VIII. KHAI THỊ TRONG PHẬT THẤT NĂM TÂN DẬU
(đệ tử Liên Thục Mỹ kính ghi)
Tính đến nay đã là ba mươi năm mở Phật thất ở đây, mỗi lần đều phải có người giảng nói. Theo quy củ, phải thỉnh thiện tri thức trong Tịnh Ðộ Tông đến khai thị. Khai thị chẳng phải là giảng kinh, thuyết pháp, mà là nói về những điểm thật trọng yếu, phải thuyết minh điều quan trọng là làm thế nào để đạt Nhất Tâm. Chẳng đạt được Nhất Tâm thì dù có niệm Phật vạn năm cũng chẳng thành công.
Nay tôi chỉ là một gã bạch y, công phu cũng chẳng giỏi, tuy từng gặp được các bậc đại đức trong Tịnh Tông, gặp minh sư chỉ điểm, nhưng vì ngu độn, chỉ có thể dựa theo lời tổ sư giảng, dựa dẫm các ngài để giảng giải, chẳng dám xưng là giảng khai thị.
Ba mươi năm qua, ai giảng trong mỗi kỳ Phật thất? Toàn là tôi giảng. Mỗi năm, đồng tu tham gia cũ mới đều có, lời giảng cũng khác. Trong số đó, có người đã từng nghe giảng suốt ba mươi năm qua, nay lại giảng cái gì đây? Giảng nữa cũng vẫn là những lời đó. Nghe qua rồi, bạn đồng tu chẳng muốn nghe lại vì đều đã hiểu cả rồi. Thử hỏi có ai làm được chưa? Nếu chưa làm được thì có giảng vẫn là vô dụng.
Nay tôi dựa theo khai thị của tổ sư để giảng. Tổ sư dựa theo kinh điển mà kinh là từ miệng Phật nói, pháp môn đều do Phật truyền, điều gì kinh không nói thì tổ sư cũng chẳng dám tùy tiện đặt ra. Nhưng Tam Tạng kinh điển quá nhiều, phàm phu chẳng tiếp nhận hết nổi, chỉ có thể chuyên tu theo một pháp môn. Chúng ta đều tu Tịnh Ðộ nên tôi dựa theo pháp môn Tịnh Ðộ mà nói.
Có lẽ quý vị nghi hoặc sao tôi không nói thẳng vào phương pháp chứng đắc Nhất Tâm? Ðó là vì hiện tại mọi việc đều chẳng bình thường, chẳng đúng lẽ, đều suy thoái cả. Có người bảo bây giờ náo nhiệt hơn trước, sao lại bảo là suy thoái? Nói đến Nhiệt thì toàn thân mướt mồ hôi, lòng đầy phiền muộn, Náo là lộn xộn bảy tám tầng. Nói đến tu Tịnh Ðộ thì phải đắc Nhất Tâm Bất Loạn mới có thể vãng sanh, nếu náo nhiệt thì làm sao đạt Nhất Tâm được? Vì vậy mới bảo là suy thoái.
Mọi người là bạn già của tôi, đã niệm Phật ba mươi năm rồi, sau này nếu như mọi người chẳng đạt được kết quả tốt là tôi có lỗi đối với mọi người. Cổ nhân nói: “Thiên nhân ngật phạn, nhất nhân hoàn tiền” (ngàn người ăn cơm, một người trả tiền). Kết thất niệm Phật, đông người tham gia, phí tổn cũng nhiều. Nếu như chẳng có kết quả gì lại là tạo tội nghiệp, hết thảy tội lỗi người giảng khai thị phải gánh. Nếu như trong đây có một ai phát chân tâm, đạt được Nhất Tâm, sau này vãng sanh thì coi như là người ấy đã bồi hoàn phí tổn cho đạo tràng này rồi. Ngày hôm nay khác với năm ngoái, xin quý vị phải chú ý tột bực, nghĩ đến vãng sanh thì ắt sẽ niệm đến mức Nhất Tâm, đừng có ồn náo vô ích.
Chư vị tu hành hơn ba mươi năm. Cổ nhân nói: “Thuyết đắc nhất trượng, bất như hành nhất xích” (nói một trượng không bằng làm được một thước). Nói nhiều vô dụng, cần phải thật tu mới nên. Kinh điển rất nhiều, nhưng hiểu được vạn pháp chẳng bằng hiểu kỹ một pháp, bởi lẽ bất luận như thế nào cũng đều phải y theo một môn tu hành mới hòng thành công được. Dùng bất cứ câu nào trong kinh cũng đều chứng quả được, nhưng vạn câu kinh chẳng bằng một câu Phật!
Có lẽ mọi người không tin điều này, vì thường có bạn đồng tu đến hỏi tôi cần phải niệm thêm bộ kinh nào? Bộ kinh nào cũng tốt vì đều là lời Phật dạy cả. Nếu như khóa sáng mỗi ngày tụng hết cả Tam Tạng mười hai bộ kinh thì công đức rất lớn, nhưng xưa nay, ngay cả các vị tổ sư cũng chưa ai có thể niệm hết trong một buổi sáng được. Sáu chữ trong một câu Phật hiệu, tôi chỉ hiểu nổi ba chữ, hiểu biết mới được một nửa như vậy mà đã có thể giảng suốt ba mươi năm. Quý vị lợi căn nếu hiểu được bốn chữ thì ắt sẽ thành tựu.
Vì sao một câu Phật hiệu lại có hiệu quả lớn đến thế? Vì kinh do Phật nói ra, Tăng do dựa vào kinh mà có. Ðã vãng sanh rồi vẫn phải niệm Tam Bảo. Phật đứng đầu Tam Bảo. Vì vậy, hiểu được một câu Phật hiệu là thành công. Kinh Di Ðà dạy: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên để được sanh về cõi kia”. Niệm Phật là trồng thiện căn. Cây có gốc mới có thể sanh trưởng; có thiện căn thì mới có thể khai hoa, kết quả. Những điều này trước đây tôi đã giảng qua, nhưng chỉ là diễn giảng cách khác.
Ai cũng niệm kinh Di Ðà, nhưng vẫn không hiểu. Vì lẽ gì không hiểu? Là vì chưa có duyên khai ngộ. Trong Tịnh Tông cũng cần phải khai ngộ. Không khai ngộ thì là mê hoặc, điên đảo, nhưng muốn khai ngộ phải là người có phước khí. Vì thế kinh Di Ðà nói: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên”. Muốn khai ngộ thì phải tu phước.
Phước đức là gì? Kinh Di Ðà nêu ra ba mươi bảy Trợ Ðạo Phẩm, điều này khá rắc rối, không phải ai cũng làm được. Sau này, các tổ sư nói gọn lại là mười thiện nghiệp, nhưng mọi người vẫn không hiểu, nên lại phải nói pháp phương tiện là “tin sâu nhân quả”; cốt yếu là “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Thiện ác chủng loại rất nhiều. Nếu như giữ được năm giới cấm căn bản, khởi tâm làm điều gì thì hết thảy đều là vì công (chẳng tư tâm), đó là Thiện. Tâm riêng tư cuồn cuộn thì là Ác. Trừ khử ba sự ác căn bản là Tham, Sân, Si, làm gì cũng vì mọi người thì là có phước đức.
Có phước sẽ khai ngộ. Cổ nhân nói: “Phước chí tâm linh”, nghĩa là: Phước đến, tự nhiên tâm nhanh nhạy, vừa nói hiểu liền, giảng một câu hiểu đến tám, mười câu. Vô phước thì tâm chẳng linh lợi, giảng cả trăm câu còn chưa nghe hiểu được nổi một câu. Học Phật cầu cảm ứng đạo giao, cảm ứng được Phật thì gọi là “linh cảm”. Tâm hôn mê, trầm trệ làm sao cảm ứng được Phật? Dù Phật có đến tiếp dẫn vẫn chẳng chịu đi. Công phu phải tu tập hằng ngày. Tu hành chẳng trở ngại đến nghề nghiệp dù là nông, công, thương, công chức, y sĩ. Chỉ cốt sao dùng tâm Bồ Ðề làm việc thì là Thiện, phước chí tâm linh tự nhiên khai ngộ.
Ngày hôm nay kết thất là đi dự thi, lúc bình thường khéo công phu thì lúc kết thất khả dĩ đắc Nhất Tâm, chứ chẳng phải là cứ rêu rao rằng bảy ngày liền được Nhất Tâm, liễu sanh tử. Trong vòng trời đất làm gì có chuyện thuận tiện đến thế? Uống cạn một hơi chén trà còn chẳng dễ, huống là đại sự liễu sanh tử! Hoàn toàn là do thường ngày luyện tập. Tâm, Phật và chúng sanh là cùng một sự. Trọn tấm lòng đều nghĩ đến mọi người, khởi ý niệm nào cũng đều là Phật thì tâm chính là Phật. Tâm chẳng niệm Phật, tơ tưởng toàn là những điều xấu xa tạp nhạp, lộn xộn trong thế gian thì tâm là phàm phu. Thành Phật hoặc làm phàm phu đều là do tâm tạo. Tiếp theo đây, tôi sẽ giảng một bài kệ để kết thúc:
“Phật tại tâm trung mạc ngoại cầu” (Phật ở trong tâm chớ ngoại cầu): Phật ở ngay trong tâm quý vị, thành Phật hay thành chúng sanh đều là do chính quý vị mà thôi. Tìm cầu đức Phật bên ngoài là lầm lẫn. Câu này nói về thiện căn, câu tiếp theo nói về phước đức.
“Tham sân phóng hạ thị chân tu” (tham, sân buông bỏ ấy chân tu): Tham, Sân, Si là ba phiền não căn bản. Chẳng buông bỏ được chúng để tu hành đúng như lời dạy thì chính là nói dối người. Nếu như buông bỏ được chúng thì mới là chân chánh tu hành.
“Niên quang tam thập nãi như cựu” (Ba mươi năm rồi vẫn như cũ): Phật thất tổ chức ở đây đã ba mươi năm rồi, tôi cũng đã đến giảng cả ba mươi năm. Mười năm đầu, người thành tựu chẳng ít. Mười năm kế giảm bớt. Mười năm sau chẳng được như trước. Năm nay tuy có ba người hiện tướng lành vãng sanh, nhưng nói chung là mỗi năm lại kém hơn năm trước, vẫn là y như cũ chẳng tiến bộ gì. Sau này ai lại đến giảng trong ba mươi năm nữa đây?
“Thế Chí, Quán Âm đại phát sầu” (Thế Chí, Quan Âm cũng phát rầu): Chúng ta niệm Phật tệ hại như vậy, chẳng phải chỉ mình Phật A Di Ðà không cao hứng mà cả Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí cũng phải buồn giùm quý vị. Mỗi cá nhân quý vị tu tập sao đây? Nếu chẳng khéo tu tập thì thuyền từ phổ độ của Quán Âm Bồ Tát cũng chẳng độ được quý vị. Thế Chí Bồ Tát dạy quý vị nhớ Phật, niệm Phật, tịnh niệm tiếp nối, quý vị cũng chẳng nghe. Hai vị Bồ Tát phải buồn thay cho quý vị. Các Ngài buồn chuyện gì? Các Ngài thấy mình có lỗi đối với Phật A Di Ðà, dạy học sinh thế nào mà chẳng thành công chi hết? Hôm nay là thánh đản đức A Di Ðà, các Ngài không có cách nào bái thọ Phật A Di Ðà được hoàn toàn là do lỗi của bọn ta.
IX. LỜI TRẦN TÌNH CỦA CỤ TUYẾT TĂNG (3) NHÂN DỊP PHẬT THẤT NĂM NHÂM TUẤT
Kết Phật thất tại đây đã hơn ba mươi năm. Mỗi lần kết thất, học nhân đều đến đây giảng. Thoạt đầu, mỗi ngày giảng một lượt, đem những sở học về phương pháp Niệm Phật của chính mình cống hiến cho mọi người, còn hai chữ “khai thị” chẳng đảm đương nổi. Ba mươi năm qua, tôi đã nói rất nhiều về pháp môn này cũng như cách niệm Phật, đều là bàn về những kinh nghiệm của cổ nhân, chỉ cần chọn lấy một điều để thực hành thì sẽ có thể thành công.
Hiện tại chính là thời kỳ Mạt Pháp. Tu các pháp môn khác đều phải cậy vào tự lực để đoạn Hoặc, chứng chân. Muốn đắc tiểu quả A La Hán cũng phải cả ngàn năm, vạn năm, thật chẳng dễ thực hiện được. Chỉ có mỗi Tịnh Ðộ là pháp môn Nhị Lực, tự lực chẳng đủ thì Phật lực đến gia bị. Ðiểm đặc biệt nhất là chẳng cần đoạn Hoặc, vẫn có thể cảm ứng đạo giao, lúc lâm chung Phật liền đến tiếp dẫn, được vãng sanh là thành tựu. Pháp môn này thành tựu ngay trong đời này, nhưng điều khẩn yếu là “cảm ứng đạo giao”.
Nếu chẳng cảm ứng đạo thì chẳng thể thành tựu. Vì sao chẳng cảm ứng? A Di Ðà như vầng trăng rạng ngời trên không, tâm người niệm Phật giống như nước. Nước phải trong lặng thì vầng nguyệt mới soi bóng được. Ðấy là cảm ứng; có vậy thì mới có thể tiếp dẫn vãng sanh. Nếu tâm chẳng thanh tịnh giống như nước đục ngầu, vầng trăng chẳng hiện bóng được. Ðấy chính là chẳng cảm ứng, dù A Di Ðà Phật ở ngay trước mắt cũng chẳng vãng sanh được.
Làm thế nào để cảm ứng? Ðấy chính là điểm khác nhau giữa kết thất niệm Phật và niệm Phật ở nhà. Ðến đây rồi thì tâm gì cũng buông xuống hết, một lòng niệm Phật, ở nhà đâu có làm như vậy được. Kinh Di Ðà chuyên giảng về chấp trì danh hiệu, sáu chữ hay bốn chữ Phật hiệu, một ngày, hai ngày hoặc là bảy ngày, chỉ mong sao có ngày niệm đến Nhất Tâm, tâm thủy lặng trong, cùng Phật cảm ứng, đấy mới kể là thành tựu, lúc lâm chung mới bảo đảm. Nếu chẳng làm được như vậy thì kết thất cũng uổng công, khác gì niệm Phật tại nhà đâu.
Nói đến Nhất Tâm thì trong ngàn vạn người khó có được một ai hiểu rõ. Chẳng hiểu thì sao mà làm được? Dù có làm được cũng sợ là chẳng biết [mình có thể làm được]. Vậy thì làm sao đây? Ðạo lý này, tôi là kẻ phàm phu hoàn toàn chẳng biết gì. Tuy nhiên, trong Phật thất chẳng thể giảng kinh nên tôi chỉ dựa theo nghĩa kinh và lời giảng giải của chư tổ sư để trình bày cùng quý vị.
Kinh Di Ðà nói: “Nhất Tâm Bất Loạn”, thế nào là Nhất Tâm? Lời tục nói: “Tâm vô nhị dụng”. Dụng tâm là khởi ý niệm tính làm chuyện gì đó. “Vô nhị” nghĩa là khi ý niệm phát ra ngoài thì giống như vết kim đâm rất nhỏ, chỉ có thể lọt qua một sự, chứ hai sự chẳng lọt được. Khi ý niệm đi vào trong tâm cũng giống hệt vậy. Chỉ có một ý niệm lọt vào được nhưng rất nhanh, rất nhỏ. Trong khoảng khảy ngón tay, có sáu mươi sát na. Mỗi sát na có 110 ý niệm, toàn là do nơi mình giác ngộ. Hễ giác ngộ thì sẽ khéo làm được. Các tông khác chẳng cho phép khởi ý niệm, mà phải đạt đến vô niệm, rất là khó. Tịnh tông chẳng sợ khởi niệm, chỉ sợ hay biết chậm. Càng khởi càng niệm. Niệm gì? Niệm A Di Ðà Phật. A Di Ðà mà ngừng một chút thì ý niệm xấu bèn hiện lên ngay. Nếu “tâm vô nhị dụng” (tâm không khởi lên ý niệm nào khác) thì mỗi niệm khởi lên đều là A Di Ðà Phật, cũng không niệm điều gì khác. Ðó chính là Nhất Tâm.
Lâm chung Phật đến tiếp dẫn. Tiếp dẫn cái gì? Chẳng phải tiếp dẫn cái túi da thối tha này, cũng chẳng tiếp dẫn vọng niệm, mà là tiếp dẫn cái tâm niệm Phật. Vừa mới khởi vọng niệm liền tạo thành chướng ngại, dù Phật ở ngay trước mắt cũng vẫn có chướng ngại. Tâm mình cùng Phật quang chẳng chiếu rọi lẫn nhau được nên chẳng thể cảm ứng đạo giao, nên chẳng phát sanh hiệu lực. Vì vậy phải niệm cho đến Nhất Tâm. Lâm chung “tâm chẳng điên đảo” thì liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà.
Ðến đây kết thất niệm Phật mà chẳng hiểu rõ đạo lý này thì có khác gì niệm Phật ở nhà. Nếu như ở nơi đây, tuy miệng niệm Phật, nhưng tâm vẫn nghĩ đến chuyện khác thì hỏng rồi. Ngay trong lúc niệm Phật, tâm vừa nghĩ tưởng đến phú quý liền chẳng thể ra khỏi lục đạo, luân hồi, thân sau sẽ sanh lên trời. Hễ nghĩ đến gia đình thì gia đình chẳng phải là Tây Phương, tương lai sẽ lại làm người. Vừa nghĩ đến mình hay hơn người khác, ôm lòng ngã mạn, thân sau chỉ e vào trong đường Tu La. Nếu một mặt niệm Phật, một mặt vẫn sanh khởi ba độc Tham, Sân, Si thì tương lai sẽ đọa làm hung thần. Nếu lại tham đắm thức ăn thì thân sau đọa làm loài quỷ đa tài (4). Nếu lúc niệm hôn trầm mà chẳng hay biết thì tương lai sẽ đọa vào súc sanh. Nói chung đều là tương ứng với lục đạo, chẳng đến được Tây Phương.
Nhưng người niệm Phật do công đức niệm Phật chẳng đọa địa ngục, chẳng biến thành ngạ quỷ, chẳng làm thân súc sanh hạ đẳng. Dù sanh trong bất cứ loài nào cũng đều hưởng phước, nhưng đến đời thứ ba, do lúc chuyển thân, thần thức bị mê, công đức niệm Phật chẳng thể hiện hành, chỉ e lại bị đọa lạc rồi thọ tội.
Vì thế, ở nơi này niệm Phật, phải nên buông xuống hết thảy, khi niệm sáu chữ hoặc bốn chữ hồng danh phải từ trong tâm phát khởi, tai nghe cho rõ ràng, minh bạch, lại in vào trong tâm, đi ra, trở vào, niệm sao cho thành một mối, nhưng chỉ có loạn tâm là chưa buông xuống được. Ðến khi Phật thất kết thúc, chẳng phải là về đến nhà liền được vãng sanh đâu. Ở nhà lâu ngày, sáng tối niệm Phật chừng hai tiếng đồng hồ, loạn tâm lại xuất hiện thì cũng vô dụng. Vì thế phải gìn giữ “tịnh niệm tiếp nối”. Ở đây làm như thế nào thì về đến nhà cũng phải làm giống hệt vậy, tiếp tục chẳng gián đoạn thì mới thành công được.
Tôi chỉ giảng đến đây, phải nhớ kỹ mới bảo đảm được. Tiếp đây, tôi nói một bài kệ để kết thúc:
“Ưng tri tán loạn niệm Di Ðà”: Mọi người phải biết: Nếu tâm tán loạn chẳng làm gì được nổi, cứ niệm Phật như thế thì sẽ ra sao?
“Không phí công phu nan giải thoát”: Công phu uổng phí, chỉ được phước báo, chẳng thể vãng sanh, vẫn ở trong lục đạo luân hồi, rất khó giải thoát.
“Nhân sanh thọ mạng hô hấp gian”: A, cứ tà tà mà niệm thì sao? Tà tà không được. Kinh dạy: “Mạng người trong hơi thở”. Một hơi thở ra không trở lại thì liền thành đời sau, chớ tu hành lơ là.
“Nhất thất cơ duyên khổ vạn kiếp”: Hiện tại, cơ duyên rất hiếm. Hễ bỏ lỡ cơ hội, nhân duyên ắt sẽ thọ khổ. Thọ khổ như thế nào? Luân chuyển trong lục đạo, khó ra được nổi. Ngàn kiếp, vạn kiếp mới có lại được thân người. Tám ngàn năm sau là thời kỳ pháp diệt, chẳng còn có Phật pháp, khác nào Bắc Câu Lô Châu, khó được giải thoát. Tám ngàn năm là còn sớm đấy. Người thọ trăm tuổi, khi thọ báo hết chẳng vãng sanh Tây Phương, sẽ sanh về chỗ tốt đẹp trên trời. Tầng trời thứ nhất là Tứ Vương Thiên, thọ mạng năm trăm năm. Một ngày đêm trên trời đó bằng năm mươi năm dưới thế. Ở trên trời hưởng mấy vạn năm phước trời, khi đọa xuống nhằm thời kỳ Pháp Diệt, chẳng có Phật pháp, sống sống chết chết chẳng hề được nghe Phật Pháp, chẳng ra khỏi tam ác đạo nổi, thọ khổ vạn kiếp.
(Ðệ tử Hoàng Khiết Di kính ghi)
Người trong cõi đời, từ xưa không ai tránh khỏi một lần chết. Dù là bậc thế gian thánh nhân, đến lúc vẫn cứ phải chết như thế. Chỉ có bậc thánh nhân xuất ly thế gian mới giải quyết được vấn đề sanh tử. Nhưng Ðức Phật cũng chẳng thể ngay trong một đời liền thành Phật, mà phải do tu hành từng bước mới chứng được Phật Quả. Cho nên nói: “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng đắc”. Vì thế, quý vị phải tin là ai cũng phải chết, chỉ sợ “chết không được thôi!” vì sau khi chết đi, ắt sẽ luân hồi trong lục đạo, nhưng trong sáu đường, khó đạt được cõi trời, người, đọa lạc trong tam đồ thì khổ chẳng thể nói xiết.
Duy Thức Tông lập ra cái gọi là “Tam Lượng”. Chữ Lượng có nghĩa là “phân thốn” (phân, tấc, ý nói đo đạc), “đong” hoặc “cân”. Vật phẩm phải dùng cái cân để cân lường thì mới có tiêu chuẩn làm cơ sở để xác định. Còn như trong việc phân biện giữa các giáo thì lấy gì để chiết trung (chọn lọc lấy những điểm hay, đúng)? Phải dùng Thánh Ngôn Lượng, tức là phải dùng lời Phật dạy làm tiêu chuẩn để đo lường. Có đáp án chánh xác như thế thì tu hành mới có cơ sở để dựa vào. Bây giờ so sánh xem chuyện tu Tịnh Ðộ của mọi người là đúng pháp hay chẳng đúng pháp. Nếu tu đúng pháp thì là Tịnh Ðộ Tông, tu chẳng đúng pháp thì là “loạn ty vô đầu” (tơ rối tung không thấy đầu mối).
Chúng ta là đạo tràng Tịnh Ðộ, phải nghĩ kỹ đến tận cùng chữ Tịnh. Người tu hành chẳng đến đạo tràng để cầu náo nhiệt, mà là cầu công đức và thiện căn. Một câu A Di Ðà Phật là thiện căn lớn nhất. Chỉ cần quý vị niệm đến tâm tịnh thì là sống trong Tịnh Ðộ. Nếu trong tâm chẳng tịnh, loạn tạp lung tung thì chính là “loạn ty vô đầu” như trên đã nói. Tâm loạn như vậy thì lúc thế này, lúc thế khác, chẳng thể đạt được lợi ích chân thật.
Vì thế tham dự Phật thất cầu Nhất Tâm Bất Loạn thì phải niệm niệm đặt nơi Phật hiệu, có vậy mới có thể vãng sanh. Nếu không, suốt ngày niệm kinh này, niệm kinh kia, không có chút trình tự tu tập nào thì chính là “loạn ty vô đầu”. Nếu quý vị thật sự tin tưởng vào sáu chữ hồng danh thì mới chứng được quả vị. Chẳng tin thì dù có niệm rách họng cũng uổng công!
Cầu Nhất Tâm Bất Loạn chính là Thánh Ngôn Lượng từ kim khẩu của Phật, là điểm trọng yếu của Tịnh Tông, có vậy mới có thể đới nghiệp vãng sanh. Nghiệp là nghiệp lực, nghiệp do mình tạo thì thân mình phải mang lấy, đó chính là phiền não. Chỉ cần chế phục được phiền não thì sẽ được vãng sanh, đoạn sạch sanh tử thì mới gọi là Niết Bàn. Ðấy đều là những điều Phật dạy. Nếu hoài nghi lời Phật dạy, cho là sai lầm thì còn học Phật để làm gì?
Tiếp đây, tôi giảng một bài kệ để kết thúc:
Lục tự dĩ ngoại giai phi nhất,
Nan dữ Di Ðà cảm ứng thời
Thánh lượng thị Phật thân khẩu thuyết,
Nguyện nhữ khoái đao đoạn loạn ty!
(Tạm dịch theo ý:
Mình danh hiệu Phật là thuần nhất,
Niệm Phật tán loạn khó cảm thông,
Thánh lượng chính miệng đức Phật dạy,
Mau dùng dao bén chặt tơ rối)
“Lục tự” là “nam mô A Di Ðà Phật”. Ngoại trừ niệm sáu chữ này ra, tất cả những thứ khác đều chẳng thuần nhất. Nếu quý vị niệm Phật nhưng tâm mơ tưởng chuyện khác thì sao? Tâm chẳng trụ vào sáu chữ hồng danh sẽ khó cảm ứng Phật. Chữ “loạn ty vô đầu” là tiếng cổ, là Thánh Ngôn Lượng. Một cục tơ rối, không hề có đầu mối gì hết, gỡ bao giờ mới xong? Xin quý vị cầm con dao bén chặt ngay cho nó đứt đôi ra, tức là Nhất Tâm rồi, chẳng còn loạn nữa.
Kinh Di Ðà nói rõ thế giới Cực Lạc được trang nghiêm bởi vàng, bạc, lưu ly, xích châu, mã não... Ðấy đều là lời Phật nói. Nếu quý vị không tin, chỉ thích nói là đất phủ cỏ xanh thì cứ việc tùy tiện. Ðã tin vào Tịnh Ðộ Tông rồi thì phải biết điều tối khẩn yếu hoàn toàn là sáu chữ hồng danh. Ðừng có nói sáu chữ này nông cạn. Nếu thật sự là kẻ giải ngộ sâu xa thì thấy sáu chữ ấy sâu xa, giải ngộ nông cạn sẽ thấy là nông cạn, hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi người thôi! Các đồng tu hãy mau cầu Nhất Tâm, dao bén chặt tơ rối, lời Phật chẳng dối đâu!
XI. KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM ẤT SỬU
(Ðệ tử Ngô Bích Hà kính ghi)
* Dốc lòng trừ mạn chướng, thiết tha cầu Nhất Tâm
Thưa các vị lão sư, các vị đồng tu.
Hôm nay tôi đến đây giảng, trước hết thanh minh một điều: Tôi hoàn toàn không đến đây để giảng khai thị. Hai chữ “khai thị” tôi đảm đương chẳng nổi, tôi chỉ đem những kinh nghiệm của chính mình ra bàn bạc để người này, người kia tham khảo mà thôi.
Tiếp đến, thanh minh một câu nữa: trong lúc ngồi giảng ở đây, xin miễn hết thảy những khách sáo thế tục, chỉ nghiên cứu “Nhất Tâm Bất Loạn”. Người giảng, người nghe đều lấy “Nhất Tâm Bất Loạn” làm mục tiêu. Nếu không, bị phân tâm một phần thì chẳng phù hợp với Phật thất vậy. Xin quý vị nhiếp tâm, tâm không nghĩ gì khác lắng nghe!
Luận về “Nhất Tâm” thì đây là một đạo tràng đã lâu, hẳn quý vị hiểu rồi. Ðã hiểu rồi thì xin hỏi một câu: “Quý vị đạt được hay chưa?” Hơn ba mươi năm qua, có vị nào đạt được Nhất Tâm Bất Loạn chưa? Nếu như năm nào cũng dự Phật thất nhưng năm nào cũng tán loạn thì có phải là dự Phật thất trở thành chuyện phù phiếm hay sao? Thế nhưng, người học Phật làm gì cũng phải chân thật. Bài kệ khai kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Việc hư dối thì có làm cũng vô ích. Ðã vậy thì quý vị ắt sẽ tự hỏi: “Niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn trọn chẳng hề có ư?”
Tôi chẳng rõ là trong số quý vị, hoàn toàn không có một ai làm được chăng? Ngược lại, tự hỏi mình trước. Với tôi thì Nhất Tâm Bất Loạn có thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian ngắn sẽ đạt Nhất Tâm Bất Loạn. Nói như vậy ít nhiều đã có “cống cao, ngã mạn”, tự mình khoa trương. Tiếp đây, chúng ta sẽ bàn về “cống cao, ngã mạn”. Trong ba mươi năm qua, tại nơi đây, dự Phật thất, tôi giảng qua vấn đề này chẳng biết là đã bao nhiêu lần, nhưng giảng rất nông cạn. Quý vị trong tâm ngầm coi thường, nghĩ rằng: “Ông không cần phải nói, những chuyện đó tôi từng nghe qua rồi!” Quý vị ơi! Khó biết được chuyện nào mình đã thật sự nghe qua lắm đấy! Nếu còn giữ tâm như vậy thì chẳng đắc Nhất Tâm, mà là được cống cao, ngã mạn, vẫn còn là phiền não. Nói như vậy nghĩa là sao?
Quý vị nghe kinh cũng nhiều, xem kinh chẳng ít, đáng coi là bậc đa văn, nhưng chỉ hiểu được về mặt văn tự, chứ xét về mặt công phu chân thực thì chẳng đáng bàn tới. Luận đến chân lý “tâm, Phật, chúng sanh bình đẳng bất nhị”, quý vị đã hiểu được đạo lý này hay chưa? Nói đến Phật thì chưa từng thấy qua. Nói đến chúng sanh thì mọi người đều nghĩ là mình đã từng thấy qua chỉ vì trong tâm nghĩ như thế này: “Người khác là chúng sanh, còn mình chẳng phải”. Ðấy là cống cao, ngã mạn. Học như vậy thì chỉ học được phiền não, làm sao chúng ta luôn thấy “Phật, tâm, chúng sanh là bình đẳng” cho được? Quý vị bề ngoài bình đẳng nhưng trong tâm đa số chẳng bình đẳng. Ðấy chính là đại phiền não!
Bàn đến phiền não thì trong trăm pháp, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Bất Chánh Kiến thuộc về căn bản phiền não. Ngoài ra còn có trần sa phiền não, căn bản vô minh. Ba loại này đều là bịnh ai nấy đều có, ai nấy chẳng tự hay. Càng học Phật, niệm kinh chẳng tự biết, phiền não càng nặng đều là do quan niệm “tôi xem sách hoặc nghiên cứu kinh chẳng ít”. Nhưng kinh giống như thuốc. Nếu như uống lầm thuốc chẳng đúng bệnh, rốt cuộc có lợi ích chi? Vì thế, chúng ta chẳng thể thành tựu chính là do cống cao, ngã mạn. Tôi chẳng nói đến những việc khác bởi chính cống cao, ngã mạn khiến cho mọi người sau này thoái chuyển, làm sao còn bàn đến chuyện đắc Nhất Tâm Bất Loạn được nữa?
Nói như vậy thì phải trừ khử cách nào mới nên? Phải “trong tâm thật sự trống không, một niệm chẳng khởi”. Ðấy là chân lý. Nguyên lai bổn tánh là bất động, hễ động thì gọi tên khác là Tâm. Chúng ta chẳng thường hay nói là “khởi tâm động niệm” đó sao? Khởi tâm chính là khởi lên ý niệm. Một ý niệm vừa khởi lên bèn có mục tiêu nên sẽ tạo nghiệp. Tạo nghiệp sẽ phải lãnh quả báo. Thiện nghiệp thì thiện báo, ác nghiệp thì ác báo. Các báo thiện, ác lại chẳng thể triệt tiêu lẫn nhau, làm gì phải chịu báo nấy. Giống như nay chúng ta được báo ứng, so với ba ác đạo thì vẫn còn khá hơn. Tuy vậy, chúng sanh gồm có cửu giới (5), nhân loại chỉ là một trong chín giới đó, vẫn chỉ là tạm thời ngoi đầu lên trên biển khổ mà thôi. Vẫn là nhiều đời, nhiều kiếp đến nay, chẳng biết mấy khi làm lành, tạm hưởng được thiện báo.
Nói đến thiện báo thì phải có được thân người thì mới có thể giải thoát. Nếu chẳng được thân người thì đừng nói chi đến chuyện hiểu Phật pháp, ngay cả chuyện hiểu thông suốt những ngôn ngữ bình thường đã khó khăn rồi: chim có tiếng chim, thú có tiếng thú. Nói đến thiện báo được làm thân người thì xét đến cùng là do tạo nghiệp nào mà được, chỉ sợ chúng ta đều chẳng tự biết vậy.
Nói chung, từ vô thỉ kiếp cho đến hiện tại, chúng ta tạo nghiệp, lãnh báo, một bề biến hóa không ngừng, vậy thì hiện tại chúng ta phải nên làm gì? Trước khi xét đoán phương pháp, chúng tôi xin minh định trước: Hễ có thân là phải có khổ. Nếu không có cái thân tứ đại giả hợp này thì không có chỗ nào để thọ khổ cả. Muốn tiêu tội nghiệp thì phải bắt đầu từ đầu nguồn. Ðầu nguồn chính là Tâm. Tâm không có hình dáng nhưng lại chính là nguyên động lực lôi kéo chúng ta luân lạc sanh tử. Chúng ta khởi tâm động niệm bèn tạo nghiệp, nhiều đời nhiều kiếp chồng chất chẳng biết là bao nhiêu.
Trong kinh dạy: “Nếu như ác nghiệp có thể tướng thì trọn cõi hư không chẳng thể chứa đựng nổi”. Nghiệp nhiều như thế đấy. Chẳng cần nói đến kẻ không siêng niệm Phật; đối với người khéo niệm Phật, có phải là sẽ tiêu sạch được ác nghiệp từ trần sa kiếp chăng? Chỉ e rằng chẳng đơn giản như vậy. Ví như vầng Thái Dương chiếu xuống tuyết, tuyết tan thành nước. Thế sao tuyết đọng trên Tuyết Sơn suốt năm chẳng tan? Nào có phải là mặt trời chẳng rọi xuống Tuyết Sơn đâu! Lời tục nói: “Băng đóng ba thước, chẳng phải là trời lạnh một ngày”. Chỉ đơn độc cậy vào sức mình, làm sao đạt được “tâm không?” Làm sao tiêu trừ tội nghiệp được? Nói như thế thì nhất định phải nhờ cậy [sức Phật]. Ðấy chính là Nhị Lực.
Ðiều thứ hai là chữ Nhị Lực chẳng phải chỉ nói về hai lực ấy, mà còn hàm chỉ nhiều thứ. Chẳng hạn như trong đạo tràng này có rất nhiều người, nhưng ta cũng có thể nói là có hai loại người. Một là giảng, hai là nghe. Vì thế chỉ nói “hai” nhưng đã bao gồm người giảng, người phiên dịch, người nghe, người lo liệu công việc... biết bao là thứ. Vì thế chữ “Nhị” còn hàm ý “rất nhiều”.
Trong kinh A Di Ðà, mười phương chư Phật đều nói: “Chúng sanh các người đều nên tin vào kinh Khen Ngợi Công Ðức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Ðược Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”. Phật nói với Bồ Tát, Bồ Tát lại đem lời ấy tuyên thuyết, lần lượt lan truyền rộng rãi như thế trùng trùng vô tận, rốt ráo chẳng hề có kết thúc. Quý vị nghĩ xem, nghĩ đến cùng là nhiều hay không nhiều vậy? Vì thế, sức của ác nghiệp cố nhiên là to, nhưng sức của mười phương chư Phật cũng rất to. Do mười phương Phật đến giúp ta tiêu nghiệp thì sợ gì chẳng thành tựu cơ chứ?
Kinh A Di Ðà dạy: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh này mà thọ trì và nghe danh hiệu chư Phật thì các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm”. “Niệm” có nghĩa là trong tâm Phật có mình. Tâm Ngài đã có mình thì nếu mình có chuyện gì, các Ngài sẽ đến giúp cho. Ðấy là “Hộ”. Nói như vậy có phải là chúng ta cứ ngồi chờ Phật đến rước chăng?
Phật giáo Nhật Bản có một tông phái mệnh danh là Chân Tông chuyên giảng về nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của Phật A Di Ðà, cho rằng chỉ cần tin vào Phật thì Phật sẽ đến tiếp dẫn vãng sanh. Thật ra làm gì tiện lợi như vậy! Cầu Phật đến tiếp dẫn phải có đủ Tín - Nguyện - Hạnh mới cảm ứng được!
Thế nào là Cảm Ứng? Giống như quý vị niệm Phật ở nơi đây (không phải là xướng Phật) thì Niệm chính là Tâm của quý vị, tâm quý vị khởi niệm nơi Phật thì Phật hộ niệm quý vị. Hai bên hòa hợp, đó là Cảm Ứng. Nhưng niệm Ðức Phật nào? Niệm A Di Ðà Phật. Nếu một mặt vừa niệm Phật A Di Ðà, một mặt lại niệm Phật Dược Sư, tự cho rằng “đằng nào cũng là niệm Phật” thì lại là lầm mất rồi, sẽ chẳng được cảm ứng.
Quý vị xem đây: hai bàn tay tôi vỗ vào nhau phát ra tiếng. Ðấy là một loại âm thanh. Dùng tay vỗ lên bàn thì lại là một loại âm thanh khác. Hai loại khác nhau. Vì thế, đức Thích Ca Mâu Ni Phật dạy quý vị niệm A Di Ðà Phật thì quý vị niệm A Di Ðà Phật, chỉ nên tuân theo Thánh Lượng thì mới được lợi ích!
Tiếp đây, tôi đem các phương pháp dạy niệm Phật của chư Tổ Sư tặng cho quý vị. Nếu thật có thể hành đúng như pháp thì sẽ có thể chế phục Hoặc, đạt được Giả Nhất Tâm (Nhất Tâm có hai loại: Lý Nhất Tâm là chân lý, Sự Nhất Tâm thuộc về tướng trạng bên ngoài, là phương tiện. Vì thế, Sự Nhất Tâm còn được gọi là Giả Nhất Tâm), sau rồi sẽ được vãng sanh.
“Niệm Phật bất tất cầu đa niệm”: Niệm Phật chẳng cần phải niệm cho thật nhiều.
“Ðản niệm bát bách tâm bất loạn”: Niệm một xâu chuỗi 108 tiếng sao cho dù một chữ cũng chẳng loạn.
“Kỳ trung trước hữu nhất niệm sai”: Trong 108 câu niệm ấy, nếu như có một câu niệm lầm lẫn.
“Trạo chuyển châu đầu đô bất toán”: Những câu niệm từ đầu xâu chuỗi tính đến câu sai ấy đều không tính nữa. Câu này rất khẩn thiết. Có một điểm cần phải chú ý là: “Tự niệm, tự nghe”. Lúc niệm phải niệm sao cho rõ ràng, tách bạch. Lúc nghe cũng phải nghe sao cho phân minh, rành rẽ. Hễ niệm sai một câu thì phải niệm lại từ đầu. Lúc quý vị thực hành công khóa chánh, nên làm theo đúng phương pháp đã dạy trong bài kệ này để hòng cầu được “Nhất Tâm Bất Loạn”. Còn như lúc tán niệm (niệm Phật ngoài thời công khóa chánh) thì có thể tùy duyên.
Hiểu rõ những điều trên đây rồi thì không cần phải mất công nói nhiều nữa, cứ chiếu theo đó mà làm là được. Tiếp đây, tôi dùng một bài kệ để tổng kết lại:
“Vạn pháp tinh hoa lục tự bao,
Thánh ngôn chân lượng bạt tâm mao,
Trì danh dung dị nan trừ mạn,
Vô giá bảo châu tùng thử phao”
“Vạn pháp tinh hoa lục tự bao”: Phật pháp vô biên, Trung Quốc gọi là Tam Tạng (nhưng thật ra còn rất nhiều kinh chưa được phiên dịch [sang tiếng Hán]), gọi chung là “vạn pháp”. Chữ “tinh hoa” chỉ tinh thần chân chánh [của vạn pháp], cũng có nghĩa là những lời trọng yếu. Chỉ niệm sáu chữ là đã bao quát cả Tam Tạng 12 bộ kinh, cũng có thể nói là đã hiểu được Tam Tạng mười hai bộ kinh rồi thì mới hiểu được sáu chữ “nam mô A Di Ðà Phật”. Nếu chẳng thể niệm hết toàn bộ kinh tạng thì niệm sáu chữ cũng giống như niệm hết toàn bộ kinh tạng vậy.
“Thánh ngôn chân lượng bạt tâm mao”: Vì sao nói là sáu chữ bao gồm trọn vẹn Tam Tạng? Quý vị phải chân chánh dốc lòng niệm sáu chữ này, tâm chẳng chạy theo bên ngoài thì sẽ mau chóng được khai ngộ. Thế nhưng, quý vị đã khai ngộ chưa? Chưa. Vì sao chưa? Là vì tâm nhãn quý vị bị cỏ tranh (mao thảo) che lấp cho nên chẳng thể mở ra được. Hiện tại, ta tuân theo Thánh Ngôn niệm sáu chữ này chính là nhổ bật cỏ tranh che lấp để tâm nhãn được rộng mở.
“Trì danh dung dị, nan trừ mạn”: Chữ “danh” chỉ danh hiệu A Di Ðà Phật. “Trì” là nắm giữ, chẳng buông bỏ, mà cũng là niệm. So với niệm kinh, trì danh dễ dàng hơn, nhưng vẫn có chỗ khó khăn. Tức là còn cống cao, ngã mạn, tự cho rằng: “Tôi làm rồi, tôi hiểu rồi”. Hễ có cái căn bản phiền não này thì sẽ chẳng thành tựu. Học Phật thì bước thứ nhất là Vô Ngã. Có Ngã thì cũng vãng sanh, nhưng tiếc là vãng sanh trong lục đạo, vĩnh viễn chẳng giải thoát. Vì thế, muốn được giải thoát thì trước hết phải trừ Ngã Mạn. Trừ bằng cách nào? Nhà Phật có nói đến Lục Hòa Hợp, hết thảy đều bình đẳng. Nhưng Ngã Mạn rất khó trừ.
“Vô giá bảo châu tùng thử phao”: Nếu chẳng trừ Ngã Mạn thì khác nào xem thường ném bảo châu vô giá Tam Bảo đi.
Ở nơi này, chư vị hãy thử thí nghiệm phương pháp vừa nói trên đây, hết thảy đều buông xuống hết, chỉ cầu Nhất Tâm thôi!
XII. KHAI THỊ PHẬT THẤT NĂM CANH THÂN TẠI CHÙA LINH SƠN
(Ðệ tử Hoàng Vịnh kính ghi)
Thưa chư vị lão sư, chư vị đồng tu.
Phật thất chùa Linh Sơn đã được duy trì hơn ba mươi năm, mỗi năm tôi đều tham gia. Trước kia, lúc Chính Phủ chưa đến Ðài Loan, Phật giáo tỉnh này vẫn còn chưa phát triển. Dù có chùa, miếu, nhưng đại đa số chỉ để tự tu, chẳng chú ý mấy đến việc hoằng pháp lợi sanh. Những việc hoằng pháp lợi sanh như Phật thất v.v... thực sự do chùa này khởi xướng. Lần Phật thất này, những bạn đồng tu mới nhiều hơn cựu đồng tu. Lời giảng của tôi khó thể thích hợp với các loại căn cơ. Vì thế lần giảng này dựa trên nguyên tắc cốt sao cho các bạn tân đồng tu hiểu được, mong các cựu đồng tu từ bi tùy duyên nghe giảng.
Phật thất ở nơi này là Phật thất của Tịnh Ðộ Tông. Nói đến Tịnh Ðộ tông thì ai ai cũng biết cả vì nó quá phổ biến, nhưng thực sự thì rất ít người hiểu rõ nội dung Tịnh Ðộ tông. Chẳng phải chỉ người ngoài không biết, ngay cả trong cửa Phật, những người hiểu rõ Tịnh Ðộ tông cũng chẳng nhiều. Thậm chí người đang tu Tịnh Ðộ tông cũng chẳng hiểu rõ lắm! Ở đây, tôi phải thanh minh trước: hôm nay, tôi không đến đây để khai thị mà chỉ đến trò chuyện. Vì người hiểu đúng Tịnh Ðộ tông quá ít, nên tôi chỉ tường trình lại theo đúng kinh điển, lời giảng của chư Tổ mà thôi.
Tại gia tu hành công phu chẳng thể rốt ráo hoàn toàn, người xuất gia khéo tu tập có thể chứng được Tứ Quả A La Hán. Ở đây, tôi chẳng bàn đến người tại gia. Muốn chứng Tứ Quả A La Hán phải trải qua một thời gian lâu chừng mấy ngàn năm. Luận về người đời sau sẽ chứng được Sơ Quả thì trong mười vạn người chẳng dễ tìm được một người. Dù có chứng quả A La Hán đi nữa thì cũng chỉ hiểu được phương pháp để chứng quả La Hán, chứ đối với pháp môn Tịnh Ðộ cũng chẳng thể hiểu được dễ dàng. Ðấy chính là điều được nói trong kinh, chứ chẳng phải chính tôi bịa ra. Nếu kinh Phật không chép thì dù một câu tôi cũng chẳng dám nói.
Ai hiểu được pháp môn Tịnh Ðộ? Quả vị Bồ Tát có năm mươi hai địa vị. Hàng Bồ Tát trước khi chứng quả trong Thập Ðịa, còn thuộc vào Hiền Vị, vẫn chưa hiểu được. Những vị nào đã chứng quả trong Thập Ðịa thì gọi là Thánh Vị, cũng chỉ hiểu được một nửa. Phải là thành Phật rồi mới có thể hiểu triệt để pháp môn Tịnh Ðộ. Chỉ có Phật với Phật mới hiểu thấu cùng tận. Mọi người nghe đến đây phải đặc biệt chú ý: Quý vị được nghe danh hiệu Phật, tu được pháp môn Tịnh Ðộ thì ắt là trong ngàn đời, vạn kiếp đã trồng đại thiện căn, làm đại thiện sự thì mới đạt được như vậy. Nhưng nếu đã biết pháp môn Tịnh Ðộ thù thắng thì phải dụng công tu trì, có tu mới thành công, không tu không thành công.
Có người chưa nghe nói đến Tịnh Ðộ, cũng chẳng hiểu Tịnh Ðộ là cái gì, tự mình chẳng biết, nếu miệng chẳng khích bác thì không tạo tội. Nhưng nếu chẳng hiểu Tịnh Ðộ là pháp khó tin, lại tự lầm tưởng mình là thông minh, hủy báng pháp môn Tịnh Ðộ thì là không được. Bởi lẽ, hủy báng Phật pháp chính là gây tội tam đồ, thế nhưng hủy báng pháp môn Tịnh Ðộ lại chính là tội Vô Gián địa ngục! Quý vị phải nên đặc biệt chú ý cẩn thận. Tịnh Ðộ Tông là pháp khó tin, rất sâu xa, chỉ mình đức Phật mới có thể hiểu triệt để. Ngoài ra, phải là hạng đã chứng Bát Ðịa Bồ Tát mới hoàn toàn tin nhận được thôi. Chúng ta chẳng hiểu, chẳng tin thì càng phải đặc biệt lưu ý, ngàn muôn phần chớ tạo tội nghiệp.
Nếu pháp môn Tịnh Ðộ chỉ riêng Phật với Phật mới có thể hiểu thấu tột cùng thì sao Ðức Phật lại đem pháp khó tin, khó hiểu này phổ biến, dạy chúng sanh tu trì? Tôi cũng chẳng đáp thông được, chỉ dẫn lời Phật để đáp. Hết thảy các pháp môn khác chung cục đều nhằm để thấu triệt bất sanh, bất diệt, liễu sanh thoát tử. Các tôn giáo trên toàn cầu tu đến mức cao nhất thì chỉ sanh lên trên trời, chỉ riêng mình Phật giáo có thể liễu sanh thoát tử. Nhưng nói chung tu các pháp môn trong nhà Phật đều phải chịu khổ lớn như thường nói: “Chẳng mắc ma nạn thì chẳng thành Phật”. Ða số người tu hành chẳng chịu nổi đại khổ, đấy là một điều khó khăn.
Hơn nữa, thời gian tu tập rất dài, chứng quả La Hán đã phải mất mấy ngàn năm. Phàm phu thọ mạng hữu hạn, trong mấy mươi năm làm sao chứng quả được? Lại phải tu tập từng bước, thành công thật chẳng dễ dàng gì.
Tịnh Ðộ tông tuy người người chẳng hiểu, nhưng có điều cực thuận tiện là vì: A Di Ðà Phật chính là vị Phật tiếp dẫn, thế giới Cực Lạc tuy cách xa mười vạn ức cõi Phật, A Di Ðà Phật phát nguyện đích thân đến tiếp dẫn. Trong mười phương tuy đều có Tịnh Ðộ, đều có Phật và Bồ Tát, nhưng chưa từng phát nguyện đến tiếp dẫn, mình có năng lực tu đạt đến đó thì tự mình đi về đó nên chẳng dễ thành tựu. Vãng sanh Cực Lạc thế giới thì có thể thành tựu ngay trong đời này. Ðời người ngắn ngủi mấy mươi năm, đầy đủ tư lương Tín Nguyện Hạnh, lâm chung chánh niệm phân minh, Phật liền cầm hoa sen đến tiếp dẫn. Ta liền ngồi lên hoa sen sanh về Cực Lạc thế giới, dứt sạch sanh tử, thật là thuận tiện quá sức. Ðiều này trong Tam Tạng kinh điển đã nói tường tận, tu pháp môn Tịnh Ðộ thù thắng là ở chỗ này.
Tu các pháp môn khác thì cần phải “Tín, Giải, Hạnh, Chứng”, hoàn toàn cậy vào tự lực, tu hành trong một thời gian dài. Tu pháp môn Tịnh Ðộ dù đạo lý chẳng dễ hiểu, nhưng chỉ cần Tín - Nguyện - Hạnh là có thể thành tựu. Nếu không thì đừng nói là tu hai, ba mươi năm chẳng hiểu được lý Tịnh Ðộ, dù có tu năm trăm năm cũng chưa chứng được quả La Hán, cũng vẫn chẳng hiểu được lý Tịnh Ðộ.
Kinh Hoa Nghiêm nói Bồ Tát phải tu hành qua các địa vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Ðạt đến Thập Hồi Hướng mới hiểu được Phật lý, mới hành bố thí triệt để được. Nhưng tu đến Thập Hồi Hướng phải mất hai đại A Tăng Kỳ kiếp, thực chẳng dễ chi! Nay tôi đối trước Ðức Phật thuyết pháp, nếu nói nhầm một câu thì chính là hủy báng Phật pháp, người thuyết pháp phải đọa địa ngục. Tôi đã hơn chín mươi sáu tuổi, còn đến đây tạo tội địa ngục làm gì? Tôi khùng như thế chăng? Nói tóm lại, Tịnh Ðộ Tông thật chẳng dễ giải thích, chẳng dễ hiểu gì.
Chúng ta đã phát tâm tu hành, nếu chẳng tu hành thành công thì chẳng đáng tiếc lắm sao? Muốn giải thích Tịnh Ðộ cho rõ ràng chẳng dễ dàng gì, từ Tổ Sư của Tịnh Ðộ Tông Trung Quốc là ngài Huệ Viễn đại sư đời Ðông Tấn cho đến ngài Ấn Quang đại sư thời Dân Quốc, những lời khai thị của các ngài đều xuất phát từ kinh Phật. Kinh Hoa Nghiêm là vua các kinh, là vua của cả Tam Tạng, thế mà trong phẩm cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Vì thế phải biết rằng: Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đều tu pháp môn Tịnh Ðộ, cầu sanh Cực Lạc thế giới. Kinh dạy: “Ly kinh nhất cú, tức thị ma thuyết” (nói sai khỏi kinh một câu, chính là ma nói). Kinh Pháp Hoa cũng dạy: “Y pháp bất y nhân” (nương theo pháp, chẳng nương theo người). Chúng ta tu Tịnh Ðộ nương theo lời Phật, có bằng chứng chân thật. Nếu không, dù ai có danh tiếng lớn lao đến đâu mà lời nói chẳng phù hợp với lời Phật, chúng ta cũng chẳng tin.
Vì sao Tịnh Ðộ Tông chỉ nói Tín - Nguyện -Hạnh mà chẳng nhắc đến Giải? Trong kinh cũng có thí dụ: Dù cho bậc trí huệ đệ nhất là ngài Xá Lợi Phất, khắp toàn thân đều có miệng, và lại có vô lượng vô biên Xá Lợi Phất trong vô lượng vô biên kiếp giảng giải đạo lý Tịnh Ðộ thì cũng chẳng thể giảng trọn hết. Tôi vốn chẳng có năng lực ấy, chỉ có một hai quyển kinh làm cơ sở, ngay cả kinh A Di Ðà tôi cũng còn hiểu chưa hết. Trong kinh ấy câu nào cũng đều là vô lượng vô biên bí quyết trọng yếu để tu hành. Vì vậy, muốn thoát sanh tử thì phải là kẻ đã liễu sanh tử mới chẳng đến nỗi lầm lạc. Tịnh Ðộ Tông lấy Tín - Hạnh - Nguyện làm cơ sở, chúng ta cứ chiếu theo đó mà hành. Phật là bậc đã liễu sanh tử, Phật dạy như thế nào, ta cứ tin như thế ấy, hành như thế ấy ắt sẽ thành công. Nếu tự lầm cậy mình thông minh, nhất định sẽ hiểu biết sai lạc vậy.
Trong Tín - Nguyện - Hạnh, Tín là gì?
Thứ nhất, tin rằng nếu không học Phật sẽ vĩnh viễn luân hồi trong lục đạo, chẳng được giải thoát. Bất cứ tôn giáo khác nào đều chẳng thực hiện được việc này.
Thứ hai, tin rằng học Phật thì phải mất ba đại a tăng kỳ kiếp mới có thể thành Phật. Chỉ có pháp môn Tịnh Ðộ trong thời gian ngắn liền có thể thành tựu ngay trong đời này. Cổ đức nói: “Vạn người tu vạn người đậu”. Kinh A Di Ðà dạy: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe kinh này mà thọ trì và nghe danh hiệu chư Phật thì các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm, đều được chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Ðấy chính là “vạn người tu, vạn người đậu”. Nhưng chúng ta ở đây dù niệm Phật dăm ba năm cũng chỉ là miệng niệm. Chỉ khi vãng sanh Tây Phương rồi thì nghe chim, cây phát ra tiếng bèn niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Lý thâm áo này phàm phu chẳng thể hiểu nổi, ngay cả bậc đã chứng Nhị Quả cũng không cách nào hiểu rõ. Chỉ nên tin chắc vào Thánh Ngôn Lượng chẳng nghi thì mới có thể thành công.
Thứ ba, tin sâu xa rằng chúng ta tu pháp môn Tịnh Ðộ, quyết định sẽ thành tựu trong đời này, quyết định “vạn người tu, vạn người đậu”.
Thứ tư, tin rằng lúc vãng sanh, A Di Ðà Phật nhất định đến trước mình tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc thế giới. Tin sâu rằng đã tu pháp môn Tịnh Ðộ thì phải chấp trì danh hiệu chẳng buông. Từ nay sanh lòng tin sâu xa chẳng nghi, đến chết cũng chấp trì danh hiệu chẳng buông, dù cho bom nguyên tử có rớt xuống cũng chấp trì chẳng bỏ thì mới thành công vậy.
Hiện giờ tôi thấy tình huống của quý vị rất tốt, rất phù hợp với những điều được dạy trong kinh A Di Ðà. Kinh dạy: “Ðều được chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Quý vị phước khí chẳng nhỏ, nhưng có mấy vị chưa nghe đến đây đã lui ra rồi, thật là đáng tiếc! Tôi rất lưu tâm đến điều này, bọn họ phước báo không nhiều, nhưng quý vị thì không giống vậy. Nếu nghe minh bạch thì đều có thể thành công bởi vì hạt giống Kim Cang đã rơi vào tám thức điền của mọi người. Do quý vị giữ tinh thần lắng nghe thì mới biết là quý vị đã được phước báo to như cõi trời, hạt giống ấy vĩnh viễn chẳng bị tiêu diệt. Ðiều khẩn yếu là hai chữ “bất thoái”, vĩnh viễn chẳng thoái thất. Nếu khéo công phu thì ngay trong đời này thành tựu. Nếu không thì sớm muộn gì hạt giống Kim Cang sẽ nảy mầm, lúc ấy chính là lúc quý vị thành tựu kết quả.
Tiếp đến là nói về Nguyện. Hiện tại mình học Phật rồi, đã biết có vô lượng vô biên Tịnh Ðộ. Nhưng chúng ta tu Tịnh Ðộ, phải phát nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là điều vĩnh viễn chẳng biến cải, chớ có ai nói gì cũng tin, chẳng thể sáng ba, chiều bốn. Dù cho có ai nói thế giới nào tốt đẹp ngàn vạn lần cõi Tây Phương, ta cũng chẳng trái bỏ ý niệm Phật lúc đầu. Dù cho ai dạy pháp môn nào hay hơn, lẹ làng hơn pháp môn Niệm Phật Vãng Sanh cũng vĩnh viễn chẳng biến cải. Có khí phách kiên định, nguyện thiết tha như thế thì nguyện ắt thành.
Nếu đã tu Tịnh Ðộ rồi lại đổi tu pháp khác tức là tu cả ba, bốn pháp môn thì không có pháp nào tu thành công hết. Ðã phát nguyện vãng sanh Tây Phương thiết tha rồi, đã có lòng tin rồi, đã có căn cứ rồi, bất luận là tình hình nào cũng vĩnh viễn chẳng biến cải thì ắt sẽ thành tựu.
Lại nói về Hạnh. Hạnh rất đơn giản. Kinh Ðịa Tạng, kinh Dược Sư, kinh Pháp Hoa, Tam Tạng mười hai bộ kinh đều hay cả, nhưng nếu vậy chẳng lẽ mỗi ngày tụng hết cả Tam Tạng mười hai bộ kinh sao? Muôn phần chúng ta chẳng nên dùng phàm để suy thánh, tưởng tâm Phật, tâm Bồ Tát giống như tâm phàm phu: nếu mình lễ bái vị này, không lễ bái vị kia, chỉ sợ đắc tội với vị kia. Ðấy thật là ngu si. Chúng ta có tâm phân biệt, chứ Phật chẳng hề có. Nếu chúng ta ngu si, niệm kinh này, niệm kinh kia thì không một ai trong một ngày niệm xong Tam Tạng mười hai bộ kinh được cả!
Tu Tịnh Ðộ cực giản dị, dù cho chẳng niệm kinh A Di Ðà, chỉ niệm Phật cũng được. Vạn đức hồng danh, bất luận là Nam Mô A Di Ðà Phật, hoặc bốn chữ A Di Ðà Phật, câu hồng danh này bao hàm vô lượng vô biên danh hiệu Phật. Bởi lẽ A Di Ðà Phật chính là Pháp Giới Tạng Thân, niệm một câu Phật cũng như niệm hết thảy Phật.
Hơn nữa, chữ A trong A Di Ðà Phật chính chữ thứ nhất trong Hoa Nghiêm Tự Mẫu của kinh Hoa Nghiêm. Thế Tôn cuối đêm thấy sao Mai, kiến tánh thành Phật, liền quán tưởng chữ A. Không có chữ A này thì cũng chẳng có Tam Tạng mười hai bộ loại kinh điển. Câu A Di Ðà Phật này cũng chưa được phiên dịch, vì hàm tàng nhiều ý nghĩa. Chỉ lấy một câu danh hiệu Phật này, già giặn, chắc thật niệm đến khi Nhất Tâm Bất Loạn ắt sẽ nhất định thành công, chẳng cần phải niệm nhiều thứ khác. Vì thế, lúc niệm Phật đừng nghĩ đến vọng niệm nào khác. Vọng niệm khác là Ma, ta dùng câu Phật hiệu này để trừ khử nó. Như vậy mới có thể đạt tịnh niệm tiếp nối.
Hơn nữa, về Chánh Trợ Song Tu thì thật sự ra, đối với Trợ Pháp cũng chẳng cần phải làm gì khác, chỉ cốt sao đối với một câu danh hiệu Phật này, Nhất Tâm niệm Phật thì chánh lẫn trợ đều bao gồm trong ấy. Nhưng chúng ta còn là phàm phu, vẫn chưa đạt được công phu ấy. Thực ra, Nhất Tâm niệm Phật thì kinh, Phật, chú đều gộp cả trong đó, chỉ sợ bọn ta chẳng được thành tâm như thế. Nếu thành tâm niệm Phật thì Tam Tạng mười hai bộ kinh đều nằm trọn trong ấy.
Ðối với Trợ Hạnh Công Phu, nếu chúng ta chưa biết làm lành thì cũng chẳng khẩn yếu lắm, chỉ cần “các điều ác đừng làm” thì cũng được. Niệm Phật thì chẳng tạo ác. Lúc chúng ta niệm Phật A Di Ðà, chúng ta chính là Phật A Di Ðà. Phật chính là tâm, tâm chính là Phật. Chẳng được một mặt niệm Phật, một mặt tạo nghiệp. Nếu như niệm Phật mà lại còn gây các tội nghiệp giết chóc, dâm dục, trộm cắp, uống rượu v.v... thì chính là báng Phật, công hiệu của việc niệm Phật bị giảm thiểu. Chỉ cốt sao đừng tạo nghiệp, già giặn, chắc thật niệm một câu A Di Ðà, lại đừng làm các điều ác. Tu pháp môn Tịnh Ðộ như thế nhất định thành công.
Khi đến giảng trong Phật thất, tôi vốn thường giảng nói sao cho người tham gia đắc Nhất Tâm, nhưng thấy mấy năm nay, có nhiều người thoái chuyển. Thế nên hôm nay, tôi nói nhiều về giáo lý, hiểu rõ giáo lý thì mới biết rõ nên dụng công thế nào để được Nhất Tâm. Tôi nói bài kệ để khích lệ chung:
“Tịnh Tông tư lương Tín Nguyện Hạnh” (Tư lương của Tịnh Ðộ tông là Tín Nguyện Hạnh): Tịnh Ðộ tông tu hành vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì phải chuẩn bị đủ ba thứ tư lương “tin sâu, nguyện thiết, hạnh mạnh mẽ”. Tín Nguyện Hạnh giảng ra có vô lượng vô biên pháp, hôm nay tôi giảng những điều cực giản yếu.
“Nhị lực cảm giao công thỉ thành” (Hai lực cảm ứng đạo giao thì mới thành công): Phàm là muốn được thành công, tu các tông khác phải dựa vào chính sức mình, tu dần từng bước mới có thể thành công. Hễ dùng sức sai một phân thì chẳng thể thành công. Tịnh Ðộ tông bất tất phải như thế, sức lực chủ yếu là sức của Phật A Di Ðà, mình chỉ đổ ra ít sức. Mình chỉ cần buông xuống vạn duyên, niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn, những việc gì khác đều không bận tâm đến. Những gì khác đều coi là do sức của Phật A Di Ðà, thế giới Cực Lạc là do Phật A Di Ðà trang nghiêm thành. Lúc chúng ta lâm chung, Phật đích thân tự cầm hoa sen đến tiếp dẫn sanh về thế giới ấy. “Trang nghiêm cõi Phật, tiếp dẫn vãng sanh” đều do sức của Phật, chúng ta chỉ việc niệm Phật sao cho đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn. Ðấy là những điều được minh thị trong kinh. Có cả Phật lực lẫn tự lực như thế ắt sẽ thành công.
“Kinh văn tối trọng Ðồng Cư Ðộ” (cõi được kinh văn chú trọng nhất là Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ): thế giới Cực Lạc chia làm bốn cõi (Phàm Thánh Ðồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo Trang Nghiêm và Thường Tịch Quang). Trong kinh A Di Ðà có đủ cả bốn cõi, nhưng cõi được coi là trọng yếu nhất chính là cõi Phàm Thánh Ðồng Cư. Bọn phàm phu chúng ta chưa đoạn được một phẩm vô minh nào, không phương cách nào sanh về Tịnh Ðộ. Nhưng thế giới Cực Lạc chính là “Tha Thọ Dụng Tịnh Ðộ”, giống như một căn nhà tốt, chẳng phải chỉ để riêng mình sử dụng mà còn phải nhượng cho mọi người đều được sử dụng.
Tu hành đoạn Hoặc mới thoát khỏi luân hồi. Phàm phu không cách gì thoát luân hồi, chỉ có được Phật A Di Ðà trong Cực Lạc thế giới tiếp dẫn thì mới có thể thoát sanh tử luân hồi, dù vãng sanh Cực Lạc thế giới nhưng vẫn là phàm phu. Vì thế, trong kinh A Di Ðà, chư Phật trong sáu phương xuất hiện để chứng thực những điều đã được nói trong phần kinh văn trước đó đều là cảnh giới của phàm phu, là cõi Phàm Thánh Ðồng Cư.
Dựa theo thế giới Sa Bà đây mà nói thì phía dưới trời Sắc Giới là trời Lục Dục, vẫn có nam nữ, ăn uống cũng như chuyện ăn ở. Nhưng trong kinh A Di Ðà cũng nhắc đến ăn ở thì đấy cũng là cảnh giới của phàm phu chưa đoạn Hoặc. Vì thế, chúng ta Nhất Tâm niệm Phật, dù chưa đoạn Hoặc cũng vẫn được vãng sanh Cực Lạc Tịnh Ðộ. Sau khi vãng sanh sẽ làm người hoặc là làm trời, nhưng vẫn là phàm phu, chưa có quả vị, nên phải thuộc về Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ.
Vì thế, ở trong cõi Sa Bà này, chưa đoạn Hoặc mà có thể vãng sanh Cực Lạc thì thuộc về Hoành Siêu (vượt khỏi luân hồi theo chiều ngang), sanh sang cõi Phàm Thánh Ðồng Cư của thế giới Cực Lạc. Từ đó lại sanh lên cõi Thường Tịch Quang cũng là Hoành Siêu. Ðạo lý này thâm áo chẳng dễ hiểu nổi được, chúng ta cứ tin vào Thánh Ngôn Lượng là đủ. Bởi thế, kinh văn chú trọng nơi Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ, chuyên tiếp độ phàm phu chưa đoạn Hoặc vãng sanh.
“Ðản đắc phục Hoặc tiện vãng sanh” (chỉ chế phục được Hoặc thì liền vãng sanh): Nhất Tâm Bất Loạn cũng là điều được nhắc đến trong kinh A Di Ðà. Nhưng phải đoạn Hoặc mới đạt nổi Nhất Tâm Bất Loạn. Ðoạn Hoặc vãng sanh thì liền sanh vào Thượng Phẩm. Nhưng số người chưa đoạn Hoặc chiếm đa số. Ngay như tôi đây, chẳng biết đời trước thế nào, chứ đời này tôi tu tập suốt sáu mươi năm vẫn chưa đoạn nổi một phẩm vô minh nào. Ðây là lời thành thật, chẳng những tôi không có thần thông mà quỷ thông cũng không có luôn. Phải nhớ là dù có thần thông vẫn không tránh khỏi luân hồi lục đạo, không cách nào liễu sanh tử.
Bây giờ nói đến chuyện làm sao đắc Nhất Tâm? Chúng ta không có cách nào đoạn Hoặc để đắc Nhất Tâm, chỉ có thể chế ngự được Hoặc mà thôi. Ngay lúc vọng niệm của chúng ta nổi lên tơi bời thì lập tức dùng một câu Phật hiệu chèn ép nó, dù chèn ép được Hoặc nhưng Hoặc vẫn chưa đoạn. Ðến lúc lâm chung, do thường ngày hễ vọng niệm nổi lên bèn lập tức dùng Phật hiệu chế ngự, đè nén, nên lúc lâm chung cũng giống hệt như vậy. Lúc ấy Phật hiệu khởi lên thì bèn được Phật đến tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh. Chuyện đới nghiệp vãng sanh này trong kinh A Di Ðà, kinh Vô Lượng Thọ đều ngầm nói hoặc nhắc đến rõ ràng. Do chưa đoạn Hoặc, nhưng dùng Phật hiệu để chế ngự nó, được vãng sanh, nên gọi là “đới nghiệp vãng sanh”.
Vì thời gian đoạn Hoặc rất lâu chẳng thể nhất thời thực hiện được, nay tu pháp môn Tịnh Ðộ, hễ vọng niệm vừa khởi bèn nghĩ “hễ cái gì có hình tướng thì đều là hư vọng”, tức là dùng Chân Như Phật Tánh chế ngự vọng niệm. Chân Như Phật Tánh tức là một câu “A Di Ðà Phật”. Dùng Phật hiệu chế ngự Hoặc thì sẽ được Phật tiếp dẫn, đới nghiệp vãng sanh, đến Tây Phương rồi mới đoạn Hoặc. Vì thế, nay chỉ nói là “cầu vãng sanh”.
Nói đã dài rồi, sợ mất thời gian quý vị dụng công, mang lỗi với mọi người. Giờ đây quý vị lại niệm Phật, chế ngự Hoặc. Kính xin chư vị buông xuống vạn duyên, thiện duyên, ác duyên đều buông xuống hết, cứ một câu A Di Ðà mà niệm mãi.
(1) Ý nói: Sau khi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch thua mất Hoa Lục vào tay Mao Trạch Ðông, phải chạy ra Ðài Loan.
(2) Kiền chùy (Ghanta): còn gọi là Kiền Trì, Kiền Trĩ, Kiền Ðể, là các khí cụ dùng để đánh báo hiệu trong tự viện như chuông, khánh, linh, bảng, mõ v.v... Ở đây ý nói, chuông, trống và địa chung dùng để tán Phật và niệm Phật trong Phật Thất.
(3) Tuyết Tăng: Tuyết Tăng là một trong những biệt hiệu của cụ Lý Bỉnh Nam.
(4) Ða tài quỷ: loài quỷ có nhiều tiền của, thức ăn.
(5) Cửu giới: Chín giới bao gồm: nhân, thiên, a tu la, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.