|
Lời tựa bản Trùng Ðính Tây Phương Công Cứ
Một quyển Tây Phương Công Cứ lưu truyền đã lâu; những lời bàn luận được trích tuyển [trong sách này] hoặc rườm rà hoặc giản dị chẳng đồng. Có bản thì in kinh Di Ðà và chú Vãng Sanh ở đầu sách; cũng có bản chẳng in; nhưng các bản thường in hình Tam Thánh và chín phẩm đài sen có những chấm tròn để người ta chấm vào đó hầu ghi nhớ số [lần niệm Phật]. Trong đa số các bản, trên đài sen chín phẩm có vẽ một tượng Phật. Sau đấy mới chọn đăng những lời khai thị thiết yếu tự xưa nay và thuyết minh sự tích để mọi người ưa thích, sanh tín, nguyện quyết định; dùng những điều quyết định ấy để làm tư lương vãng sanh. Dụng ý thật là sâu xa, chu đáo. Nhưng khi niệm đủ số, hoặc sau khi chết đi, ta thường đem đốt đi, chẳng hề biết mình đã phạm lỗi hủy hoại kinh, tượng. Thành thử, một cuốn sách tốt có lợi cho người đời rốt cuộc bị phó cho mồi lửa, chẳng những chỉ tàn hại đến trời lẫn vật mà còn chẳng thể lợi ích rộng khắp tất cả. Nếu lưu lại bản sách ấy để truyền cho đời thì đã bị vòng, chấm đen đúa rối bời khiến kẻ khác khó lòng ưa thích. Suy đi tính lại, khó tìm được cách nào thích hợp. Bạn tôi là ngài Dật Nhân đã lưu tâm san định thứ tự sách này: đầu sách in kinh, chú, nghi thức niệm Phật, rồi mới nêu các lời khai thị xưa nay [nghĩa lý] rõ ràng hay kín nhiệm, ý tứ cạn hay sâu. Tiếp đấy, lại chú trọng đến một phương pháp trợ niệm lúc lâm chung ngõ hầu tránh cho [người niệm Phật] sắp đến kỳ công phu thành tựu lại bị quyến thuộc vô tình phá hoại. Kế đó, giảng về Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện, Tứ Ðế, Tứ Liệu Giản; mỗi phần đều giải thích sơ lược. Và [cuối cùng] là trăm bài tụng niệm Phật, những mong người sơ phát tâm biết đại khái ý nghĩa nên soạn thành một bản để làm sách lưu truyền vĩnh viễn. Còn các bức vẽ chín phẩm niệm Phật để ghi số thì in thành bản riêng, biến thành phụ bản của phần chính để giúp hành giả nhớ số ngõ hầu mai sau [niệm xong] thì thiêu đi. Cách này rất hay, đáng nên in ra để rộng lưu hành, kính biếu. Những mong hết thảy những người cùng hạnh cùng được vãng sanh. Phải biết là ngoài đức Phật ra không ai thấu hiểu trọn vẹn nổi lợi ích của pháp môn Tịnh Ðộ. Bởi thế, trong kinh Hoa Nghiêm sau khi đã chứng Ðẳng Giác, [ngài Phổ Hiền] còn dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh. Trong Quán kinh, lúc sắp đọa địa ngục, [kẻ ngũ nghịch thập ác] niệm chưa hết mười tiếng liền được dự vào chín phẩm. Thật đúng là mười phương tam thế hết thảy chư Phật: trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh, không vị nào chẳng nhờ vào pháp này làm [pháp tu hành] ban đầu mà rốt ráo cũng quy về pháp này vậy. Phổ nguyện những người cùng hạnh cùng sanh chánh tín. Dân Quốc năm thứ mười chín (1930), Canh Ngọ, giữa mùa Thu, Cổ Tân Thích Ấn Quang soạn
Phụ lục: Bài Tiểu Tự sách Tây Quy Chỉ Quy Tập Nguyên Giáo Môn của ngài Ðại Hựu
Do một đại sự nhân duyên, đức Ðại Thánh Nhân phương Tây xuất hiện trong đời để khiến cho chúng sanh được khai thị ngộ nhập tri kiến Phật. Do căn cơ phân chia lợi, độn nên cả hơn bốn mươi năm, trong hơn ba trăm hội, Phật đã tùy cơ giáo diễn các pháp: Ðại, Tiểu, Thiên, Viên chẳng đồng. Tuy các pháp ấy đều là pháp Nhất Thừa, nhưng Phật đã dùng phương tiện [diễn giảng sai khác]. Trong pháp hội Linh Sơn, ngài quy tất cả về Nhất Thật đạo, giảng bày bổn hoài; tam thế chư Phật xuất thế độ sanh không vị nào chẳng làm như thế. Nhưng xét đến pháp giản dị nhất, dễ dàng nhất [khiến cho] kẻ tâm hèn kém, sơ tâm phàm phu đốn ngộ thượng thừa, mau đạt lên Bất Thối thì chẳng có pháp nào bằng nổi con đường quan yếu Tịnh Ðộ cả! Chúng ta thường nói: “Phật tánh của chúng sanh vốn sẵn thành, chẳng do người khác dạy. Vô Thượng Bồ Ðề ta vốn tự có, nào phải do tu mới có được”. Nhưng chúng sanh mê tình sâu nặng, trầm đọa bao kiếp; nếu chẳng gặp được Phật, Bồ Tát, thiện tri thức dùng phương tiện khai thị thì không cách nào liễu sanh thoát tử, nhập Phật trí huệ được nổi! Vốn tự ngài Pháp Tạng Tỳ Kheo gặp đức Thế Tự Tại Vương Phật phát ra bốn mươi tám lời nguyện nên pháp Niệm Phật Tam Muội đây mới được phát khởi trong vô lượng kiếp số nhiều như số bụi trần trước đây. Do đó, nay đức Di Ðà hiện hữu nơi cõi Thanh Thái, đức Thích Ca Văn giảng dạy trong cõi Trúc Càn; trong mười phương cõi nước, hằng sa chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài tán dương pháp môn Tịnh Ðộ là chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật. Nguyên do truyền bá giáo pháp là như vậy đó. Còn ngài Huệ Viễn đời Ðông Tấn kết Liên Xã tại Lô Sơn chỉ là nhằm phát huy di huấn của các đức Phật trước đó mà thôi. Bởi thế, mới nói: Các tam muội danh hiệu rất nhiều, nhưng công cao dễ thành thì phải kể Niệm Phật Tam Muội trước hết. Do đấy, biết được rằng: Lúc còn tu nhân, chư Phật, Bồ Tát đều tu pháp này. Khi chứng quả vị, để độ sanh, các vị cũng cùng nói pháp này. Phàm muốn hoàn tất đại sự sanh tử, dạo trong tánh hải của chư Phật thì không thể không nhờ vào pháp này được!
|