Chớ bảo sanh tử vốn là không! Thức tâm chưa tận thì hoàn toàn vẫn ở trong luân hồi.

Chớ nên xem nhẹ điều này vì việc [sẽ xảy ra trong] ngày mai, hôm nay còn chẳng biết được! Chớ có xem thường điều ấy đến nỗi luống uổng đời này, rồi phải trầm luân vĩnh viễn.

Trong hết thảy mọi sự, không có gì [quan trọng] bằng sanh tử đại sự cho nên chẳng còn bận tâm gì đến hết thảy các sự khác. Coi hết thảy thời đều như là lúc đang lâm chung thì thời nào cũng là thời niệm Phật. Niệm Phật như thế mới là tâm khẩn thiết; tâm khẩn thiết như vậy mới được sanh về Tịnh Ðộ.

Phải chí tử hạ thủ công phu thì mới thành tựu Tịnh nghiệp. Có thường nghĩ đến lúc chết thì tâm mới thiết tha. Phải như vậy mới có thể đạt đến thành Phật; đấy mới là bí quyết niệm Phật chơn thành.

 

43. Ngẫu Ích đại sư khai thị

 

Công phu niệm Phật quý tại tâm tin chơn thật.

Ðiều cốt yếu thứ nhất là tin rằng ta là Phật chưa thành, A Di Ðà Phật là vị Phật đã thành. Thể của ta và Phật không hai.

Kế đó, tin Sa Bà thật sự là khổ, cõi An Dưỡng thật đáng nương về. Ưa, chán rành rành.

Tiếp đó, tin nhất cử, nhất động hiện tại đều có thể hồi hướng cõi Tây phương. Nếu chẳng hồi hướng thì dẫu là sự lành bậc thượng cũng chẳng được vãng sanh. Nếu biết hồi hướng thì tuy trót lầm lỡ tạo ác hạnh nhưng mau mau đoạn trừ cái tâm tương tục, khởi lòng ân cần sám hối; nhờ sức sám hối cũng được vãng sanh. Huống hồ là trì giới, tu phước, các thứ thắng nghiệp, há chẳng đủ để trang nghiêm Tịnh Ðộ ư?

Chỉ vì tín lực chẳng sâu nên nghiệp thù thắng bị chìm trong hữu lậu. Nếu lại toan bỏ pháp này, tính tu pháp khác thì thật là lầm lạc quá sức vậy. Chỉ càng phải nên tin chơn thật hơn, hết thảy hành động chẳng cần phải thay đổi.

 

44. Triệt Ngộ thiền sư khai thị

 

* Hết thảy pháp môn lấy minh tâm làm cốt yếu, hết thảy hạnh môn lấy tịnh tâm làm điều quan yếu, mà pháp thiết yếu để minh tâm lại không chi bằng Niệm Phật. Nhớ Phật, niệm Phật thì ngay hiện tại hoặc trong tương lai sẽ nhất định thấy Phật, chẳng cần nhờ đến phương tiện mà tự được tâm khai. Như vậy, Niệm Phật chẳng phải là điều cốt yếu để minh tâm hay sao?

Hơn nữa, pháp thiết yếu để tịnh tâm cũng không chi bằng Niệm Phật. Một niệm tương ứng với một niệm Phật. Niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật. Thanh châu bỏ vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong; Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể chẳng thành tâm Phật. Như vậy, Niệm Phật chẳng phải là điều thiết yếu để tịnh tâm sao?

Một câu Phật hiệu gồm đủ cả hai thứ quan yếu: Ngộ và Tu. Ngộ thì tin vào đấy, Tu là chứng trong đấy. Tín giải tu chứng gồm trọn các thừa Ðại, Tiểu; cốt tủy các kinh không chi chẳng được thâu trọn [trong pháp Niệm Phật này]. Như vậy, một câu Di Ðà chẳng phải là đạo trọng yếu nhất hay sao?

 

* Cái tâm một niệm hiện tiền của bọn ta toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức là chơn; trọn ngày chẳng đổi, trọn ngày tùy duyên. Hễ chẳng duyên theo Phật giới để niệm Phật giới thì sẽ niệm cửu giới. Chẳng niệm tam thừa thì niệm lục phàm. Chẳng niệm nhân thiên thì niệm tam đồ. Chẳng niệm quỷ, súc sanh thì niệm địa ngục. Hễ đã có tâm thì chẳng thể vô niệm. Lấy vô niệm làm bản thể cho cái tâm thì chỉ có mình đức Phật làm được. Từ bậc Ðẳng Giác trở xuống, hết thảy đều là hữu niệm; hễ khởi lên một niệm thì ắt lạc vào mười giới. Lại chẳng có niệm nào ra khỏi mười giới vì chẳng có chi ra ngoài mười pháp giới vậy. Mỗi một niệm khởi lên là cái duyên của một lần thọ sanh. Ðã biết rõ lý này mà chẳng niệm Phật thì thật là chưa từng có vậy.

 

* Cái quý trọng nhất trong đời không gì hơn tinh thần. Cái đáng mến tiếc nhất trong đời không chi hơn ngày tháng. Một niệm tịnh thì Phật giới duyên khởi, một niệm nhơ chính là cái nhân sanh ra cửu giới. Cứ móng khởi một niệm thì thành ra chủng tử của thập giới, há chẳng nên trân trọng hay sao?

Ngày hôm nay đã qua, mạng cũng theo đó mà giảm. Một tấc thời quang chính là một tấc mạng quang, chẳng đáng mến tiếc sao? Ðã biết tinh thần đáng trân trọng, chẳng nên lãng phí cho nên niệm niệm chấp trì danh hiệu Phật; chẳng để quang âm trôi qua phí uổng nên khắc khắc huân tu tịnh nghiệp.

Nếu như bỏ qua danh hiệu Phật, tu các thánh hạnh tam thừa khác thì cũng còn là lãng phí tinh thần giống như là đem cái nỏ ngàn cân để bắn chuột cống; huống hồ là còn gây tạo cái nghiệp sanh tử lục phàm nữa ư?

Nếu như bỏ qua Tịnh nghiệp để riêng nhận lấy Quyền Thừa Tiểu Quả thì cũng còn là luống uổng quang âm, cũng giống như là đem như ý bảo châu đổi lấy một bữa cơm, manh áo, huống hồ là chấp lấy quả thiên nhân hữu lậu!

Trân trọng thế ấy, nuối tiếc thế ấy thì tâm chuyên nơi Phật sẽ dễ cảm, hạnh siêng mà nghiệp dễ tinh, chắc chắn sẽ được sanh Tịnh Ðộ, tận mặt gặp gỡ Phật Di Ðà. Khi ấy, vâng lời Phật khai thị, đích thân hầu cận đấng Từ Tôn, diệu ngộ tự tâm, thâm chứng pháp giới, kéo dài một niệm thành cả kiếp, rút ngắn cả kiếp dài dặc thành một niệm. Niệm lẫn kiếp viên dung, được đại tự tại, chẳng đáng tiếc nuối, trân trọng hay sao!

 

* Một người nghèo túng xa trông thấy một xâu tiền, toan đến lượm lấy, thì hóa ra là con rắn liền đứng phắt qua một bên. Lại có một người khác đi đến cầm lấy xâu tiền đem đi. Ðấy là tiền chẳng phải là rắn mà thấy là rắn là do nghiệp cảm vời, do duy tâm sở hiện vậy. Tiền thấy là rắn là do nghiệp cảm trong tâm hóa hiện, mà thấy rắn là tiền há cũng chẳng phải là do nghiệp cảm trong tâm biến hiện đó ư? Thấy tiền là rắn chỉ là vọng kiến do biệt nghiệp của một người tạo ra. Thấy rắn là tiền chính là bởi vọng kiến của nhiều người đồng phận.

Ðối với vọng kiến của một người thì dễ biết được cái vọng ấy; còn với vọng kiến của nhiều người thì khó lòng hay biết nổi! Ðem cái dễ biết để sánh với cái khó biết thì cái khó biết đó cũng là dễ biết. Rắn đã là rắn, mà tiền cũng là rắn. Suy theo đây thì thấy:

Căn thân bên trong, cảnh giới bên ngoài, từ một phương đến mười phương và bốn đại bộ châu, tam thiên đại thiên thế giới đều cũng như rắn nơi đống tiền. Chỉ có điều con rắn duy tâm sở hiện ấy lại cắn được người, tiền duy tâm sở hiện ấy lại cũng có thể hưởng dụng được.

Chớ bảo duy tâm là không có ngoại cảnh; sự uế khổ của Sa Bà cũng như sự vui trong sạch nơi cõi An Dưỡng đều chỉ do tâm biến hiện, nhưng gặp phải sự uế khổ chỉ do tâm đã biến hiện ra ấy thì bị bức bách lớn và đối với cảnh an vui trong sạch cũng do tâm biến hiện ấy, ta lại có thể hưởng dụng lớn lao.

Uế khổ lẫn tịnh lạc đều chỉ là do tâm biến hiện thì sao chẳng bỏ cái uế khổ duy tâm, chọn lấy cái tịnh lạc duy tâm mà lại đành cam chịu tám khổ nung nấu trong suốt bao kiếp dài lâu vậy.

 

* Ðiều trọng yếu trong cuộc sanh tử của chúng ta chỉ là hai thứ lực. Một là tâm vấn vít nhiều mối, nặng nề vướng lấy, đó là tâm lực. Hai là như người mắc nợ, chủ nợ nào mạnh hơn sẽ lôi đi trước; đấy là nghiệp lực.

Nghiệp lực rất lớn, tâm lực còn lớn hơn: Do nghiệp không có tự tánh, hoàn toàn nương vào tâm; vì tâm có thể tạo nghiệp, tâm có thể chuyển được nghiệp nên chỉ có tâm lực là nặng. Do nghiệp lực nên có thể lôi đi luân hồi; nhưng nếu dùng tâm trân trọng để tu Tịnh nghiệp thì Tịnh nghiệp mạnh.

Tâm trọng, nghiệp cường thì chỉ còn hướng thẳng đến Tây phương, nên mai sau khi báo hết mạng tận sẽ nhất định sanh về Tây phương, chẳng sanh vào chốn khác! Giống như cây to, tường lớn, lúc bình thường đã nghiêng về Tây thì đến ngày nào đó ngã xuống, chúng sẽ quyết định chẳng đổ sang chỗ khác.

 

* Cái tâm năng niệm nơi một niệm hiện tiền của bọn ta toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức là chơn, trọn ngày tùy duyên, suốt ngày bất biến. Một câu Phật hiệu ta niệm đó toàn là từ đức mà lập danh: Ngoài đức chẳng có danh, dùng danh để chiêu đức; ngoài danh không đức, ngoài tâm năng niệm chẳng hề có riêng vị Phật được niệm, cũng không có riêng cái tâm năng niệm. Năng, sở chẳng hai, chúng sanh và Phật y hệt như nhau, vốn lìa tứ cú, vốn tuyệt bách phi, vốn trọn hết thảy, vốn chứa hết thảy, dứt tuyệt đối đãi một cách viên dung chẳng thể nghĩ bàn. Hành giả Liên tông nên từ nơi đây mà tin nhập.

 

* Hết thảy chúng sanh bổn lai là Phật. Chơn tâm vốn có, vọng tánh vốn không. Tánh vốn sẵn đủ hết thảy pháp lành. Chỉ vì chạy theo cái duyên mê nhiễm đã lâu, chưa đoạn được cái vọng vốn không, chưa chứng được cái chơn vốn sẵn có, trọn chưa hề tu gốc lành nên Phật [trong tâm mình] là vị Phật chưa thành.

Nay muốn đoạn cái vọng vốn không, chứng cái chơn vốn có, tu cái lành vốn sẵn trọn đủ, thành được quả Phật mình sẵn có, ngộ được tịnh duyên, xét tìm con đường thật thẳng tắt, thật nhanh, chí đốn, chí viên thì không chi bằng một hạnh Trì Danh Niệm Phật.

Do cái tâm năng niệm vốn là toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức chơn nên đức Phật được niệm cũng vốn là toàn đức lập danh, toàn danh tức đức. Ngoài tâm năng niệm không có riêng một vị Phật được niệm; ngoài đức Phật được niệm, không có riêng cái tâm năng niệm. Năng, sở đều mất; tâm, Phật nhất như.

Trong niệm niệm, điều phục trọn vẹn, đoạn trừ trọn vẹn ngũ trụ phiền não, chuyển biến trọn vẹn, diệt trừ trọn vẹn ba tạp nhiễm chướng, phá trọn vẹn ngũ ấm, siêu xuất trọn vẹn ngũ trược, thanh tịnh trọn vẹn bốn cõi [Tịnh Ðộ], niệm trọn vẹn tam thân, tu trọn vẹn vạn đức, chứng trọn vẹn bổn chơn, viên thành Vô Thượng Diệu Giác. Một niệm đã như vậy thì niệm niệm cũng như thế.

Chỉ cần niệm niệm được liên tục như thế thì sẽ chế phục, đoạn trừ, tu chứng chẳng thể nghĩ bàn được. Lấy cái tâm toàn là Phật này để niệm vị Phật của toàn tâm thì sẽ thật sự được toàn phần oai đức thần lực của quả Phật nơi tự tâm ngầm gia bị cho. Một câu Phật hiệu chẳng tạp lẫn duyên khác thì mười niệm thành tựu, nhanh chóng vượt qua nhiều kiếp. Chẳng tin điều này thì khác gì gỗ đá! Bỏ pháp này đi tu pháp khác thì nếu không phải là cuồng cũng là si. Biết còn nói gì được, biết còn nói gì đây!

 

* Trong lúc lúc niệm Phật, chẳng nên có ý tưởng chi khác. Chẳng có tưởng gì khác thì chính là Chỉ. Trong lúc niệm Phật cần phải rành rẽ phân minh; rành rẽ phân minh chính là Quán. Trong một niệm đủ cả Chỉ, Quán; chẳng phải là có Chỉ và Quán riêng biệt! Chỉ chính là nhân của Ðịnh, Ðịnh là quả của Chỉ. Quán là nhân của Huệ, Huệ là quả của Quán. Một niệm chẳng sanh rành rẽ phân minh là Tịch mà Chiếu. Rành rẽ phân minh, một niệm chẳng sanh chính là Chiếu mà Tịch.

Có thể làm được như vậy thì chắc chắn không nghiệp nào chẳng thành. Thành được như vậy thì là Thượng Phẩm. Một người cho đến trăm ngàn vạn ức người tu như thế đều sẽ thành tựu như thế. Lẽ đâu người niệm Phật lại chẳng lưu tâm hay sao?

 

45. Lời khuyên niệm Phật vãng sanh của Trần Hy Nguyện

 

Này các vị thiện nhân! Thế gian tu hành có ngàn con đường, có vạn nẻo đường, cớ sao chỉ khuyên người niệm Phật? Ấy là do một niệm của con người rất là quan trọng. Lôi hồn dẫn phách, tạo mạng sanh thân, không điều gì chẳng do nó! Do niệm lành nên lên thiên đường, bởi niệm ác nên xuống địa ngục. Trong một niệm sanh thẳng làm người, trong một niệm sanh ngang thành thú.

 Cớ sao trở thành ngạ quỷ? Chỉ bởi tâm niệm chẳng no đủ. Niệm ma sẽ thành ma, niệm Phật liền thành Phật. Nếu muốn thoát lục đạo không cách nào khác ngoài Niệm Phật. Còn nếu như chẳng niệm Phật thì một phen đánh mất thân người, muôn kiếp khó có lại được.

Bởi vậy, đức Thích Ca Như Lai khai thị niệm Phật, Viễn công pháp sư (tổ Huệ Viễn) hoằng dương niệm Phật. Nếu niệm Phật chẳng thể hết khỏi sanh tử thì lẽ đâu Phật, Tổ cam đành dối người hay sao?

Niệm Phật chẳng thành Phật thì lỗi ấy chẳng phải tại Phật. Miệng niệm tâm chẳng niệm thì dù có niệm cũng như chẳng niệm; dù có niệm cả đời cũng trọn chẳng có ích gì!

Chữ Niệm phát xuất từ tâm, vốn chẳng từ miệng. Niệm từ tâm khởi, tiếng từ miệng ra. Tâm Phật, miệng Phật, niệm niệm nối nhau, chẳng bị vọng duyên xen tạp; đó gọi là nhất tâm bất loạn.

Hoặc có kẻ bảo: Có cả ngàn đức Phật, vạn đức Phật, cớ sao chỉ niệm A Di Ðà Phật?

[Ðó là] Do khi ngài còn tu nhân, có [phát thệ] bốn mươi tám nguyện trang nghiêm Cực Lạc, thề độ kẻ mê. Trong các nguyện ấy, có nguyện: ‘Hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới, nếu ai xưng danh ta ắt sẽ sanh về nước ta. Nếu chẳng được vậy, thề chẳng thành Phật”. Vì vậy trong thế gian, dù tăng dù tục, già, trẻ, hiền, ngu, không ai chẳng xưng niệm A Di Ðà Phật.

Ô hô! Nhân gian phú quý đến trăm tuổi cũng thành không. Phồn hoa cõi trời ngàn năm cũng hết. Một khi sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới thì sống lâu vô lượng, mà cái pháp vãng sanh lại chỉ độc một câu Di Ðà. Thế gian có sự tốt lành quá tiện nghi như thế ấy, ai lại chẳng chịu hành theo, nào ai nghĩ đến chuyện xỏ giày sắt đi tầm đạo nữa!

Từ nay trở đi, phải gấp nên phát ra thệ nguyện: “Nếu tôi chẳng niệm Phật, chẳng cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì vĩnh viễn làm quỷ, súc sanh, vĩnh viễn đọa vào địa ngục vậy”. Ba Tạng mười hai bộ nhường cho kẻ khác ngộ, tám vạn bốn ngàn môn dành cho kẻ khác hành. Ngoài một câu Nam mô A Di Ðà Phật ra, không làm gì khác!

Ai nấy nên tự quét dọn một gian tịnh thất, thờ một bức tượng Phật; mỗi ngày đốt một lò hương sạch, thay một chén nước trong, tối đến thắp một ngọn đèn sáng. Coi tượng vẽ trên giấy hay tượng gỗ khắc hệt như Phật thật, sáng viếng chiều thăm, chí thành cung kính. Một xâu chuỗi chẳng rời tay, một câu Di Ðà chẳng ngơi miệng.

Niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng, niệm sáu chữ, niệm bốn chữ, niệm gấp, niệm thong thả, niệm rõ ràng, niệm thầm, chắp tay niệm, quì gối niệm, đối trước Phật mà niệm, hướng về Tây mà niệm, gõ mõ niệm, lần chuỗi niệm, đi kinh hành niệm, lễ bái niệm, niệm một mình, niệm chung với người khác, niệm trong nhà, niệm ngoài đường, nhàn cũng niệm, bận cũng niệm, đi cũng niệm, đứng cũng niệm, ngồi cũng niệm, nằm cũng niệm, trong mộng cũng niệm; đấy mới là chơn niệm.

Niệm đến mức tâm xót lệ ứa, niệm đến mức lửa tắt tro tạnh, niệm cho thần gào, quỷ khóc, niệm đến nỗi trời vui đất mừng. Vạc sôi sau lưng, ao sen trước mặt, dẫu ngàn vạn người ngăn trở không cho ta niệm cũng chẳng làm gì nổi.