Trung Phong Tam Thời

Hệ Niệm Pháp Sự

Toàn Tập Giảng Ký,

Phần 13

Lão pháp sư Tịnh Không chủ giảng tại Tịnh Tông Học Hội Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp phần “nương theo pháp môn trì danh giải thích Ngũ Trược Ác Thế”. Trong phần trên chúng tôi đã giảng đến Ngũ Lợi Sử của Kiến Trược, đã giới thiệu về Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, hôm nay chúng ta xét đến điều sau cùng: Tà Kiến.

      “Bác không nhân quả, làm chúng sanh nghi ngờ, lầm lạc, rớt vào hầm sâu”. Mấy câu nói này của Ngẫu Ích đại sư, chúng ta phải chú tâm lãnh hội. Tà Kiến là gì? Trừ bốn loại kiến giải sai lầm lớn đã nói ở trên, tất cả hết thảy những kiến giải lầm lạc đều gộp vào loại này, phạm vi của loại này rất lớn, rất rộng. Nghiêm trọng nhất trong mọi kiến giải lầm lạc là không tin vào nhân quả báo ứng. Nhà Phật thường nói: “Vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không”. Thế pháp, Phật pháp đều được kiến lập trên cơ sở nhân quả, đó là chân lý. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, đó là định luật tự nhiên, chắc chắn không có cách nào thay đổi định luật tự nhiên, biến đổi định luật tự nhiên. Các nhà khoa học hiện thời rất thông minh, họ muốn biến đổi tự nhiên, cũng đã làm được không ít chuyện. Nay họ nghiên cứu cơ cấu của động vật, thực vật, nhiều nhất là thực vật, biến đổi giống tốt. Chúng ta thấy rất nhiều loại cây ăn quả, đúng là qua sự cải thiện của sức người, những loại ấy tăng trưởng rất to, rất ưa nhìn. Chẳng hạn như các loài táo, xoài, chúng ta thấy chúng đã được cải thiện giống loại (cải biến gene), nhưng cải thiện rồi thì sao? Trái nghịch nguyên tắc tự nhiên, quả thật nó phát triển rất to, rất ưa nhìn, nhưng phẩm vị trước kia của giống ấy không còn nữa. Bởi vậy, loại xoài rất lớn đã được cải biến gene, đem so với những quả thuộc loại thổ sanh thổ trưởng, chưa từng cải biến gene, thì loại sau không được dễ coi bằng, nhỏ xíu, nhưng mùi vị khác hẳn. Những thứ thực vật tùy thuận tự nhiên quả thật có bổ dưỡng, có lợi ích đối với con người. Những thứ đã biến đổi gene con người ăn vào trọn chẳng tốt lành gì, nhưng nay không ai biết. Vì sao mấy năm qua dường như xuất hiện rất nhiều chứng bệnh kỳ quái? Có người hỏi tôi, tôi bèn tùy thuận lời cổ nhân nói để trả lời. Cổ nhân dạy chúng ta: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”. Chẳng phải là ăn những thứ đã được biến đổi gene nên mới sanh ra rất nhiều những bệnh chưa từng gặp hay chăng? Quý vị thay đổi nguyên tắc tự nhiên, quy luật tự nhiên sẽ đáp trả bằng những tai nạn dữ dằn. Nay ai nấy đều biết cây cối rừng rậm đóng vai trò cân bằng sinh thái trên địa cầu, tạo sự an toàn cho nhân loại, nó ngăn ngừa lụt lội. Hiện tại con người đã nhận biết: Chặt phá rừng rậm bừa bãi, phá hoại sự vành đai bảo vệ đất nước, khi nước lũ tràn dâng sẽ hình thành thủy tai. Trong quá khứ có thủy tai, nhưng không dữ dội, không nhiều như thế, mà có thể chế ngự được một phần! Như vậy, quý vị muốn cải biến sinh thái tự nhiên, muốn khống chế sinh thái tự nhiên, tự nhiên bèn phản ứng lại, quý vị chịu đựng không nổi!

      Do vậy, cổ thánh tiên hiền, thánh nhân tại Trung Quốc lẫn ngoại quốc dạy chúng ta phải tùy thuận tự nhiên. Tùy thuận tự nhiên là khỏe nhất. Căn bản nhất là thân thể của chúng ta từ lúc sanh ra khỏi bụng mẹ vốn tự nhiên; con người hiện tại cũng muốn thay đổi nó, thường thấy nhất là đi làm đẹp, đi sửa sắc đẹp, không chịu tùy thuận tự nhiên, cứ muốn thay đổi tự nhiên. Chúng tôi biết rất nhiều trường hợp sau khi sửa sắc đẹp bị những di chứng không thể tưởng tượng nổi, mang lấy rất nhiều đau khổ, rút ngắn tuổi thọ. Đó là gì vậy? Đó là quý vị phải trả giá cho việc phá hoại tự nhiên. Chán ghét tướng mạo, thể chất của mình không tốt đẹp thì có phương pháp để cải biến, dùng phương pháp nào vậy? Vẫn là tùy thuận tự nhiên để biến đổi, vậy mới là chánh xác! Tướng mạo thân thể của chúng ta do cha mẹ mà có, cha mẹ ban cho chúng ta cái Duyên, tức Tăng Thượng Duyên, còn Nhân là gì? Nhân là nghiệp lực của chính mình, Dẫn Nghiệp, Mãn Nghiệp. Quan trọng nhất là Mãn Nghiệp, tức là những nghiệp thiện ác đã tạo trong đời quá khứ. Tạo nghiệp bất thiện thì tướng mạo không đẹp, thể chất không tốt. Cải biến bằng cách nào? Phải tùy thuận pháp tắc tự nhiên để thay đổi mới là đúng; chẳng cần phải dùng đến sức người, cứ tùy thuận tự nhiên. Đạo lý tự nhiên ngày nay chúng ta đã hiểu, pháp thế gian lẫn xuất thế gian đều nói: “Tướng tùy tâm chuyển”. Chúng ta muốn được tướng hảo thì phải chuyển biến bằng cách nào? Tâm tốt lành. Tướng tùy tâm chuyển, tâm tốt tướng bèn tốt. Tâm hồn khỏe mạnh, thể chất khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh theo. Đó là tùy thuận pháp tắc tự nhiên để cải biến, rất hợp lý!

      Đạo của thánh hiền và đạo của Phật, Bồ Tát không có gì khác, đều nhằm giúp chúng ta cải thiện hoàn cảnh sống, cải thiện tướng mạo, cải thiện thể chất. Cải thiện hoàn cảnh sống quyết chẳng được dùng những hành vi do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của con người để thay đổi, phải hoàn toàn tùy thuận quy luật tự nhiên, đạo lý tự nhiên. Nhà Phật thường nói: “Trong cửa nhà Phật, hữu cầu tất ứng”. Cầu phú quý được phú quý, cầu con cái được con cái, cầu trường thọ được trường thọ, cầu thành Phật bèn có thể được thành Phật, cầu sanh lên trời bèn có thể được lên trời, hữu cầu tất ứng! Hoàn toàn tùy thuận quy luật tự nhiên, theo thuật ngữ nhà Phật là “tùy thuận tánh đức”. Tùy thuận tự tánh, tùy thuận pháp tánh thì mảy may di chứng đều không có. Như vậy, chúng ta phải làm sao chuyển Tà Kiến thành Chánh Kiến, đó là học Phật.

      Đức Phật đã chuyển trọn năm thứ Kiến ấy nên chúng ta xưng tụng Ngài là Chánh Tri Kiến; công phu của A La Hán là Chánh Giác. Do vậy, bậc đại thánh đại hiền thế gian hay xuất thế gian mà giáo dục thì trước hết phải dạy chúng ta nhận thức đạo lý nhân quả, phải hiểu rõ sự thật chân tướng nhân quả báo ứng. Chúng ta mong cầu cái quả tốt thì phải biết tu cái nhân tốt: Gieo thiện nhân được thiện quả. Gây tạo ác nhân mà mong cầu thiện quả là trái nghịch quy luật tự nhiên, chắc chắn là sai lầm! “Làm chúng sanh nghi ngờ, lầm lạc”. Đấy là thực tế. Trong xã hội hiện tại, chúng ta thấy chúng sanh gây tạo chuyện bất thiện, tai nạn hung hiểm xảy ra liên miên không ngừng, ngày càng dữ dội hơn. “Rớt xuống hầm sâu”: Hầm sâu ngụ ý quả báo trong tương lai, ví cho ba ác đạo. Tiến vào ba ác đạo dễ, thoát ra rất khó. Lại xem tiếp Phiền Não Trược là món trược thứ ba trong Ngũ Trược.

      3) Phiền Não Trược: “Ngũ Độn Sử tăng thạnh, không dùng cái hạnh ‘phàm tâm tức là Phật tâm’ (không lấy, không bỏ) ắt chẳng thể độ được”. Ở phần trên đã giải thích ý nghĩa chữ Sử. Kiến Hoặc gọi là Lợi Sử vì chúng rất mạnh mẽ, nhạy bén, nhưng dễ đoạn. Độn Sử rất mềm mại, không ương ngạnh, mạnh bén như thế, nhưng rất khó đoạn, nên mới nói “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, phiền não mà! Phiền não nhiễm ô. Năm thứ Độn Sử này nếu nói theo ngôn ngữ hiện thời là “cách suy nghĩ lầm lạc”, gọi là Tư Hoặc. Năm thứ Lợi Sử ở phần trên là cách nhìn lầm lạc, nhìn vũ trụ, con người, hết thảy sự vật, con người bằng cái nhìn lầm lạc; còn Ngũ Độn Sử là suy nghĩ sai lầm, tư tưởng sai lầm vậy. Bởi lẽ kiến giải, tư tưởng lầm lạc nên hành vi, ngôn ngữ đương nhiên cũng sai trái. Ngôn ngữ, hành vi tạo nghiệp, tư tưởng lầm lạc là Ý nghiệp. Ý nghiệp nhất định liên đới ngôn ngữ, hành vi; do vậy, thân - ngữ - ý nghiệp của quý vị đều tạo nghiệp, đều tạo tác bất thiện, làm sao cảm được quả báo tốt lành cho được! Do vậy, trong hoàn cảnh ấy, chúng ta muốn giải thoát, muốn vượt thoát sanh tử luân hồi, ở đây đại sư dạy chúng ta: “Không dùng cái hạnh ‘phàm tâm tức là Phật tâm’. Ý nghĩa rất rõ ràng: Phải chuyển cái tâm phàm phu thành Phật tâm, Phật tâm tự tại, Phật tâm không lấy - bỏ, không có được - mất, Phật tâm tùy duyên không phan duyên. Nếu chúng ta học được như vậy thì trong một đời này cuộc sống sẽ thật sự hạnh phúc, thật sự mỹ mãn.

      Trong năm điều (Ngũ Độn Sử) thuộc Phiền Não Trược, thứ nhất là Tham, xan tham (keo kiệt, tham lam). “Chẳng thể thấy thấu suốt, chẳng hiểu hết thảy pháp như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Tham là gốc bệnh của chúng sanh lục đạo trong chín pháp giới. Lục đạo chúng sanh tham đắm danh văn, lợi dưỡng, tham tài, sắc, ăn uống, danh vọng, ngủ nghỉ, ngũ dục, lục trần. Trong bốn pháp giới cũng có tham, họ tham những gì? Tham Phật pháp. Nghĩa là họ đã phá được Ngã Chấp, nhưng vẫn còn Pháp Chấp; Pháp Chấp là chấp trước nơi pháp. Vậy là chưa liễu giải sự thật chân tướng của vũ trụ vạn hữu. Nếu thật sự thông đạt hiểu rõ chân tướng vũ trụ vạn hữu, xan tham bèn đoạn, không còn nữa! Kinh Hoa Nghiêm giảng chân tướng của vũ trụ vạn hữu rất thấu triệt, rất rõ ràng. Đọc kỹ kinh Hoa Nghiêm chúng ta sẽ dần dần hiểu rõ những sự việc này.

      Hai câu tiếp theo chúng tôi trích dẫn kinh Kim Cang: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Kinh Kim Cang nói như vậy. Giảng hai câu này cho thật thỏa đáng thì không những chẳng dễ gì mà còn phải giải thích hết sức tỉ mỉ. Ở đây, chúng tôi chỉ nói đơn giản thế này: Pháp hữu vi là gì? Nói đơn giản nhất, đó là những pháp có sanh có diệt. Có sanh có diệt thì gọi là pháp hữu vi; bất sanh bất diệt là pháp vô vi. Trong thế giới theo cảm nhận của chúng ta, quý vị nghĩ xem có thứ gì không sanh diệt? Động vật có sanh - lão - bệnh - tử, thực vật có sanh - trụ - dị - diệt, khoáng vật (tinh cầu) thành - trụ - hoại - không. Nói chung, trong cảnh giới được tiếp xúc bởi lục căn không thứ gì chẳng phải là pháp sanh diệt. Hữu sanh hữu diệt thì gọi là pháp hữu vi. Trong thế giới theo cảm quan của chúng ta, chỉ có một thứ chúng ta thấy rất rõ chẳng hiện tướng sanh diệt là hư không. Ngàn vạn năm trước hư không vẫn như vậy, ngàn vạn năm sau có lẽ cũng vẫn vậy. E rằng chỉ có mình hư không bất biến, ngoài hư không ra không có gì bất biến cả. Những hiện tượng trong hư không cũng thiên biến vạn hóa, cũng là pháp sanh diệt! Chúng ta phải nhận biết rõ ràng, Phật dạy những pháp ấy giống như mộng, huyễn, bọt, bóng, biến hóa trong từng sát-na không ngừng.      

      Cái gì thật sự bất biến? Năng Biến thật sự bất biến, phải biết hết thảy pháp hữu vi là cái được biến hóa. Năng Biến là gì vậy? Kinh Hoa Nghiêm dạy Năng Biến chính là tâm tánh. “Các pháp được sanh ra”, chữ “các pháp” tính gộp cả hư không, “chỉ là do tâm hiện”, Tâm có thể hiện, Thức có thể biến. Tánh Thức có thể sanh, có thể biến, nhưng nó bất biến (bản tánh bất biến), hết thảy vạn pháp đều do bản tánh biến hiện ra. Nếu chúng ta hiểu rõ, thấu suốt sự tình này thì nhà Phật gọi đó là “minh tâm kiến tánh”, tham - sân - si - mạn đều đoạn sạch hết, quyết định chẳng sanh, hiểu rõ sự thật chân tướng. Trước khi hiểu rõ, chắc chắn không thể đoạn hết được. Dẫu quý vị dụng công tu hành mong đoạn trừ, thì có thể nói là ngó sen dù gãy, tơ vẫn còn nối liền, không dứt sạch được! Do vậy, nếu quý vị có một công phu định lực kha khá sẽ chuyển được Kiến Trược. [Muốn đoạn] Phiền Não Trược nhất định phải mở mang trí huệ, tức là “chuyển phiền não thành Bồ Đề” mới hòng đoạn sạch. Do vậy, đoạn Tư Hoặc khó hơn đoạn Kiến Hoặc!

      Kinh Hoa Nghiêm có một bài kệ như sau:

      Pháp tánh trọn khắp tất cả chỗ,

      Hết thảy chúng sanh và cõi nước,

      Ba đời thảy đều không còn sót.

      Cũng không hình tướng để hòng được!

      Bài kệ này chúng tôi đã giảng qua rồi. Nếu chúng ta thật sự biết rõ hết thảy các pháp là nhất niệm tự tánh, biết hết thảy chúng sanh đều là bạn lành đời trước, cùng một Phật tánh thì gọi là “nhập Phật tri kiến”. Đó gọi là “minh tâm kiến tánh”, đó là “kiến tánh thành Phật”; phiền não, tập khí lẫn căn cội của nó đều bị chuyển biến. Vì vậy, tu hành là tu điều gì? Tôi phải nói thông tục cho mọi người thật dễ hiểu, quý vị sẽ hiểu rất dễ dàng: Tu để sửa đổi nghèo khó thành phú quý, tu để sửa đổi ngu si thành thông minh, trí huệ; tu để sửa đổi bệnh khổ thành mạnh khỏe trường thọ. Quý vị hiểu điều này chớ? Đúng vậy, nguyên do quả thật là như vậy, quý vị phải thật sự hiểu rõ. Cái học vấn này có cần học hay không? Có muốn thực hiện phương pháp này hay không? Nếu quý vị làm được sẽ có đại lợi ích.

      Chúng ta muốn được giàu có, muốn được vô lượng vô biên của cải giống như chư Phật, Bồ Tát thì có được hay không? Phật, Bồ Tát trả lời khẳng định: “Quý vị vốn đã có sẵn! Của cải vô lượng vô biên trọn khắp hư không pháp giới”. Vì sao nay lại đến nỗi bần cùng như vậy? Là do quý vị đánh mất tự tánh có thể hiện, có thể biến nên mới biến thành đáng thương như vậy. Chư Phật và Pháp Thân Bồ Tát thấy quý vị rất giàu có, gia tài vạn ức! Nay quý vị bần cùng như kẻ ăn mày, thật đáng thương! Câu nói “thật đáng thương” ý vị rất sâu, quý vị chẳng thật sự lâm vào cảnh bần cùng đến thế. Nếu quý vị thật sự lâm vào hoàn cảnh bần cùng như vậy, Phật, Bồ Tát sẽ chẳng thể thốt ra câu ấy. Quý vị gia tài vạn ức, nay phải ôm bát đi xin cơm, há chẳng phải là kẻ đáng thương, hồ đồ đến mức ấy hay sao? Vạn ức gia tài ở đâu vậy? Ở nơi tánh đức, tự tánh.

      Trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường giảng tự tánh có vô lượng trí huệ, trí huệ rốt ráo viên mãn, đức năng rốt ráo viên mãn, tướng hảo rốt ráo viên mãn, không khác gì chư Phật, Bồ Tát! Kinh Tịnh Độ nói đến Phật A Di Đà, kinh Hoa Nghiêm nói đến Tỳ Lô Giá Na Phật, hết thảy chúng sanh hoàn toàn giống hệt các Ngài, không sai khác tí ti nào! Hoàn cảnh sanh sống, nhà cửa của chúng ta là ở đâu? Trong Hoa Tạng thế giới, trong Cực Lạc. Hoa Tạng, Cực Lạc chính là nhà của chúng ta. Nay chúng ta cũng chẳng lìa khỏi nhà, chỉ là mê, không biết cái nhà của chính mình, không biết chính mình giàu có, cho nên mới khởi tham - sân - si - mạn.

Do mê muội chúng ta mới mong cuộc sống giàu có một chút, sống hạnh phúc một chút, nhưng nay chúng ta không có cách gì minh tâm kiến tánh, chưa giác ngộ, thì phải làm cách nào đây? Phật dạy chúng ta “hành”! Quý vị phải khéo tu, tu đức tương ứng tánh đức thì điều mong cầu sẽ hiện tiền. Ta muốn cầu giàu có thì cái nhân của giàu có là phải biết bỏ ra của cải. Quý vị phải nhớ kỹ nguyên tắc chung ấy. “Bỏ, được”, danh từ ấy chính là lời Phật dạy. Mọi người trong thế gian cũng đều nói: “Anh có bỏ được không?” Thật ra, Bỏ chính là nhân, Được là quả. Xả tài đắc tài, xả phước đắc phước. Xả chính là bố thí. Nếu chúng ta muốn giàu có hãy tu Tài Bố Thí. Muốn được thông minh trí huệ, hãy tu Pháp Bố Thí. Muốn được mạnh khỏe trường thọ, hãy tu Vô Úy Bố Thí. Vô Úy Bố Thí là cứu khổ cứu nạn, thấy hết thảy chúng sanh khổ nạn ta toàn tâm toàn lực giúp đỡ, làm như vậy quả báo là mạnh khỏe trường thọ. Những gì đức Phật dạy trong kinh điển, nếu chúng ta có thể lãnh hội, thấu hiểu, có thể áp dụng vào những hành vi trong cuộc sống, thường ghi nhớ những lời giáo huấn ấy, niệm niệm không quên, gặp cơ hội bèn nghiêm túc nỗ lực thực hiện. Tài phải tán, tán ắt có tụ, tụ rồi lại phải tán. Tụ, tán vĩnh viễn tuần hoàn. Càng tụ nhiều lại càng tán nhiều, vĩnh viễn không dứt như thế, tương ứng với tánh đức, tánh đức sẵn có trong tự tánh sẽ hiện tiền. Đạo lý là như vậy.

Điều thứ hai trong Phiền Não Trược là sân khuể. “Không thể nhẫn nhục, không hiểu một niệm sân tâm khởi lên sẽ đốt trụi rừng công đức”. Trong kinh luận Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, đức Phật thường dạy chúng ta: Tham - Sân - Si gọi là ba độc phiền não. Lúc tôi giảng kinh cũng thường nói: Ba thứ này là bệnh độc nghiêm trọng nhất, bên trong có tam độc thì bệnh độc bên ngoài mới cảm nhiễm được. Nếu bên trong không có tam độc, dẫu bệnh độc bên ngoài nghiêm trọng đến đâu cũng không thể cảm nhiễm. Phải hiểu đạo lý này! Đó là chân tướng sự thật. Phật lại dạy chúng ta: Xan tham là nghiệp nhân của ngạ quỷ đạo, xan tham đọa ngạ quỷ, sân khuể đọa địa ngục, ngu si đọa súc sanh. Ba hạnh nghiệp này là nghiệp nhân căn bản của ba ác đạo. Cũng có thể nói ba ác đạo có rất nhiều điều kiện, nhưng điều kiện hàng đầu, điều kiện quan trọng nhất chính là ba thứ này. Nếu chúng ta dẹp trừ được ba thứ độc trong tâm này, chắc chắn không đọa tam đồ.

Sân khuể nặng nề nhất, cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu” (không nhẫn được chuyện nhỏ, ắt hư chuyện lớn). Sự việc thế gian hay xuất thế gian, chuyện lớn phải nhẫn nại lớn, chuyện nhỏ phải nhẫn nại nhỏ. Người nào không thể nhẫn được sẽ chẳng thành tựu được pháp thế gian hay xuất thế gian nào cả! Chúng ta hãy lắng lòng quan sát những nhân vật quanh ta, ai có lòng nhẫn nại rất lớn, có thể nhẫn nhục, người ấy sẽ có thành tựu lớn lao. Ai cái gì cũng không nhẫn được, chúng ta biết kẻ đó chẳng thành được pháp thế gian hay xuất thế gian nào. Vì sao? Không có tâm nhẫn nại! Ta thường nói là không chịu đựng nổi khảo nghiệm, rất khó thành tựu. Trong kinh Kim Cang, đức Phật đã dạy một câu: “Hết thảy pháp thành tựu bởi Nhẫn”. Chúng ta muốn xong việc phải dùng người, dùng người rất trọng yếu, dùng người mà muốn quan sát kẻ đó xem có thể trọng dụng được không thì hãy nhìn vào ba chữ tham - sân - si. Nếu người ấy không tham, không sân, không si, người ấy đáng trọng dụng. Nếu người ấy xan tham không đoạn, tâm sân khuể rất nặng, chẳng thể nhẫn nhục, chẳng thể trọng dụng con người như vậy được! Nếu trọng dụng nhất định sẽ làm hỏng việc, làm lỡ việc. Biết người, khéo dùng người, đó là đại học vấn đấy!

Không thể nhẫn nhục là vì không hiểu rõ điều Phật đã dạy: “Một niệm sân tâm khởi, đốt trụi rừng công đức”. Do vì công đức chẳng dễ tu, câu nói này chúng tôi thường nói rất nhiều lần. Trong mười mấy năm qua, trên giảng đài tôi thường cảnh tỉnh các đồng học nhất định không được sân khuể. Có sân khuể tổn hại người thì ít, thiệt hại chính mình quá lớn. Vì sao? Khiến cho toàn bộ công đức mình đã tu bị hủy hoại sạch. Kinh Phật tỷ dụ: Công đức mình đã tu giống như chính mình trồng một cánh rừng. Quý vị thấy đó: Nếu mình muốn gầy dựng một khu rừng, phải dùng bao nhiêu tâm huyết, tốn bao nhiêu thời gian chăm sóc cho mầm cây lớn trở thành cây to. Một cuộc đất trở thành rừng rậm há dễ dàng ư? Chỉ cần một mồi lửa đủ để thiêu trụi toàn bộ cánh rừng ấy! Những chuyện như vậy nay chúng ta thường nghe thấy ở địa phương này nọ lửa lớn cháy núi, rừng rậm cả trăm ngàn năm bị lửa đốt sạch. Phật dùng chuyện này làm tỷ dụ, chúng ta tu công đức không dễ dàng, vừa nổi máu nóng, công đức mất sạch. Công đức là gì? Công đức là Giới - Định - Huệ. Do Giới đắc Định, do Định khai Huệ. Giới - Định - Huệ là công đức. Vừa nổi nóng Giới - Định - Huệ đều không còn nữa, mất sạch. Người tu hành sợ nhất là nóng giận, công phu cũng đào luyện ở chỗ này, thuận cảnh chẳng khởi tham luyến, nghịch cảnh chẳng khởi sân khuể. Thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên đều có thể giữ được cái tâm bình thường thì người ấy công đức thành tựu. Kinh Duy Ma nói: “Tâm bình thường là đạo”, không phải là tiểu đạo mà là đại đạo! Chúng tôi gọi đó là “tâm thanh tịnh, bình đẳng”. Quý vị hãy nghĩ xem: “Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”, tham - sân - si - mạn - nghi năm chữ ấy phạm phải chữ nào, chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi đều không còn; một chữ cũng không được phạm. Chúng tôi thường gọi năm điều ấy là chân tâm, là đại Bồ Đề tâm, phải thường gìn giữ! Ta niệm niệm đều là chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, quyết định tương ứng với chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, đó là chân tâm của ta. Nay ta mê mất chân tâm, nay muốn khôi phục chân tâm của chính mình, muốn khôi phục thì phải niệm đâu nghĩ đấy, niệm niệm không quên, niệm niệm không rời. Bất luận trong cảnh giới nào cũng có thể giữ được chân tâm, giữ được sự chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, luôn đề cao cảnh giác.

Người mới vừa học Phật, vừa mới dụng công, nói chung thời gian giác ít, thời gian mê nhiều. Cổ nhân nói rất hay: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm”. Niệm là mê! Không sợ mê nổi lên, chỉ sợ giác (nhận biết) quá chậm! Chẳng hạn như khi ta gặp phải thuận cảnh thiện duyên, trong tâm vừa hoan hỷ bèn lập tức giác ngộ: Hoan hỷ thì được nhưng không thể tham luyến! Biết “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, niệm câu ấy mấy lượt. Kinh Kim Cang còn có câu “phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, niệm mấy câu ấy tâm bèn bình, hoan hỷ thì được, chẳng được tham luyến. Gặp phải nghịch cảnh ác duyên, tâm sân khuể sanh khởi, cũng phải ngay lập tức niệm: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”. Tâm bình khí hòa thì quý vị mới giữ gìn được cái tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, mới hòng gìn giữ được! Giữ gìn được là Phật, Bồ Tát. Không thể giữ gìn, để tham - sân - si - mạn - nghi sanh khởi trong tâm thì là phàm phu. Tham - sân - si - mạn - nghi là căn bản của lục đạo; lục đạo luân hồi do đâu mà có? Do những thứ này biến hiện, tức tham - sân - si - mạn - nghi biến hiện lục đạo luân hồi. Nếu chuyển được tham - sân - si - mạn - nghi, chuyển thành chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi thì lục đạo không còn nữa, quý vị đã siêu việt lục đạo. Không những siêu việt lục đạo mà còn siêu việt mười pháp giới, đi về đâu? Đi về Cực Lạc thế giới, đến Hoa Tạng thế giới, đến Nhất Chân pháp giới rồi!

Quý vị phải hiểu: Công đức của chính mình tu học được, bất cứ ai cũng không thể phá hoại, vậy ai phá hoại được? Chính quý vị tự phá hoại! Do vậy, ma vương, ngoại đạo trông thấy quý vị tu công tích đức, chúng phá hoại bằng cách nào? Biến hiện đủ mọi cảnh giới để dụ hoặc khiến quý vị khởi tâm, khởi tâm sân khuể, khác nào nó ở bên cạnh nhìn quý vị nổi nóng: “Tốt lắm! Cháy nhanh lắm! Công đức của ngươi cháy sạch hết rồi!” Quý vị bị mắc lỡm, tự mình đốt mình, chứ nó không có cách gì cả! Như vậy, thuận cảnh, nghịch cảnh, thiện duyên, ác duyên, chúng ta phải có trí huệ để đối đãi bằng lý trí, nhất định không được xử sự theo cảm tình, hành động theo cảm tình là bị mắc lừa lớn. Tham - sân - si là nhân, tam đồ là quả báo. Quý vị tạo cái nhân ấy thì tương lai sẽ đọa tam ác đạo, nhất định chẳng được mắc lừa. Trong kinh giáo, đức Phật dạy chúng ta: Mấu chốt là chính mình phải biết chuyển biến. Kinh Lăng Nghiêm dạy rất hay, “nếu có thể chuyển được vật thì giống như Như Lai”. Lời này nói với ai vậy? Nói cùng Pháp Thân đại sĩ, Pháp Thân Bồ Tát hiểu rõ, chứ lục đạo chúng sanh không hiểu. Vì thế, Pháp Thân Bồ Tát có thể chuyển được cảnh giới, chuyển bất thiện thành thiện, chuyển nhiễm ô thành thanh tịnh, đều tương ứng với tánh đức, hay vậy đó. Chúng ta học được bản lãnh ấy sẽ không sanh sân khuể nữa!

Việc này rất khó, nhất là oan gia đối đầu, kẻ đó thường hủy báng mình, lăng nhục mình, phá hoại mình, ta trông thấy kẻ ấy, nghe đến tên kẻ ấy bèn nổi nóng, chúng ta thường nói đó là “chuyện thường tình của con người”. Thế nhưng Phật, Bồ Tát khác với chúng ta; Phật, Bồ Tát trông thấy kẻ khác bày đủ mọi cách, nhưng nghe đến danh hiệu của họ hoặc nghe lời họ hủy báng, các Ngài chẳng những không nổi nóng, lại còn sanh tâm cảm kích. Do vì nguyên cớ nào? Sao lại sanh tâm cảm kích? Kẻ ấy có tốt gì với mình đâu cơ chứ? Phật, Bồ Tát bảo: “Kẻ ấy tiêu nghiệp chướng thay cho mình! Mỗi một chúng sanh chúng ta trong vô lượng kiếp luân hồi sanh tử trong lục đạo, tạo không biết bao nhiêu tội nghiệp. Người ấy tiêu nghiệp chướng cho ta, ta cung cung kính kính cảm kích người ấy, không nẩy sanh chút tâm sân khuể nào”. Đó là gì? Phải là bậc giác ngộ, bậc minh bạch mới làm như vậy được, còn người mê hoặc, người không giác ngộ không thể làm nổi. Do vậy, thuận cảnh, nghịch cảnh, thuận duyên, nghịch duyên đều là thiện tri thức, đều giúp chúng ta tiêu nghiệp chướng, giúp chúng ta thành Phật đạo. A! Nay đã hết giờ rồi!

 

*

Chư vị đồng học!

Chúng ta xem tiếp điều thứ ba trong Phiền Não Trược là Si: “Chẳng thể minh giác”, minh là minh bạch, giác là giác ngộ. “Chẳng hiểu các hành vô thường, rốt ráo không tịch”. Si là ngu si, nói thông thường là không có năng lực hiểu rõ vũ trụ vạn hữu là chân hay giả. Thế nào là chân? Thế nào là giả? Thế nào là tà? Thế nào là chánh? Thế nào là đúng? Thế nào là sai? Thế nào là thiện? Thế nào là ác? Thế nào là lợi? Thế nào là hại? Chẳng thể phân biệt, chẳng thể hiểu rõ, đó là ngu si. Ngu si tạo thành tổn hại rất nặng nề. Vì sao? Vì luôn luôn sai lầm, coi giả là thật, tưởng thật là giả.

Chúng tôi nêu một thí dụ rõ ràng nhất: Giáo huấn của cổ thánh tiên hiền là thật, là chánh, là lành, là lợi; kẻ ấy hiểu lầm, cho giáo huấn của cổ thánh tiên hiền là giả, là vì xưa kia nhằm phục vụ đế vương chuyên chế, là lừa dối chúng sanh, chẳng tốt lành gì cho hiện tại, không lợi ích gì, nên phủ định, vứt bỏ. Ngày nay tạo thành tai nạn trọng đại cho xã hội, họ không biết căn nguyên tai nạn là đâu? Quy kết về cội nguồn chính là Si, không có trí huệ thật sự! Làm sao để có thể chuyển ngu si thành trí huệ? Chuyển được là Phật, Bồ Tát, không chuyển được là phàm phu! Si là căn bản của hết thảy ác nghiệp, vì thế Phật gọi tham - sân - si là ba độc phiền não, ba thứ ấy chính là đại căn bản của hết thảy sự bất thiện. Chuyển được ba thứ ấy thành ba thiện căn, không tham, không sân, không si; đức Phật dạy hết thảy thiện pháp thế gian đều do ba thiện căn không tham, không sân, không si sanh ra. Chúng ta học Phật không thể siêu việt thế gian thì tối thiểu phải biết tu ba thiện căn. Vì sao? Trong lục đạo quyết định chẳng đọa tam ác đạo! Người thường tu ba thiện căn nhất định sanh vào thiên đạo, bởi lẽ nhân gian không có phước báo lớn lao như thế, phải lên trời hưởng phước. Nếu đem phước báo ấy hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng chúng sanh, hồi hướng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, sẽ chắc chắn được vãng sanh, vì sao? Kẻ ấy là thiện nhân, Tây Phương Cực Lạc thế giới là nơi các thượng thiện nhân cùng nhóm họp, người ấy tâm lành, tư duy lành, hành vi lành, nhất định được sanh. Ở đây, câu nói sau đây của Ngẫu Ích đại sư có ý nghĩa rất sâu xa: “Chẳng hiểu các hành vô thường, rốt ráo không tịch”. Nói cách khác, người ấy thật sự hiểu rõ: “Vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không”. Người ấy tư tưởng là trí huệ, kiến giải là trí huệ, ngôn hạnh là trí huệ, tất nhiên phát sanh trí huệ, trước hết là không tham, nhất định không si, đó là điều khẳng định.

Loại phiền não lớn thứ tư là Mạn. Mạn là ngạo mạn. Quý vị phải nhớ kỹ: Mạn là phiền não căn bản, là phiền não rất nghiêm trọng, quyết định chẳng được coi thường, chẳng thể bỏ qua, nó là chướng ngại nghiêm trọng cho việc tu hành chứng quả. Quý vị hãy suy nghĩ vì sao trong Phật pháp phải ngày ngày tu hành lễ kính; nguyện đầu tiên trong mười đại nguyện vương là “lễ kính chư Phật”? Chúng ta vào Phật đường, vì sao trước hết phải đối trước hình tượng Phật, Bồ Tát lễ ba lạy? Làm như vậy để làm gì? Nhằm để tu đoạn trừ ngạo mạn. Dùng đảnh đầu mình lễ dưới hai chân Phật nhằm chiết phục sự ngạo mạn của chính mình. Sự giáo học ấy rất tiếc ít người hiểu được ý nghĩa, chỉ cung kính Phật, chứ không cung kính người, đối với hết thảy vạn vật lại càng không biết cung kính, như vậy là gì? Là không biết lễ Phật!

Cổ nhân có tỷ dụ sau đây: Người không biết tu lễ Phật ngày ngày lễ Phật như cái chày giã gạo thời cổ, quả thật cứ nhấc lên, đập xuống, không có mảy may nghĩa lý gì cả! Phật pháp đúng là từng giọt, từng điểm, từng phía, từng mặt đều là giáo học, là giáo dục! Dạy quý vị đối với Phật hết sức cung kính như thế thì ứng dụng vào trong sanh hoạt, trong xử sự đãi người tiếp vật, đối với hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật, chúng ta phải cung kính, lễ kính giống hệt như vậy, nghĩa lý là như vậy! Nhằm nhổ trừ cái gốc phiền não ngạo mạn thì một môn công khóa này nếu thật sự học được sẽ thật sự đắc lực. Ngày nào đó, đối với hết thảy người, hết thảy vật, hết thảy sự, quý vị đều có thể khiêm hư, đều nhún nhường là đã tốt nghiệp công khóa ấy. Quý vị thấy Thích Ca Như Lai, những vị đại Bồ Tát, các vị Pháp Thân Bồ Tát, có vị nào còn tập khí ngạo mạn hay chăng? Có vị nào tự cho mình là đúng hay chăng? Không có!

Qua kinh điển chúng ta thấy Thích Ca Mâu Ni Phật đối với kẻ bần cùng, già bệnh, ăn xin, Ngài đều lễ kính, đều tôn trọng, đều quan hoài, đều chiếu cố, không hề có thái độ khinh mạn mảy may. Thấy như vậy, lại nghĩ chúng ta thường ngày xử sự, đãi người, tiếp vật, [thấy] tự mình có tí ti hay ho gì bèn học theo quan niệm lầm lạc của người thế gian, “cảm thấy đáng kiêu ngạo”. Đó là quan niệm lục đạo. Quan niệm của những kẻ nào trong lục đạo? Quan niệm của yêu ma quỷ quái, chứ bậc thánh hiền quân tử trong lục đạo không hề có quan niệm ấy, các vị biết khiêm hư, biết tôn kính người khác. Ngạo mạn, không để ai vào mắt, coi thường người khác, tự cho mình là đúng, chính là ma đạo chứ nào phải Phật đạo hay Bồ Tát đạo! Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát không có quan niệm ấy, ma thì có, yêu ma quỷ quái tự cho mình là đúng. Bởi vậy, phải thường tự quán sát mình đang đi theo con đường nào? Nếu trong tâm mình có năm thứ kiến giải lầm lạc, năm thứ tư tưởng sai lầm thì chúng ta đang đi trên con đường luân hồi, chứ không phải là Phật đạo, không phải Bồ Tát đạo! Ngay cả trong đường Thanh Văn cũng đã đoạn những quan niệm ấy.

Đoạn được năm thứ kiến giải lầm lạc trước bèn chứng quả Tu Đà Hoàn; đoạn được năm thứ phiền não sau thì chứng quả A La Hán, năm điều ấy là tư tưởng sai lầm. Do vậy, biết rằng: Phải sửa đổi kiến giải, tư tưởng cho không còn lầm lạc. Không còn lầm lạc nữa sẽ siêu việt lục đạo. Những chiều không gian khác nhau trong lục đạo đối với quý vị không còn nữa vì quý vị đã siêu việt rồi. Do vậy, chúng ta phải thường xuyên phản tỉnh, phải quán chiếu xem bản thân mình có những kiến giải lầm lạc, có những tư tưởng lầm lạc như vậy hay không? Nếu vẫn còn thì dù ngày ngày niệm Phật cũng chẳng thể vãng sanh. Vì sao? Tuy nói vãng sanh là đới nghiệp vãng sanh, nhưng cổ đức thường nói: “Mang theo nghiệp cũ chẳng tạo nghiệp mới”, nay chúng ta vẫn có những thứ đó sẽ không đới nghiệp được, sẽ chẳng thể vãng sanh. Trong quá khứ có thì được, mang đi theo được! Cổ nhân thường khuyến khích chúng ta: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, chớ lại tạo họa mới”. Đó là ý nghiệp! Trong tâm khởi lên cách nhìn sai lầm, cách nghĩ sai lạc, đó là ý nghiệp, ý tạo nghiệp! Trong thân - khẩu - ý nghiệp, ý nghiệp nghiêm trọng nhất, sức nó mạnh mẽ nhất, chúng ta không thể không biết, chẳng thể không hạ công phu nơi đó.

Con trai Thích Ca Mâu Ni Phật là tôn giả La Hầu La xuất gia từ nhỏ, trong Tăng đoàn có lẽ Ngài là tiểu sa-di nhỏ tuổi nhất. Mọi người thấy Ngài ngày ngày chơi đùa bên ngoài, Phật biết Ngài tu mật hạnh. Gọi là “mật hạnh” vì người ta không thấy Ngài biểu hiện ra ngoài, dụng công trong tâm. Chúng ta học Đại Thừa, nhất là học Tịnh Độ, học Hoa Nghiêm, ngày ngày nói Phật tánh bình đẳng, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tánh bình đẳng. Do vậy, đối với bất cứ chúng sanh nào (“chúng sanh” nói ở đây là hữu tình chúng sanh, nay chúng ta gọi là “động vật”) phải tôn trọng, phải quan hoài, phải hợp tác giúp nhau, chẳng thể đối xử bằng ác niệm, chẳng thể dùng hành vi ác để đối đãi, nhất định phải biết đối xử hòa mục.

Sự hòa mục phát xuất từ nội tâm, hòa là tánh đức, tự tánh vốn là hòa mục, vì sao không hòa? Là vì quý vị nhiễm phiền não tập khí, nhiễm trước tự tư tự lợi nghiêm trọng, ngộ nhận người khác gây tổn hại quyền lợi của mình, ta cùng người bất hòa, hiểu lầm nghiêm trọng. Phải biết tánh đức là bình đẳng, ai có thể tổn hại lợi ích của quý vị? Không hề, không ai cả! Ai tổn hại lợi ích của mình? Bản thân mình có quan niệm sai lầm, tư tưởng sai lầm nên lợi ích của chính mình bị tổn hại, chứ bên ngoài quả thật không có. Nếu cho là người khác làm tổn hại mình thì quý vị đúng là kẻ oan uổng. Tự mình tạo tội nghiệp nghiêm trọng, tự chướng ngại lợi ích của chính mình. Đạo lý này rất sâu, người hiện tại thật sự không biết nhiều. Trước kia, người biết lý này không ít, bậc hiền thánh dạy, người già cả dạy, cha mẹ dạy, thầy dạy, có người chỉ dạy mình, nay không ai dạy cả. Trong vòng vũ trụ, mọi thứ tác động lẫn nhau, ngoại duyên quyết định không thể chướng ngại, nhất định phải hiểu đạo lý này! Hễ nghĩ người bên ngoài có thể chướng ngại mình thì chắc chắn là cách nghĩ, cách nhìn lầm lạc. Nếu người ngoài có thể chướng ngại mình thì đương nhiên người ngoài cũng có thể thành tựu mình. A! Phật, Bồ Tát là người ngoài, Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, ắt các Ngài thành tựu mình, mình đâu cần phải tu hành nữa! Nếu Phật không đến giúp ta là Ngài không từ bi, đã trái nghịch bổn nguyện. Muốn liễu giải chân tướng sự thật thì hãy nhìn vào hội Lăng Nghiêm: A Nan là em họ của Thích Ca Mâu Ni Phật, trong tám người anh em họ của Ngài, Thích Ca Mâu Ni Phật là người lớn nhất, tức đại ca, A Nan là em nhỏ nhất, Phật cũng yêu mến A Nan nhất. A Nan gặp phải nạn Ma Đăng Già nữ mới hiểu Phật có giúp Ngài được hay không? Không thể! Đúng là cha con trèo núi tự mỗi người phải nỗ lực, ai ăn nấy no, chuyện này người khác không thể làm thay được!

Như vậy, trong đời này, nếu quý vị nói người khác hại mình, không có chuyện đó đâu. Người mê ắt cũng gật đầu: “Kẻ đó hại anh, có lỗi với anh!” Người giác ngộ cười cợt: “Ai hại quý vị đâu? Tự mình hại mình!” Sao tự mình lại hại mình? Quý vị thường nghĩ kẻ nào hại mình, quý vị sẽ thật sự bị kẻ ấy hại. Thật ra, kẻ ấy trọn chẳng hại quý vị, chỉ là chính mình nẩy sanh hiểu lầm, chính mình có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, những thứ ấy hại mình thảm lắm! Người giác ngộ không vậy, người ta dựng chuyện hủy báng mình, hủy nhục mình, hãm hại mình, mình đã giác ngộ, đã minh bạch bèn chuyển biến ý niệm, cảm tạ kẻ ấy, anh tiêu nghiệp chướng cho tôi, tăng phước huệ cho tôi, nâng cao cảnh giới cho tôi. Người giác ngộ là như vậy đấy! Quý vị thấy một đằng giác, một đằng mê sai biệt rất lớn. Những ngoại duyên bên ngoài tùy thuộc cách nhìn, cách nghĩ, cách làm của quý vị như thế nào; nếu quý vị thấy lầm, nghĩ lầm, làm sai, quý vị sẽ bị tổn hại, chính mình tổn hại mình. Nếu cách thấy chánh xác, cách nghĩ chánh xác, cách làm chánh xác, sẽ tự mình nâng cao cảnh giới.

Như vậy, ngoại duyên đều là thiện duyên; tự mình nghĩ sai, thấy sai, làm sai, ngoại duyên bèn thành ác duyên; kỳ thật duyên bên ngoài không có thiện hay ác. Ngẫu Ích đại sư nói một câu không sai chút nào: “Cảnh duyên vô hảo xú, hảo xú tại ư tâm” (Cảnh duyên không tốt - xấu, tốt - xấu vốn do tâm), đúng là nói ra chân tướng sự thật, nói rất rõ ràng. Do vậy, ngạo mạn là đại phiền não, khiêm hạ là đại công đức; khá nên khiêm hư, khá nên nhún nhường, khiêm tốn trước mặt người khác. Thường học theo Thích Ca Mâu Ni Phật, thường học theo Khổng lão phu tử. Khổng lão phu tử đối với người khác khiêm hư, quý vị thấy các học trò của Ngài, rất nhiều học trò của Ngài cùng nêu nhận xét về thầy mình. Họ cùng nhất trí công nhận thầy có năm đức, năm thứ đức hạnh ấy mọi người không có. Sách Luận Ngữ ghi là “ôn, lương, cung, kiệm, nhượng”. Phu tử ôn hòa, thiện lương, cung kính, đối với bất cứ người hay sự vật nào, Khổng lão phu tử cũng đều cung kính. Ngài tiết kiệm, nhường nhịn, không hề có mảy may thái độ kiêu mạn nào. Lúc nào, chỗ nào, Ngài cũng cảm thấy mình không bằng được người, tự mình học không đủ, khiêm hư, nhường nhịn. Biết hết thảy chúng sanh Phật tánh bình đẳng thì ý niệm ngạo mạn tự nhiên không còn, đấy chính là như đức Phật thường giảng trong kinh Đại Thừa: “Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ ta trong quá khứ, là chư Phật vị lai”. Nghĩ đến điều này, tâm cung kính bèn sanh khởi, chân tâm lễ kính chư Phật bèn sanh khởi. Quả thật, trong thế gian này chúng ta chẳng chỉ có một đời một kiếp, quá khứ vô thỉ, vị lai vô chung. Chúng ta cùng hết thảy chúng sanh đều có liên quan, có quan hệ mật thiết, dẫu trong đời này không biết nhau, nhưng nhiều đời nhiều kiếp trước chắc cũng là người một nhà.

Tại phương Tây cũng có không ít nghiên cứu khoa học, quá nửa là trong thế kỷ này, nghiên cứu đời trước, đời này; phong trào nghiên cứu về sự luân hồi ở phương Tây đang được bắt đầu. Chúng tôi thấy rất nhiều báo cáo khẳng định con người quả thật có đời trước, chứng minh lời Phật dạy là chánh xác, không phải là vọng ngữ. Tương lai những chúng sanh ấy đều là chư Phật vị lai. Vì sao? Họ có Phật tánh. Chúng ta biết những chúng sanh ấy bao gồm cả muỗi mòng, kiến, những loài động vật nhỏ nhoi ấy đều là cha mẹ ta trong quá khứ, đều là vị lai chư Phật; chúng ta thấy được như vậy thì cái tâm ngạo mạn không còn nữa. Đó là thật sự tu hành!

Chữ cuối cùng là Nghi, tức ngờ vực. “Chẳng thể quyết đoán, chẳng hiểu sự lành có thể thân cận, chẳng hiểu đạo có thể noi theo”. Kinh Đại Thừa nói Nghi là chướng ngại lớn nhất trên con đường Bồ Tát. Nghi là gì? Ngờ vực lời thánh nhân răn dạy, quả thật là đại chướng ngại, bỏ lỡ cơ hội trong đời này. Đoạn nghi sanh tín! Phá nghi bằng cách nào? Bằng trí huệ! Trí huệ chẳng mở mang thì không có cách gì phá trừ nghi hoặc. Có như vậy rồi thì quý vị mới có năng lực quyết đoán, thân cận thiện pháp, thân cận thánh hiền, mới hòng đạt lợi ích, thành tựu đạo đức của chính mình, thành tựu học vấn của bản thân, nâng cao được cảnh giới của chính mình.

Sự việc sung sướng nhất trong một đời người là thân cận thiện pháp, thân cận hiền thánh, niềm sung sướng này trong xã hội hiện tại càng ngày càng hiếm, vì sao? Người đọc sách thánh hiền không còn. Trong xã hội hiện tại, người đọc sách thánh hiền bị người đời nhìn như thế nào? Kẻ cổ hủ, không hợp thời, không thiết thực! Do mọi người đều nhìn mình bằng con mắt khác lạ, kẻ cổ hủ cũng cảm thấy muôn ngàn cảm khái. Biết thế gian biến huyễn vô thường, hết thảy biến huyễn đều là duy thức sở biến, Thức là gì? Là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chúng ta chú tâm quan sát cách họ nghĩ, cách họ phân biệt, cách họ chấp trước là chánh diện hay nghịch diện, có tương ứng với quy luật tự nhiên hay không. Kinh Phật gọi quy luật tự nhiên là “tánh đức”, Nho gia gọi là “bổn thiện”. Sách Đại Học giảng là “minh đức, tân dân, chỉ ư chí thiện”. Tương ứng với những điều đó, thế giới này sẽ tốt đẹp; trái nghịch những điều đó thì thế giới này tất nhiên có tai nạn dữ dội. Cát - hung, họa - phước phát xuất từ sự khởi tâm động niệm của đại chúng trong xã hội, từ ngôn ngữ, tạo tác; thấy được rõ ràng, minh bạch thì là bậc trí giả, là người có trí huệ.

Chịu phát tâm giúp hết thảy đại chúng phá mê khai ngộ, người như vậy được gọi là Nhân Giả, thật sự nhân từ, biết điều không thể làm được mà làm. Thích Ca Mâu Ni Phật là người như thế, Khổng lão phu tử cũng là người như thế. Từ lịch sử, chúng ta có thể thấy, nhìn từ thời đại của Phật Thích Ca, Khổng Tử trở đi mãi cho đến ngày nay, trong ba ngàn năm, mực độ luân lý đạo đức không ngừng hạ xuống, chưa hề được nâng lên. Lúc tại thế, Khổng lão phu tử đã hết sức cảm thán. Luân lý đạo đức của con người trong xã hội thời ấy, nếu đem so với thời Nghiêu - Thuấn - Vũ - Thang, kém hơn một mức độ rất lớn. Thế nhưng nếu nhìn từ thời đại Khổng lão phu tử cho đến hiện thời, có thể nói là chìm đến tận đáy. Đến tận đáy nghĩa là sao? Hoàn toàn không còn gì nữa!

Trong thế giới ngày nay, nói thật ra, toàn xã hội khởi tâm động niệm quả thật là tham - sân - si - mạn - nghi một trăm phần trăm. Trong thời đại thượng cổ, vào thời Nghiêu - Thuấn - Vũ - Thang, nhân tâm toàn xã hội không có tham - sân - si - mạn - nghi. Tâm con người thời ấy như thế nào? Vô tham, vô sân, vô si, vô mạn, vô nghi, một trăm phần trăm là thiện căn. Ngày nay, một trăm phần trăm là tam độc, nói gộp lại là Ngũ Độc. Thời gian này bất quá là bốn năm ngàn năm, vào thời đại trước bốn năm ngàn năm ấy, nếu chúng ta dùng con số năm để tính toán, tức là dùng năm thiện căn thì tâm của toàn đại chúng trong xã hội [thời ấy] đều giữ năm thiện căn. Năm ngàn năm sau tức hiện thời, đại chúng trong xã hội toàn là ngũ độc! Hiện tại không có khả năng phân biệt thiện - ác, không có năng lực phân biệt chánh - tà, quý vị nói phải làm cách nào đây? Làm chuyện tốt, không những người ta không cảm kích, trái lại còn oán hận, còn muốn tổn hại mình. Nên làm hay không? Vẫn cứ phải làm, không thể không làm! Chúng ta làm, chúng ta biết mình tu được một chút phước, chẳng hưởng trong thế gian này, thế gian này không có phước. Sẽ hưởng ở đâu? Nếu chẳng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì hưởng phước trong thiên đạo. Người thật sự minh bạch, người thật sự giác ngộ biết thiên đạo không phải là rốt ráo, quyết định cầu sanh Tịnh Độ, lấy đoạn ác tu thiện để làm tư lương tu Tịnh Độ. Người khác đối với mình bất thiện, ta dùng chí thiện đối với họ; người khác dùng hư ngụy đối với mình, mình dùng chân thành đối với họ, ai đi đường nấy! Quý vị hỏi: “Tôi vì sao phải làm như vậy” ư? Ta đi theo đường Bồ Đề, ta đi theo con đường Bồ Tát, người ta đi theo đường lục đạo, ai đi đường nấy. Tiêu chuẩn của mỗi một con đường khác nhau, ta chẳng thể bỏ tiêu chuẩn của mình. Nếu ta bỏ tiêu chuẩn của mình là hỏng. Đoạn này chúng tôi giới thiệu đến đây thôi. Lại xem tiếp điều thứ tư là Chúng Sanh Trược.

4) “Do Kiến - Tư cảm lấy, năm ấm thô xấu hòa hợp, giả gọi là chúng sanh, không có hạnh ưa chán ắt chẳng thể độ được”. Danh từ “chúng sanh” vốn có nghĩa là các hiện tượng do các duyên hòa hợp lại mà sanh khởi, nên gọi là chúng sanh. Trong kinh Phật thường gọi chúng ta là “chúng sanh”, cách xưng hô này hay lắm. Vì sao? Từ cách xưng hô, chúng ta được cảnh tỉnh, khiến chúng ta hiểu được chân tướng sự thật. Thân thể của chúng ta là hiện tượng do các duyên hòa hợp mà sanh khởi, nói trắng ra là không phải thật. Các duyên hòa hợp thì hiện tượng này tồn tại; nếu các duyên phân tán, hiện tượng ấy không còn tồn tại nữa. Chẳng được coi đó là thật, coi là thật là sai rồi. Hiện tượng này do đâu có? Câu đầu tiên giảng rất hay: “Do Kiến - Tư cảm lấy”, Kiến - Tư chính là duy thức sở biến, cũng là như trong giáo pháp Đại Thừa đức Phật thường dạy: “Hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh”. Thân thể của chúng ta cũng sanh từ tâm tưởng, một lời của Thích Ca Mâu Ni Phật nói toạc sự thật chân tướng vũ trụ, khiến chúng ta hiểu rõ, tỉnh ngộ. Do các duyên hòa hợp mà sanh khởi thành tướng, chẳng thể nói là có, cũng chẳng thể nói là không. Nếu nói là không, rõ ràng hiện tượng tồn tại, quý vị thấy - nghe - hay - biết, quý vị cảm nhận, tiếp xúc được! Nếu nói là có, nó “sanh ra từ đâu, sẽ diệt tận nơi đó”, sanh diệt trong từng sát-na, niệm niệm không ngừng. Vì thế chẳng thể nói là không, cũng chẳng thể nói là có; quý vị phải hiểu rõ chân tướng sự thật.

“Năm Ấm thô xấu hòa hợp”, năm Ấm là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Trước hết, chúng tôi giải thích Ngũ Ấm một cách đơn giản, rồi sau đó mới giảng câu “giả gọi là chúng sanh”. Ấm có nghĩa là che đậy, che đậy thứ gì? Chướng ngại tánh đức của chính mình, cũng là duy tâm sở hiện, chướng ngại tâm tánh. Ngũ Ấm chướng ngại tâm tánh của chúng ta; chúng ta mê nơi năm ấm này, chẳng hiểu rõ chân tướng của chúng, khiến cho đối với hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ sanh ra những cách nhìn sai lầm, cách nghĩ sai lầm. Vì vậy, gọi là Ấm.

Ấm thứ nhất là Sắc. Nói theo cách bây giờ thì Sắc là vật chất. Tứ đại Địa - Thủy - Hỏa - Phong là vật chất. Vật chất có bốn đặc tánh lớn, chắc chắn không thể tách rời bốn tánh chất này. Đặc tánh của nó là địa, thủy, hỏa, phong. Bốn chữ này đều là tỷ dụ, đều là hình dung từ. Địa là loại vật thể chúng ta có thể thấy được, có thể sờ được, nó có thể rất nhỏ nhục nhãn không thể thấy được. Đức Phật nói thiên nhãn của A La Hán có thể thấy được vi trần, vi trần vẫn chưa phải là nhỏ nhất, có những thứ còn nhỏ hơn vi trần nữa, tức Sắc Tụ Cực Vi, Cực Vi Vi, đó là những thứ nhỏ nhất. Cực Vi Vi A La Hán không thấy được, ai mới có thể thấy? Bát Địa Bồ Tát trông thấy được. Bát Địa Bồ Tát là Bất Động Địa, thấy được Cực Vi Vi. Cực Vi Vi là căn nguyên của vật chất, tất cả hết thảy vật chất đều do nó tổ hợp thành. Như vậy nó là cái nhỏ nhất của vật chất.

Khoa học hiện tại đã phát hiện, cũng nói rất rõ ràng, rất minh bạch. Nhà khoa học dùng phương pháp phân tích, đem vật chất phân thành phân tử. Tách phân tử ra thấy phân tử do nguyên tử hợp thành. Lại phân tích nguyên tử thì nguyên tử do nguyên tử hạch và điện tử hợp lại. Điện tử vẫn còn có thể chia nhỏ, nó do lạp tử hợp thành. Lạp tử vẫn còn phân ra được, kinh Phật gọi đó là Cực Vi Vi. Khoa học hiện tại đã phát hiện được điều này hay chưa? Còn chưa được! Khoa học gia biết có vật chất rất nhỏ, nhưng kính hiển vi hiện thời vẫn chưa nhìn thấy. Chúng ta phải đợi đến khi khoa học tiến hơn nữa, mới biết họ có phát hiện được Cực Vi Vi như kinh Phật nói hay không!

Từ những báo cáo khoa học mới nhất, chúng ta thấy các nhà luận về “nguyên điểm” (điểm khởi thủy) của vũ trụ, chúng ta có thể giả thiết là một sợi tóc (sợi tóc không thô như thế, chúng ta giả thiết là một sợi tóc), cắt ngang sợi tóc, mặt cắt ngang của sợi tóc có hình tròn, mặt cắt ngang này là hình tròn thẳng góc với chiều dọc sợi tóc. Nơi mặt cắt thẳng góc ấy, xếp những vi trần Cực Vi Vi, xếp được bao nhiêu? Nơi thiết diện cắt ngang của một sợi tóc xếp các vi trần khít nhau, được một trăm vạn ức ức ức, điều này kính hiển vi hiện thời chưa thấy được. Nơi mặt cắt ngang thẳng góc của một sợi tóc có thể xếp được một trăm vạn ức ức ức những hạt vi trần bé tí như thế, không cách gì thấy được. Hiện tại các nhà khoa học chỉ phát hiện được điều này trên lý luận. Mỗi một hạt bé xíu như thế có bốn hiện tượng: Địa là vật chất, Thủy là độ ẩm, Hỏa là độ nóng. Khoa học hiện tại nói đến những vật tích điện âm hay điện dương. Thủy là âm điện, Hỏa là dương điện. Phong là động, không ngừng lặng. Tất cả hết thảy vật chất hiện tượng đều là động, nếu không động sẽ không tồn tại. Đây cũng là điều được phát hiện bởi các nhà khoa học hiện thời. Họ nói thế giới không có vật chất. Vật chất là gì? Vật chất là một loại hiện tượng chấn động. Cách giải thích này rất có lý, tương ứng với những điều kinh Phật đã giảng. Do từ chấn động sanh ra hiện tượng, nên vật chất có bốn đặc tánh! Thế nhưng vật chất cũng là duy tâm sở hiện, duy thức sở biến, quyết định chẳng tách rời cái tâm. Đặc chất của tâm cũng có Tứ Đại; vật có Tứ Đại, tâm cũng có Tứ Đại. Tứ Đại của tâm là gì? Thấy - nghe - hay - biết là những đặc tánh của nó. Vật chất dù nhỏ cũng chẳng bị mất đặc tánh của nó, nơi vật chất gọi là Pháp Tánh, nơi động vật gọi là Phật Tánh. Phật Tánh và Pháp Tánh là một tánh, chứ không phải hai, chỉ là một tánh, hoàn toàn tương đồng. Tánh là Tâm, chân tâm. Chân tâm và bổn tánh có cùng một ý nghĩa. Có khi ta gọi nó là tâm tánh, do tâm tánh hiện ra, vật chất do tâm tánh biến hiện. Nó biến thành vật chất. Vật chất có bốn đặc tánh lớn là địa - thủy - hỏa - phong.

Như vậy, đối với cái được gọi là vật chất, chúng ta nhận biết rõ ràng! Vật chất rốt cuộc là gì? Từ cái nhỏ nhất có thể hợp thành lạp tử, hợp thành điện tử, thành nguyên tử, thành phân tử, rồi lại hợp thành hết thảy vạn vật. Tất cả những gì sáu căn của chúng ta có thể tiếp xúc, hết thảy hiện tượng vật chất, hết thảy động vật, thực vật, khoáng vật, cho đến hư không đều thuộc vào hiện tượng vật chất. Phải liễu giải chân tướng của nó là gì, quý vị mới chẳng bị nó mê hoặc. Đối với hiện tượng vật chất, quý vị chẳng khởi tham - sân - si - mạn - nghi, nếu hiểu rõ [thì những phiền não ấy] sẽ không khởi. Không hiểu rõ, nhất định khởi tham - sân - si - mạn - nghi, tánh thức có thể hiện có thể biến liền bị chướng ngại. Đó gọi là Ấm, Sắc Ấm là như vậy. A! Bây giờ đã đến giờ rồi.

*

     

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp phần Ngũ Ấm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc Ấm tôi đã giới thiệu cùng quý vị rồi, Sắc là vật chất, chúng ta phải có nhận thức chánh xác đối với nó.

Nay tôi nói đến Thọ trong Thọ - Tưởng - Hành - Thức. Thọ là năm thức đầu, tức là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân “lãnh nạp năm cảnh”; nói như bây giờ là tiếp nhận cảnh giới bên ngoài. Mắt tiếp nhận Sắc bên ngoài, tai tiếp nhận âm thanh bên ngoài, mũi tiếp nhận mùi vị bên ngoài, lưỡi tiếp nhận vị bên ngoài, thân tiếp nhận mát, ấm, lạnh, nóng. Đó là Thọ, lãnh nạp năm cảnh. Đó là nói về tác dụng của Thọ, tức là như nay ta nói “cảm thụ, hưởng thụ” đều gộp trong chữ Thọ này. Pháp Tướng Tông giảng Thọ là năm thức đầu.

Tưởng là thức thứ sáu, tức Ý Thức. Ý Thức có thể “phân biệt, tính toán”. Trung Phong đại sư vì chúng ta khai thị có nói đến ba thứ tâm, thì Duyên Lự Tâm chính là Ý Thức, tức thức thứ sáu, duyên lự, phan duyên. Cái tâm nào có thể tư duy, có thể tưởng tượng thì thuộc vào thức thứ sáu. Những gì có năng lực phân biệt, có năng lực so lường, tính toán đều thuộc vào phân biệt, trong Ngũ Ấm chúng thuộc vào Tưởng. “Hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh”. Công năng của thức thứ sáu rất lớn!

Hành là thức thứ bảy, “hằng thẩm tư lượng” (luôn xem xét, suy lường), vì sao gọi là Hành? Vì nó không gián đoạn, niệm niệm không gián đoạn, chấp trước kiên cố. Thẩm là xem xét, Hằng là thường hằng, từ trước đến giờ không gián đoạn. Quan trọng nhất ở đây là chấp trước Ngã. Ngã có hai thứ, thứ nhất là Nhân Ngã, thứ hai là Pháp Ngã. Nếu chấp trước kiên cố là sai lầm, trên thực tế không hề có Ngã, Nhân Ngã lẫn Pháp Ngã đều không có.

Cái cuối cùng là Thức, chữ Thức chỉ thức thứ tám, “chấp trì không hoại”. Thức thứ tám là A Lại Da Thức, thức thứ bảy là Mạt Na Thức, năm thức đầu là Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức và Thân Thức. Đây là từ tám thức của Pháp Tướng mà nói. Thức thứ tám ta thường gọi là “ấn tượng”. Chúng ta thấy sắc nghe tiếng, sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài tạo thành ấn tượng. Quý vị thấy một người nào đó, nghe âm nhạc diễn tấu một lần, quý vị có thể nhớ được, có thể hồi tưởng được sự việc đã qua, vì sao mình có thể nhớ lại được? Đó là vì ấn tượng đã ghi vào trong thức thứ tám. Thức thứ tám giống như nay ta gọi là kho lẫm, là nhà chứa lương, là kho tồn trữ. Tất cả ấn tượng ghi nhận bởi sáu thức đều tồn trữ nơi đây, vĩnh viễn chẳng bị mất đi, chấp trì không hoại. Không chỉ là những gì chúng ta thấy - nghe - hay - biết trong một đời được chứa trong ấy, mà tất cả những ấn tượng trong đời quá khứ, ngay đến cả trong vô lượng kiếp trước đều tồn trữ trong đó.

Chuyện này có thể chứng minh bằng thuật thôi miên của phương Tây. Chúng tôi từng xem một bản báo cáo, có một người được thôi miên đến một mức độ rất sâu, có thể nói những chuyện vượt khỏi một đời này, nói đến đời trước, đời trước đó nữa, rồi đời trước đó nữa, tổng cộng gần đến tám mươi bốn đời. Những chuyện thuộc tám mươi bốn đời trước đều có thể nói ra hết, tính ra thời gian là hơn bốn ngàn năm. Ông ta có thể nói trạng huống sanh hoạt thời đó, ông ta tên gọi là gì, sống ở chỗ nào, tiếp xúc những ai, hỏi ông ta thời ấy sử dụng những loại tiền nào, ông đều nói được, quyết chẳng phải là dối người, quyết không bịa đặt. Điều này chứng minh những chủng tử hàm tàng trong A Lại Da Thức quả thật bất diệt. Chúng ta biết thôi miên hữu hạn, nhưng nói được đến tám mươi đời trước quả thật chẳng dễ dàng.

Nhà Phật nói Thiền Định có thể đột phá giới hạn, Thiền Định rất sâu! Như Thiền Định của A La Hán có thể biết được năm trăm đời, năm trăm đời trong quá khứ, lại còn biết năm trăm đời trong vị lai, A La Hán có năng lực như vậy. Năng lực của Bồ Tát càng lớn hơn; còn quả địa Như Lai thì biết tột cùng quá khứ vô lượng kiếp, vô lượng kiếp vị lai, thảy đều rõ ràng, thảy đều hiểu rõ. Vì sao? Nay chúng tôi hiểu đạo lý này rất rõ, là vì sau khi kiến tánh, ta thường gọi là minh tâm kiến tánh, hàng Bồ Tát Sơ Trụ trong Viên Giáo sau khi kiến tánh, liền nhập Nhất Chân pháp giới, nhập Bất Nhị pháp môn, thời gian, không gian bằng zero. Vô lượng kiếp trước đều bày trước mặt. Do đây biết rằng: Những thứ đựng trong cái kho tàng A Lại Da Thức này hết sức phong phú! Thích Ca Mâu Ni Phật đã từng nói: “Nếu những chủng tử, tức những ấn tượng, trong A Lại Da Thức giả sử có vật chất, dù là vật chất hết sức nhỏ bé, tận cõi hư không cũng chẳng thể chứa hết”, may là chúng không phải là vật chất.

Nơi những Bồ Tát thuộc địa vị sâu, kiến tánh cũng có sâu cạn sai khác. Bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân Bồ Tát đều minh tâm kiến tánh, nhưng sự kiến tánh có sâu - cạn, rộng - hẹp khác nhau. Bồ Tát thuộc địa vị sâu xa có thể thấy được những chủng tử tập khí chứa trong A Lại Da Thức của người khác, giống như những gì chứa trong kho lẫm của anh, tôi có thể lấy ra coi, có thể tùy ý lấy ra coi. Không chỉ biết của chính mình mà còn biết của hết thảy chúng sanh không chướng ngại. Quý vị thấy người được thôi miên do phương pháp thôi miên có thể rút ra những thứ trong kho lẫm của mình, nhưng không cách nào lấy từ kho của người khác. Thiền Định rất sâu có thể thấy được những tập khí chủng tử chứa trong A Lại Da Thức của hết thảy chúng sanh. Bởi thế Phật độ chúng sanh thuận tiện là vì lẽ gì? Ngài hiểu rất rõ căn tánh của chúng sanh, đời đời kiếp kiếp quá khứ của người ta, không điều gì Phật không biết.

Thọ, Tưởng, Hành, Thức thuộc về Tâm pháp. Đơn giản nhất, Phật chia hết thảy pháp thành hai loại lớn: Một là Tâm pháp, hai là Sắc pháp. Khoa học hiện tại cũng phân loại như vậy, họ chia thành phần vật chất và phần tinh thần. Vật chất là Sắc pháp, tinh thần là Tâm pháp. Nhà Phật giảng Sắc pháp và Tâm pháp là một, chứ không phải hai. Những nhà khoa học, triết gia thế gian đều chia chúng thành hai, làm như vật chất không phải là tinh thần, tinh thần không phải là vật chất, đều độc lập. Thật ra, Phật nói chúng không độc lập, là một, chứ không phải hai. Tâm pháp là cái có thể sanh, có thể biến; Sắc pháp là cái được sanh, cái được biến. Năng - Sở là một không phải hai. Do vậy, tiên sinh Âu Dương Cánh Vô nói Phật pháp không phải là triết học, chẳng phải là tôn giáo. Trong triết học, Năng - Sở (chủ thể và khách thể) tách rời nhau, Năng không phải là Sở, Sở không phải là Năng. Nhà Phật cũng nói đến Năng và Sở, nhưng Năng và Sở thống nhất. Nói nghiêm nhặt, tinh thần và vật chất quyết định chẳng tách rời nhau, vì sao? Vật chất có pháp tánh; đặc sắc của pháp tánh ở phần trên đã có nói, nó cũng có tứ đại, tức bốn đặc tánh lớn là thấy - nghe - hay - biết. Như vậy, vật chất đều có thấy - nghe - hay - biết, khoa học hiện đại chỉ mới vừa phát hiện điều này!

Tiến sĩ Giang Bản Thắng nghiên cứu nước kết tinh, phát hiện ban đầu là vật chất cũng thấy - nghe - hay - biết. Nhưng trong kinh Phật đã nói, nói từ lâu rồi, Phật đã nói từ ba ngàn năm trước. Kinh Hoa Nghiêm (tức là một bộ kinh Phật giảng đầu tiên), “hết thảy các pháp chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”. Giảng sớm nhất như vậy. Trong hội Lăng Nghiêm lại giảng rất rõ: “Các pháp được sanh ra chỉ do tâm hiện; hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do tâm mà thành thể”. Như vậy là càng giảng rõ hơn nữa! Thể của tâm là tánh, trong nhà Phật thường gọi là Pháp Tánh. Thực vật, khoáng vật có Pháp Tánh; ngay cả hư không, thể của hư không là Pháp Tánh. Pháp Tánh có thấy - nghe - hay - biết; trong phần Khai Thị ở đây, Trung Phong đại sư gọi là “linh tri tâm”, kinh Đại Thừa gọi linh tri tâm là Phật Tánh, Pháp Tánh. Bốn đặc tánh lớn là thấy - nghe - hay - biết. Nay chúng ta làm thí nghiệm trên những thực vật, chú tâm quan sát, thấy đúng vậy! Chúng ta dùng thiện ý đối với thực vật, mỗi ngày ba lượt, mỗi lượt ba phút là đủ. Đối với nó nói: “Ngươi mọc rất khá, ta rất thích ngươi, rất cảm ơn ngươi” thì loại thực vật ấy mọc càng ngày càng đẹp. Như với chậu Bồn Tài (Bonsai) của tôi, thí nghiệm thấy rất rõ. Với một chậu khác, nếu quý vị dùng ác ý đối với nó, nói: “Tao rất chán ghét mày, mày càng mọc càng xấu, tao không ưa mày”. Một, hai tuần sau, nó gần như héo khô, rất rõ ràng. Từ thí nghiệm này thấy rõ cây thật sự hiểu được ý người. Hiện tại rất nhiều người bắt chước làm thí nghiệm này, chưa thí nghiệm nào thất bại, chứng minh thực vật có pháp tánh, thật sự có thấy - nghe - hay - biết. Nó có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Vì sao? Thể của nó là pháp tánh. Pháp tánh có bốn đặc sắc, như trong Sắc pháp có Địa, Thủy, Hỏa, Phong là bốn đặc tánh. Hiện tại chúng ta vẫn chưa có cách gì thí nghiệm trên khoáng vật, đất bùn, sa thạch, chúng ta đang xem xét phải làm cách nào để quan sát chúng cũng có đặc tánh thấy - nghe - hay - biết; những điều Phật pháp giảng chúng ta bèn có thể hiểu được. Kinh Hoa Nghiêm nói “tình và vô tình, cùng viên chủng trí”. Vấn đề ấy, chúng ta đã giải quyết xong, không còn ngờ vực nữa. “Hết thảy pháp sanh từ tâm tưởng”, “cảnh chuyển theo tâm”; những vấn đề này chẳng phải đã được chứng minh rồi ư? Đó là thuyết minh quan trọng.     

Nếu chúng ta hiểu rõ, thật sự hiểu, chúng ta sẽ hoàn toàn làm chủ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức của mình. Thứ nhất, chúng ta có thể làm chủ được gì? Có thể không già, có thể không bệnh, có thể không chết, thật sự làm chủ được! Kinh luận giảng rất nhiều về sanh tử, đó là một chuyển biến, chuyển biến trên nhân quả, quyết định không có chết. Vì sao? Pháp tánh của quý vị bất sanh bất diệt. Pháp tướng do pháp tánh biến ra, thân thể là tướng, toàn thể hết thảy hiện tượng trong vũ trụ là tướng. Tướng có sanh - diệt, tánh không sanh - diệt. Thông đạt chân tướng sự thật này, ý niệm sợ hãi đối với sanh - lão - bệnh - tử hoàn toàn tiêu diệt, không còn sợ hãi, chúng là cái do ta biến ra. Năng Biến là ta, thật sự là ta, cái được biến không phải là ta, chẳng được hiểu lầm ý nghĩa này. Sở Biến là cái bị ta biến ra, há phải là ta ư? Ta là Năng Biến, Năng Biến là ta. Như vậy, Năng Biến là Linh Tri Tâm, vọng tâm là Sở Biến, nào phải là ta. Như vậy tám cái thức vừa nói không phải là ta, tám thức ấy là tác dụng của tâm, nhưng những tác dụng ấy là những tác dụng sai lầm, không phải là tác dụng chánh xác. Mê thì gọi là Tám Thức, giác ngộ rồi không gọi là Tám Thức nữa mà gọi là Tứ Trí. Tứ Trí chính là tác dụng chánh xác.

Do vậy, hiện tại chúng ta hết sức thô, hết sức bất hảo, có thể nói là “năm Ấm thô ác hòa hợp”. Cái thân hiện tại của ta đây, cái thân tướng do sắc thân, sắc tâm hòa hợp, “giả gọi là chúng sanh”, do các duyên hòa hợp mà sanh. Vật chất là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, tinh thần là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Nhưng chúng sanh trong lục đạo, từ vô lượng kiếp đến nay đều chấp trước cái thân này là chính mình, đều chấp trước Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là tâm của mình, lầm quá! Do vậy, từ đó khởi Hoặc, tạo nghiệp, chịu quả báo luân hồi, đời đời kiếp kiếp không ngoi đầu ra nổi, không ra khỏi luân hồi lục đạo.

Ở đây, đại sư bảo chúng ta: “Nếu không có hạnh ưa - chán, ắt chẳng thể độ được”. Ưa - Chán là nói về Tịnh Độ, chỉ có hướng về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chán lìa lục đạo luân hồi, chán lìa Sa Bà lục đạo luân hồi mới có thể độ được! Phương pháp của Tịnh Độ tông đối với chúng ta hết sức có ích, bởi lẽ pháp môn này như trong phần trên chúng ta đã xét thấy: Pháp môn này thuận tiện, đơn giản, dễ dàng. Pháp môn này là hoành xuất, không phải là thụ xuất (vượt thoát theo chiều dọc). Hoành xuất là luận trên Kiếp Trược; thuận tiện là luận theo Kiến Trược; chuyển tâm phàm thành tâm Phật là luận trên Phiền Não Trược; chán lìa lục đạo luân hồi, hướng về Tây Phương Cực Lạc thế giới là đối với Chúng Sanh Trược mà luận. Lại xem tiếp điều sau là Mạng Trược.

5) “Nhân lẫn quả cùng kém, thọ mạng ngắn ngủi. Không có cái hạnh không phí thời kiếp, không nhọc nhằn siêng khổ, ắt không thể độ được”. Chữ Mạng chỉ thọ mạng, tức quý vị được cái thân này, trong một đời này, quý vị duy trì được thời gian bao lâu? Tuyệt đại đa số là năm, sáu chục năm bèn mất. Người mất vào tuổi năm, sáu chục rất nhiều. Chết lúc mười tuổi, hai mươi tuổi cũng không ít. Đỗ Phủ là người đời Đường, có một câu thơ như sau: “Nhân sanh thất thập cổ lai hy” (Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm), người thời Đường nói như vậy đó.

Nhân: Thọ mạng của chúng ta có được là do nghiệp nhân đã tạo trong đời quá khứ, thọ mạng đạt được trong đời này là quả báo. Nghiệp nhân của khỏe mạnh trường thọ trong kinh Phật giảng rất rõ ràng, đó là Vô Úy Bố Thí. Quý vị có tâm từ bi, mạnh mẽ cứu khổ cứu nạn, tâm địa hiền lành, làm nhiều thiện nghiệp thì mới được trường thọ khỏe mạnh. Tự tư tự lợi, tổn người lợi mình, thọ mạng sẽ ngắn ngủi, nói theo pháp thế gian của Trung Quốc là “tổn phước”, tức phước báo của quý vị bị sứt mẻ, giống như bị chiết khấu vậy, bị cắt bớt. Quý vị vốn có thể sống đến một trăm tuổi, nay chỉ sống được sáu bảy chục tuổi, tổn phước mà! Nếu có thể bỏ mình vì người, niệm niệm nghĩ đến chúng sanh khổ nạn trong xã hội, hành động nào cũng có thể bỏ mình vì người, ắt thọ mạng luôn được tăng trưởng, kéo dài tuổi thọ, diên niên ích thọ. Thọ mạng dài lâu không phải để hưởng phước mà để làm gì? Để vì hết thảy chúng sanh phục vụ. Đó là lý do nói “nhân quả đều kém!” Phải vì hết thảy chúng sanh phục vụ.

Trong thế gian này, mấy ai có thể sống đến trăm tuổi? Rất ít! Chúng ta muốn trong một đời tu hành chứng quả, ắt cần phải “không phí thời kiếp”, có thể tu thành trong thời gian ngắn, đã thế lại còn phải sao nữa? “Không nhọc nhằn siêng khổ”, phải dễ tu nữa kia! Vì sao? Người bần khổ trong thế gian nhiều, kẻ phú quý ít. Người bần cùng ngày ngày bận bịu kiếm sống, không có nhiều thời gian rảnh rỗi, bởi thế họ chỉ có thể dành chút thời gian rảnh rỗi để tu hành, mới là ổn. Với pháp môn như vậy, họ mới hòng thành tựu. Tịnh tông phù hợp những điều kiện này, với người bận bịu quá sức, trong quá khứ tổ sư còn dạy pháp Thập Niệm: Sáng sớm thức dậy, trong nhà có tượng Phật thì đối Phật lễ ba lạy, chắp tay, niệm A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, hết một hơi là một niệm, niệm mười hơi. Trong một hơi Phật hiệu nhiều ít không quan trọng, không ăn nhằm gì cả, một hơi là một niệm, niệm đủ mười hơi. Người hơi dài có thể niệm được hai mươi, ba mươi tiếng Phật hiệu. Tôi có thể niệm chừng hai mươi tiếng trong một hơi. Thân thể hơi yếu, khí ngắn hơn một chút, thì một hơi niệm được khoảng sáu, bảy tiếng cũng không sao, đó là một niệm. Sáng sớm niệm mười niệm, tối trước khi ngủ niệm mười niệm. Đó là pháp Thập Niệm.

Trước kia, cách nay cũng không ít năm, cũng phải gần mười năm, tôi giảng kinh tại Cát Long Ba (Kuala Lumpur), hình như lúc ấy đến giảng kinh lần đầu tại Cát Long Ba, dạy mọi người pháp Thập Niệm. Pháp Thập Niệm của tôi đơn giản, Thập Niện là niệm mười câu Phật hiệu, khác với cách tổ sư dạy, hết sức đơn giản, tốn một phút thôi: “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” là xong. Thật đấy, nhất tâm, không xen tạp, không hoài nghi. Muốn không xen tạp thì một ngày niệm chín lần. Sáng sớm thức dậy niệm một lần, tối đi ngủ niệm một lần, đó là hai lần. Ba bữa cơm niệm ba lần, trước khi ăn cơm chắp tay, chúng ta không cần phải niệm chú Cúng Dường, cứ niệm A Di Đà Phật, niệm mười tiếng, tức mười câu. Lúc làm việc, lúc vào làm niệm một lần, trước lúc làm việc niệm một lần, ra nghỉ trưa niệm lần nữa, sau bữa cơm trưa trở vào làm việc niệm một lần, ra về niệm lần nữa, tổng cộng chín lần. Chỉ cần mỗi ngày làm, không thiếu lần nào, mỗi lần chỉ mất một phút, chẳng tốn thời gian mà rất có hiệu quả!

Sau khi tôi đề xướng, có rất nhiều người tu theo phương pháp ấy, gọi điện thoại cho tôi hoặc viết thư cho biết rất hiệu quả. Vì sao? Phù hợp với giáo huấn của Tịnh tông, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Mười tiếng Phật hiệu ấy không gián đoạn, vì trong một thời gian ngắn ngủi, quý vị không thể có vọng niệm, trong mười câu A Di Đà Phật không xen tạp vọng niệm. Còn như bình thường niệm Phật, niệm tàn một cây hương, niệm một tiếng đồng hồ, hoặc niệm nửa tiếng, rất khó khỏi xen tạp. Mười câu của tôi không xen tạp, thật sự làm được! Do vậy, người tu học theo phương pháp này đạt được hiệu quả rất tốt. Phương pháp từng được cổ động tại rất nhiều địa phương tại Mỹ quốc, tại Gia Nã Đại. Dù cho quý vị có khóa tối khóa sáng bình thường cũng nên dùng cách Thập Niệm này để trợ tu, cũng hết sức tốt đẹp. Nếu như công việc vô cùng bận rộn thì dùng phương pháp này làm Chánh Tu. Đó là “cái hạnh không lãng phí thời kiếp, không nhọc nhằn, siêng khổ”. Ngẫu Ích đại sư đã đem đạo lý vì sao Tịnh tông lại có thể khiến cho siêu việt sanh tử luân hồi trong thời Ngũ Trược giảng rõ ra.

Chúng ta lại xem kinh văn, phần trên chúng tôi đã đọc rồi, thấy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật: Chư Phật tán thán Bổn Sư, trong thế giới Sa Bà, trong Ngũ Trược, thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vì chúng sanh nói pháp hết thảy khó tin này. Chúng ta hãy xem đoạn kinh văn tiếp theo:

 

Xá Lợi Phất! Đương tri ngã ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vị nhất thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan!

(Này Xá Lợi Phất! Nên biết ta trong đời ác Ngũ Trược, làm chuyện khó này, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì hết thảy thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó!)

 

Phần trên là chư Phật tán thán đức Thế Tôn, còn trong đoạn này là tự đức Thế Tôn nói. Như vậy, Ngẫu Ích đại sư giảng Thích Ca Mâu Ni Phật do tu pháp môn nào mà thành Phật? Do niệm Phật mà thành Phật, niệm A Di Đà Phật mà thành Phật, kinh nào nói như vậy? Chính đoạn kinh văn này nói như thế! Phật bảo Xá Lợi Phất, há chẳng phải là bảo với chúng ta ư? Các ngươi hãy nên biết, ta (ta là Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng) “ta trong đời ác ngũ trược, làm chuyện khó này”, chuyện khó ấy chính là Niệm Phật. Niệm Phật là pháp khó tin, niệm Phật thành Phật. Ngài niệm A Di Đà Phật, cho nên “đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, nói theo cách người thế tục chúng ta thường nói là “đắc đạo”. A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề là Phật đạo, là Vô Thượng Phật đạo. Thích Ca Mâu Ni Phật đắc thành Phật đạo là do tu pháp môn Niệm Phật, tu pháp môn Niệm Phật trong đời ác Ngũ Trược. Lại “vì hết thảy thế gian nói pháp khó tin này”, hết thảy thế gian chính là chín pháp giới, vì chúng sanh trong chín pháp giới mà nói pháp khó tin này, tức là pháp Niệm Phật thành Phật, “thật là rất khó”. Rất khó, đúng là rất khó tin. Bởi thế, thật sự tin được pháp môn này, ở phần trên kinh đã nói rất kỹ: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh về cõi ấy”. Quý vị có thể tin được pháp này, có thể hiểu rõ pháp này, có thể tu hành pháp này, chứng tỏ trong đời quá khứ, đời đời kiếp kiếp, quý vị đã trồng nhiều thiện căn, nhiều phước đức nên trong đời này gặp được duyên phận, nhân duyên tốt, bèn thành tựu. Thiện căn, phước đức, nhân duyên thiếu một điều sẽ không thể thành tựu. Đầy đủ cả ba điều này chẳng phải là chuyện dễ dàng. A! Bây giờ chúng ta xem đến phần sau lời khai thị của Ngẫu Ích đại sư, tức đoạn thứ tám:

“Vì thế một tiếng A Di Đà Phật chính là pháp để Bổn Sư Thích Ca chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề trong đời ác Ngũ Trược”, chúng ta vừa học đến đoạn này. “Nay dùng toàn thể Quả Giác ấy”, “nay” là hiện tại, Thích Ca Mâu Ni Phật đem toàn bộ Vô Thượng Bồ Đề chính mình chứng đắc trao cho chúng sanh trong đời ác Ngũ Trược, thật không dễ dàng! “đó chính là cảnh giới sở hành của chư Phật, chỉ có Phật với Phật mới có thể rốt ráo tận cùng, không phải cậy vào tự lực của chúng sanh trong chín pháp giới mà hòng tin hiểu nổi”. Từ chỗ này, chúng ta bèn lãnh hội. Khó, thật sự khó! Trong sách Tịnh Ngữ, lão cư sĩ Hạ Liên Cư đã nói pháp môn này “nan tín, nan tín, chân nan tín”. Người niệm Phật rất nhiều, vì sao không thể thành tựu? Do không tin. Sao biết người ta không tin? Vì kẻ ấy xen tạp, niệm Phật xen tạp vọng tưởng vào đó. Vì nguyên nhân nào? Do không tin. Thật sự tin sẽ không xen tạp, vì sao? Thật sự tin thì thế pháp, thế duyên, Phật pháp đều buông xuống hết, quyết định không xen tạp, rất dễ thành công.

Trong Vãng Sanh Truyện, trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, chúng ta thấy hầu như người thật sự tin, nguyện thiết tha đều buông cả thế pháp lẫn xuất thế gian xuống được, nhanh thì từ ba tháng đến nửa năm, chậm là hai năm, ba năm bèn thành công, có thể sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thật sự có thể sanh về đó, biết trước lúc mất, thật sự vãng sanh. Do vậy, trước đây từng có người hỏi tôi, không chỉ một người, họ hỏi: “Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, trong Vãng Sanh Truyện, người niệm Phật vãng sanh đại đa số không quá ba năm, có phải là từ khi họ bắt đầu niệm Phật, thọ mạng [chỉ còn] ba năm là hết hay chăng?” Tôi bảo mọi người: Chẳng thể xảo hợp như vậy được, trong thiên hạ há nào có chuyện xảo hợp ấy! Mỗi người niệm Phật ba năm bèn mất, tôi nói không có khả năng xảo hợp như vậy được, trên thực tế thì sao? Ba năm thành tựu thì thọ mạng vẫn còn đó, do họ không cần đến nên đi trước, tôi tin rằng những người như vậy rất nhiều. Trường hợp rõ ràng nhất là sư Oánh Kha đời Tống. Sư thật sự dũng mãnh, tinh tấn, niệm cảm A Di Đà Phật hiện đến. A Di Đà Phật bảo sư: “Thọ mạng ông hãy còn mười năm nữa, đợi mười năm nữa, thọ mạng của ông hết, ta lại đến tiếp dẫn ông”. Sư không cần: “Mười năm tuổi thọ con không cần, con muốn theo Ngài ngay bây giờ”. A Di Đà Phật đáp ứng: “Tốt! Ba ngày sau ta sẽ đến tiếp dẫn ông”. Ba ngày sau quả nhiên sư vãng sanh. Như vậy, quý vị phải hiểu người có năng lực ra đi là thật sự niệm thành công, công phu gì vậy? Nói thật ra, không khó lắm đâu, công phu thành phiến đấy thôi! Vãng sanh Phàm Thánh Đồng Cư độ. Rất nhiều người đạt đến cảnh giới này, đi được, đối với thế giới này không còn tham luyến, thật sự buông xuống được! Phải nói như vậy mới hợp lý.

 Chúng ta biết nếu công phu đạt đến trình độ này, quý vị nghĩ xem, quý vị có bằng lòng đi hay không? Có còn bằng lòng chịu khổ trong thế gian này hay không? Há có ai điên như thế! Thật sự thành tựu công phu, có thể đi được mà vẫn không đi, chỉ có một lý do: Ta và chúng sanh ở nơi này vẫn còn có duyên, ta vẫn còn muốn mang theo mấy người nữa cùng đi. Ta không gấp đi, ta ở lại đây vài năm nữa hòng mang theo những người ấy đi. Quý vị hãy nghĩ xem, ngoại trừ điều kiện ấy ra, há còn điều kiện nào khiến mình lưu trụ? Không có! Do nguyên nhân như vậy mà lưu trụ trong thế gian này, chính là như tôi thường nói: “Thừa nguyện tái lai!” Vấn đề nơi cái thân nghiệp báo của người ấy đã giải quyết xong, quả thật vãng sanh lúc nào cũng được, nhưng vẫn chưa đi vì còn phải giúp chúng sanh hữu duyên. Tức là trong thế gian này vẫn có những người có thể tin vào lời mình khuyên dạy, có thể hiểu biết, có thể hành, những kẻ ấy có thể vãng sanh. Người ấy chẳng vì bản thân mà vì chúng sanh.

Trong Phật pháp thường nói: “Vì nối huệ mạng Phật, vì rộng độ chúng sanh”; còn chuyện của bản thân thì giống như kinh điển đã nói: “Sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu” (Việc làm đã xong, không thọ thân sau). Chuyện của bản thân đã giải quyết ổn thỏa, thích đáng, có thể vãng sanh bất cứ lúc nào. “Hậu hữu” là gì? Là luân hồi, quyết định chẳng còn luân hồi lục đạo. Cảnh giới như vậy, sanh tử đã giải quyết xong, không có gì không buông xuống được. Chúng ta học Phật, nói thật ra, tối thiểu phải học được bản lãnh ấy mới không uổng một đời này. Bản lãnh ấy không khó, vì công phu ấy không sâu. Nếu muốn đạt Sự nhất tâm bất loạn, Lý nhất tâm bất loạn thì đúng là không dễ, nhưng công phu thành phiến không khó. Khó nhất ở chỗ nào? Khó nhất ở chỗ buông xuống.

Tôi thường khuyến khích các đồng tu: Quý vị phải thật sự làm được, đừng nghĩ đến lục đạo luân hồi nữa. Trước hết, phải buông tự tư tự lợi xuống, không được có ý niệm ấy. Phải buông danh văn, lợi dưỡng xuống. Danh văn, lợi dưỡng có lúc có thể dùng làm trợ duyên để hoằng dương Phật pháp. Nếu nó giúp ích cho việc hoằng pháp lợi sanh, có cơ duyên ấy, chúng ta cũng không từ chối. Vì sao? Nó có thể hỗ trợ. Không có cơ duyên, trọn chẳng mong cầu, quyết định chẳng được phan duyên. Nếu có duyên phận ấy, danh văn, lợi dưỡng bèn đưa đến, tự mình phải suy nghĩ: Đối với việc hoằng pháp lợi sanh, nếu nó không giúp ích gì thì không cần đến nó. Nếu nó có ích cho việc hoằng pháp lợi sanh, có thể hỗ trợ thì có thể dùng nó, không tham luyến! Nói cách khác, chính bản thân mình không cần nó. Quyết định chẳng được tham chấp hưởng thụ ngũ dục lục trần; hễ tham chấp hưởng thụ ngũ dục lục trần, lập tức bị đọa lạc, đọa lạc rất nhanh! Hiện tại chúng ta đang sống trong một xã hội thường được gọi là một quốc gia đã mở mang, đã phát triển, cuộc sống của mọi người dân đều khá giàu có, người học Phật chúng ta nên tùy duyên. Trong tùy duyên phải biết tiết kiệm, thứ gì cũng phải biết mến tiếc, tiếc phước đấy!

Hôm qua, tôi ở khách sảnh số 61, trông thấy cái máy lọc nước, những cái chậu rửa chén, mọi người dùng xong không chịu tiện tay lau rửa sạch sẽ. Đó là yêu tiếc vật lực. Quý vị thấy trong phòng vệ sinh của tôi, cái vòi nước dùng đã lâu năm rồi, quý vị cứ xem đi, vẫn còn mới, là vì nguyên nhân nào? Dùng xong, trên mặt nó bám nước, dùng khăn khô lau đi, giữ nó như mới hoài. Do vậy, tôi dùng thứ gì, có thể dùng được hai mươi năm, quý vị dùng tối đa mười năm là hư. Tiện tay lau chùi sạch gọi là tiếc phước! Việc nhẹ nhàng dễ dàng, mọi người không dưỡng thành tập quán, từ chuyện lãng phí nhỏ, dường như người trong nhà cũng không dạy quý vị. Có liên quan đấy! Tôi xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, cho nên đối với thứ gì cũng biết yêu tiếc, từ nhỏ đã dưỡng thành thói quen tuyệt đối không lãng phí. Y phục, quả thật mặc đến khi không thể mặc được nữa mới thay cái mới, thay một bộ. Còn mặc được, cứ mặc tiếp, cốt sao sạch sẽ, cốt sao chỉnh tề. Chúng ta tiếp kiến tân khách cũng nên như vậy, đó là bổn phận của người xuất gia, bất luận dùng vật dụng gì, như cái bàn, cái ghế, đều phải lau chùi sạch sẽ, giữ cho nó hoàn hảo. Như vậy, từng chút từng chút một dưỡng thành thói quen tiếc phước, dưỡng thành thói quen tiết kiệm. Tham - sân - si - mạn nhất định phải đoạn. Mười sáu chữ này tôi thường khuyên các đồng học. Có mười sáu chữ ấy, quý vị niệm Phật chưa chắc được vãng sanh; mười sáu chữ ấy phải đổi đi, phải đoạn đi thì vãng sanh mới nắm chắc. A! Bây giờ đã hết giờ rồi.

 

*

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp đoạn thứ tám, chúng tôi đọc đoạn văn ấy một lượt: “Vì thế một tiếng A Di Đà Phật chính là pháp để Bổn Sư Thích Ca đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề trong đời ác Ngũ Trược. Vì thế, nay đem toàn thể Quả Giác này trao cho chúng sanh đời Trược, mà cảnh giới sở hành của chư Phật ấy chỉ có Phật với Phật mới có thể rốt ráo tận cùng, chẳng phải cậy vào tự lực của chúng sanh trong chín pháp giới mà hòng tin hiểu được!” Mấy câu cuối lại cần phải giảng. Đạo lý niệm Phật thành Phật không khó hiểu. Chư Phật Như Lai, các tổ sư Bồ Tát đều thường nói: “Tự tánh vốn sẵn là Phật, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, vốn sẵn là Phật”. Hiện tại phát tâm niệm Phật, vốn sẵn là Phật, thưa cùng quý vị, là duy tâm sở hiện. Nay biến thành phàm phu là vì duy thức sở biến. Phàm phu nay giác ngộ, lại muốn niệm Phật, niệm Phật thì do duy tâm nên phàm phu lại biến thành Phật. Như vậy, quý vị vốn đã thành Phật sẵn, nay lại niệm Phật, nào có đạo lý không thành Phật. Nếu dùng Tịnh Độ tông để luận thì “tâm này là Phật”, tức quý vị vốn sẵn là Phật, nay quý vị niệm Phật, “tâm này làm Phật”, tâm này là Phật mà tâm này lại làm Phật, há lẽ chẳng thành Phật ư? Thích Ca Mâu Ni Phật niệm Phật thành Phật, đạo lý là như vậy!

Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả, há chẳng nói “hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh” đó sao? Quý vị niệm cái gì bèn thành cái đó. Như vậy, quý vị niệm Bồ Tát sẽ thành Bồ Tát, niệm La Hán sẽ thành La Hán. Quý vị niệm trời sẽ sanh lên trời, niệm nhân tương lai vĩnh viễn không mất thân người. Nhân là gì? Nhân là nhân từ, luân thường đạo đức là nhân, quý vị không bị mất thân người. Quý vị niệm niệm là tâm tham, niệm niệm là tham, sẽ làm ngạ quỷ. Tham là nghiệp nhân của đường súc sanh. Quý vị niệm niệm là sân khuể, sân khuể là nghiệp nhân địa ngục, quả báo là vào địa ngục. Niệm niệm ngu si, ngu si là nghiệp nhân súc sanh. Như vậy, mười pháp giới do đâu mà có? Mười pháp giới từ tâm tưởng sanh, quý vị nghĩ cái gì liền hiện pháp giới ấy. Chúng ta đã hiểu đạo lý này, đã hiểu rõ chân tướng sự thật này, cớ sao chúng ta không nghĩ đến Phật? Như vậy, niệm Phật là nhân, thành Phật là quả! Công đức bậc nhất trong mười pháp giới, quý vị phải hiểu rõ ràng.

Ở đây, Thích Ca Mâu Ni Phật biểu diễn cho chúng ta thấy, niệm A Di Đà Phật chứng Vô Thượng Phật Quả. Nay lão nhân gia đem phương pháp ấy là pháp bậc nhất để tu hành chứng quả, truyền trao cho chúng ta là những chúng sanh trong đời Trược, vấn đề là chúng ta có phước báo, thiện căn, phước đức hay không. Nếu quả thật có thiện căn, có phước đức, nghe lời Thích Ca Mâu Ni Phật khuyến cáo bèn tin tưởng, không hoài nghi, được đức Thế Tôn làm cho cảm động, triệt để hồi đầu, thật sự quay đầu lại, y giáo phụng hành, một đời này lẽ nào quý vị chẳng thành Phật ư? Niệm vừa chuyển đã không còn là người trong thế giới Sa Bà nữa! Quý vị chỉ còn đợi ngày vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thật sự thành tựu vậy!

Như vậy, ba câu sau cùng đại sư nói rất hay, đây là cảnh giới sở hành của chư Phật, hết thảy chư Phật do đâu mà thành Phật? Không vị Phật nào không do niệm Phật mà thành Phật, nếu các Ngài không niệm Phật làm sao thành Phật được? Mười pháp giới từ tâm tưởng mà sanh, chỉ có nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại, tương lai, nhất định thành Phật! Như vậy, Lý và Sự này “chỉ có Phật với Phật mới có thể rốt ráo cùng tận”, rốt ráo triệt để hiểu rõ phải là Như Lai quả địa. Nếu đối với chư Phật Như Lai chúng ta có thể tin, có thể hiểu, có thể hành, há chúng ta chẳng nhập Phật tri kiến ư? Thật đấy, sự tình nhất định phải là được chư Phật oai thần gia trì, được A Di Đà Phật bổn nguyện gia trì, được hết thảy chư Phật Như Lai viên mãn rốt ráo gia trì. “Chẳng phải cậy vào tự lực của chúng sanh trong chín pháp giới mà hòng tin hiểu được!” Đây là pháp khó tin, chúng sanh thuộc chín pháp giới nếu cậy vào tự lực để tin hiểu, dường như không thể hiểu nổi. Vì thế, quý vị có thể tin, có thể hiểu là do Phật lực gia trì, tự lực cảm, Phật lực ứng, cảm ứng đạo giao!

Ngày nay có rất nhiều đồng học chúng ta, vẫn chẳng thể chết lòng trọn ý tu pháp môn này, vọng tưởng, tạp niệm vẫn rất nhiều, là vì nguyên nhân nào? Nguyên nhân là vì ít thiện căn, ít phước đức, gặp được duyên nhưng như thế nào? Không hoàn toàn tin tưởng, chẳng thể buông xuống vạn duyên, chứng tỏ thiện căn, phước đức không đủ. Thiện căn, phước đức không đủ, có thể bổ túc. Bổ túc là duyên, quý vị có gặp được thiện tri thức chân chánh giảng kinh luận Tịnh tông cho quý vị hay không? Như đem kinh Di Đà giảng giải tỉ mỉ, như tôi đã nói, đem những cuốn Sớ Sao của Liên Trì đại sư, cuốn Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư, cuốn Viên Trung Sao của U Khê đại sư giảng kỹ [cho quý vị nghe] một lượt thì cái duyên ấy chẳng thể nghĩ bàn! Duyên ấy có thể nâng cao thiện căn, phước đức của quý vị, bổ túc những chỗ thiếu nơi thiện căn, phước đức của mình. Quý vị nghe xong, bèn bị cảm động, thật sự có thể buông xuống vạn duyên, nhất tâm xưng niệm bèn thành công. Không gặp được thiện tri thức, khổ rồi, sách của Liên Trì đại sư có sẵn đó, sách của Ngẫu Ích đại sư cũng có sẵn đó, nhưng đọc không hiểu, cũng uổng thôi!

Hiện tại, có người ngay cả loại văn tương đối rõ ràng, không sâu xa lắm là Văn Ngôn còn đọc không được thì còn có cách nào chăng? Thời kỳ Mạt Pháp còn được chín ngàn năm, đến tối hậu của thời Mạt Pháp, hết thảy kinh đều diệt tận, tối hậu đức Thế Tôn lưu lại kinh này một trăm năm. Khẳng định kinh được lưu lại ấy chính là kinh Vô Lượng Thọ và A Di Đà Kinh, tức Đại Bổn và Tiểu Bổn diệt sau cùng. Tối hậu những kinh này cũng diệt, vẫn còn một câu Phật hiệu A Di Đà Phật lưu truyền trong thế gian. Có người niệm được một tiếng, nghe thấu một tiếng, đều trồng thiện căn. Hy hữu khó gặp! Quả thật, nếu chẳng được Phật lực gia trì, chúng ta chẳng có năng lực y giáo phụng hành. Lại xem tiếp đoạn dưới.

“Một hạnh tín nguyện trì danh”, tín nguyện trì danh chính là đầy đủ ba điều kiện của pháp môn Tịnh Tông. Chân tín, nguyện thiết, ta không có mong mỏi gì khác, chỉ mong sanh về Tịnh Độ, chỉ mong thân cận Di Đà, ngoại trừ nguyện vọng đó ra, nguyện vọng gì cũng không có. Một cái nguyện ấy đã đầy đủ bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà. Tín, nguyện ấy theo như Ngẫu Ích đại sư giảng trong sách Yếu Giải, chính là phát Bồ Đề tâm, quyết định được sanh vào Tịnh Độ. Quý vị trì danh là trong tương lai vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm vị của chính mình cao hay thấp hoàn toàn do công phu trì danh sâu hay cạn. Quý vị cật lực niệm Phật, vì lẽ gì? Nhằm nâng cao ngôi sen, chứ không vì gì khác. Công phu thật sự thành thục, vãng sanh nắm chắc. Nói cách khác, lúc nào quý vị cũng có thể ra đi được, không có một tí chướng ngại gì. Lại chú tâm quan sát thế gian này còn ai có duyên phận hay không. Nếu có duyên phận, chẳng gấp đi, mong mang thêm mấy người nữa. Chú tâm quan sát thấy không duyên phận, bèn mặc lòng ra đi.

Trong Vãng Sanh Truyện cận đại, chúng tôi thấy có người đồ đệ của Đế Nhàn lão hòa thượng là Đàm Hư pháp sư. Cụ Đàm kể cho chúng ta nghe rất nhiều chuyện. Xưa kia tại chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân, pháp sư Tu Vô công phu niệm Phật thành thục, thấy không ai có duyên phận. Ngài sống trong đạo tràng, nhân vì tự mình chưa từng đọc sách, không biết chữ, làm việc nặng trong đạo tràng. Thế nhưng Sư công phu niệm Phật thành thục, nghĩ không ai tôn trọng mình, không ai tin tưởng mình, chỉ có tự mình đi, công phu đã thành thục liền lập tức ra đi. Đi rồi, mọi người mới tin tưởng, mới khâm phục, khen ngợi Sư. Nếu Sư không mất, không ai coi trọng Sư. Do vậy, Sư công phu đã thành bèn phải ra đi. Nếu trong cuộc sống quý vị tu dưỡng đạo đức, thành tựu học vấn, có rất nhiều người tôn trọng, tin tưởng, quý vị nói ra họ chịu tiếp nhận, thì khi công phu thành thục, quý vị chẳng thể đi. Là vì trong thế gian này có không ít người cùng quý vị hữu duyên. Hữu duyên thì chẳng thể đi; vô duyên thì lập tức ra đi. Như vậy, người công phu thành thục trụ thế lâu dài, chẳng do ý mình mà hoàn toàn vì duyên phận. Hữu duyên bèn trụ, duyên hết bèn đi, đó là “thừa nguyện tái lai”.

Như vậy, câu này rất trọng yếu, tín nguyện trì danh, phương pháp tu hành này “không cần phải thi vi, chuyển trọn vẹn Ngũ Trược”. Phạm vi của hai chữ “thi vi” rộng rãi vô cùng. Hết thảy hành vi thế gian, xuất thế gian đều có thể buông xuống, cũng có thể nói, pháp môn Niệm Phật này có cần các pháp môn khác hỗ trợ hay không? Không cần! Pháp thế gian hay xuất thế gian đều không cần đến, thảy đều buông xuống. “Chuyển trọn vẹn Ngũ Trược”, phần trên tôi đã nói rồi, phải có lòng tin mới có thể vào cửa, phải có lòng tin thật sự. Quý vị có lòng tin hay không thì từ trong cuộc sống thường nhật của quý vị sẽ thấy ngay. Vì sao? Quả thật tin chân thật sẽ buông xuống vạn duyên. Còn có gì chưa buông xuống được, còn có phân biệt, còn chấp thì lòng tin chưa có cội rễ, không phải tin chân thật. Chẳng thể nói là kẻ ấy không tin, cũng chẳng thể nói là có lòng tin. Vì sao không buông xuống được? Vì có nghi lự; nói cách khác, nghi tình đối với pháp môn này chưa đoạn, nên trong tín nguyện có xen tạp. Những xen tạp ấy là chướng ngại nghiêm trọng cho việc tu học pháp môn này, chướng ngại công phu chẳng thể thành phiến, không chắc được vãng sanh.

Trong tình hình đó, làm cách nào để giúp đỡ kẻ ấy? Nghe kinh, học giáo. Nghe kinh là chuyên nghe kinh sách Tịnh tông, kinh sách Tịnh tông gồm sáu loại, tức năm kinh một luận. Hoặc là chuyên nghe kinh A Di Đà, hoặc là chuyên nghe kinh Vô Lượng Thọ, như vậy mới được. Cứ nghe nhiều lần, phải nghe bao nhiêu lần? Nghe đến khi quý vị thật sự tin tưởng, nghi hoặc, nghi tình thật sự đoạn, vạn duyên buông xuống, lúc ấy mới có thể không nghe nữa. Một câu Phật hiệu niệm đến cùng cực là được, đó gọi là “chân tín”. Quý vị phải hiểu mục đích của việc nghiên cứu giáo pháp, mục đích là đoạn nghi sanh tín. Phải đầy đủ tín nguyện trì danh, cầu sanh Tịnh Độ, thật sự có thành tựu.

“Phi tư nghị sở hành cảnh giới” (cảnh giới sở hạnh chẳng thể nghĩ bàn), “phi tư nghị”“bất khả tư nghị”. Vì sao nói chẳng thể nghĩ bàn? Phần trên đã nói rồi, cảnh giới này là cảnh giới sở hành của chư Phật, niệm Phật thành Phật là cảnh giới sở hành của chư Phật. Chúng sanh trong chín pháp giới ai niệm Phật người ấy thành Phật, đó là chẳng thể nghĩ bàn! Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chịu niệm Phật, không một ai không thành Phật, đời sau thành tựu Phật pháp, đều là hoành siêu. Do vậy, Phật pháp gọi là pháp khó tin.

“Nếu không phải Bổn Sư vào trong đời ác, thị hiện đắc Bồ Đề, dùng đại trí, đại bi, thấy điều này, hành điều này, nói điều này, chúng sanh do đâu mà được bẩm thọ pháp này vậy?” Sự tình này mấy ai biết? Đừng nói là những người nghiên cứu Phật pháp không biết, nói trắng ra, người tu học Tịnh Độ, tại gia hay xuất gia, lại được mấy người biết? Thật sự là họ không biết, bởi thế công phu chẳng thể thành tựu. Công phu chẳng thể thành phiến, trong một đời này chẳng thể vãng sanh. Chứ nếu thật sự hiểu, không một ai sẽ chẳng thành tựu trong đời này. Quý vị thật sự hiểu, quý vị sẽ cảm ân! Đây là giả thiết, nếu đức Thích Ca Mâu Ni Phật (Bổn Sư là Thích Ca Mâu Ni Phật) không thị hiện trong thế gian này, nhằm đời ngũ trược ác thế này, ở trong thế gian này biểu diễn niệm Phật thành Phật, “thị hiện đắc Bồ Đề”, tức là vì chúng ta biểu diễn niệm Phật thành Phật; trong kinh Phật thường dạy chúng ta “vì người diễn nói”, Thích Ca Mâu Ni Phật tự thực hiện. Phật vì chúng ta biểu diễn, vì chúng ta thuyết minh, Ngài tu học pháp môn này, pháp môn này là Trì Danh Niệm Phật, nhất tâm bất loạn, tâm không điên đảo, chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề như vậy.

“Dùng đại trí”, trí huệ viên mãn rốt ráo, tâm từ bi triệt để thấy pháp môn này, trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, chỉ có pháp môn này thành tựu nhanh chóng nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, thành tựu cao nhất, không gì sánh bằng. Một đời viên mãn thành tựu, chẳng cần đợi đến đời thứ hai, một niệm, mười niệm đều có thể thành công. Mấu chốt ở nơi đây là quý vị phải thật sự hiểu được đạo lý này, triệt để liễu giải phương pháp chẳng thể nghĩ bàn. Thật sự buông xuống được, tôi thường nhắc đến mười sáu chữ, buông tự tư tự lợi xuống, buông danh văn, lợi dưỡng xuống, buông hưởng thụ ngũ dục lục trần xuống, buông tham - sân - si - mạn xuống, một câu Phật hiệu niệm đến cùng tột, không có một ai không thành công, không một ai không vãng sanh. Dù là vãng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, Ngẫu Ích đại sư bảo cũng là chẳng thể nghĩ bàn! Bởi lẽ Tây Phương Tịnh Độ là pháp giới bình đẳng, sanh vào Đồng Cư, là sanh vào Thật báo, là sanh vào Thường Tịch Quang! Sanh vào một là sanh vào hết thảy, mười phương các cõi Phật không tìm được cõi nào như vậy. Người vãng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ, ngày ngày nghe A Di Đà Phật răn dạy, ngày ngày cùng Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc những vị đại Bồ Tát như thế, nắm tay cùng đi. Mọi người sống cùng một chỗ, học tập cùng một chỗ, tìm đâu ra được hoàn cảnh ấy! Đúng là chẳng thể nghĩ bàn. Phật thấy những lợi ích ấy, tự bản thân Ngài làm được. Ngài nói: “Ta thấy sự lợi ích ấy”, nhưng nếu chính Ngài không làm, ắt ta hoài nghi. Thật sự thấy lợi ích ấy thì nhất định phải làm; nếu không làm, ông nói lợi ích tốt đẹp như thế, tôi nghe rồi cười hì hì, không dám tin tưởng! Thật sự làm, thật sự nói.

Bởi vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật giảng pháp môn Tịnh Độ rất nhiều lần trong suốt bốn mươi chín năm, chuyên giảng Tịnh Độ Tam Kinh. Cổ đức bảo kinh Vô Lượng Thọ không chỉ giảng một lần, kinh Vô Lượng Thọ tối thiểu phải giảng ba lần. Trong hiện tại, chúng ta thấy có năm bản dịch gốc, chú ý xem kỹ từng bản thì thấy nguyên bản của những bản dịch chắc chắn không thể chỉ là một. Nếu cùng một bản thì khi phiên dịch ra, dù người phiên dịch khác nhau cũng chỉ đại đồng tiểu dị, không thể sai biệt nhiều như vậy. Năm bản dịch gốc khác biệt nhau rất nhiều; rõ ràng nhất là số lượng các nguyện khác nhau. Trong năm bản ấy, hai bản nêu bốn mươi tám nguyện, hai bản nêu hai mươi bốn nguyện, một bản nêu ba mươi sáu nguyện. Nếu quý vị bảo là cùng từ một bản Phạn Văn dịch ra thì không thể có sai biệt như vậy được, chắc chắn không phải là một bản. Do vậy, cổ nhân nói tối thiểu phải có ba thứ nguyên bản, có ba thứ bản gốc bất đồng. Nói cách khác, Thế Tôn diễn giảng ba lần khác nhau.

Trong số đó lại còn có bảy bản dịch bị thất truyền, bảy bản dịch có khác nhau hay không ta không biết. Vì vậy, khẳng định Thích Ca Mâu Ni Phật tuyên thuyết kinh Vô Lượng Thọ nhiều lần, cả một đời giảng kinh của lão nhân gia chưa từng có hiện tượng ấy. Nhiều lần tuyên nói ắt phải hết sức trọng yếu! Đó là “nói điều này”. Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật không vì chúng ta thị hiện khuôn phép, nhiều lần tuyên thuyết, khuy